Đặc điểm ngôn ngữ mạng của sinh viên nhìn từ bình diện cấu trúc (Qua một sỗ diễn đàn)

No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.83-89  
DOI:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ MẠNG CỦA SINH VIÊN NHÌN  
TỪ BÌNH DIỆN CẤU TRÚC (QUA MỘT SỖ DIỄN ĐÀN)  
TS. Nguyễn Thị Hồng Chuyên1*; SV. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa1 ; SV. Bùi Thị Mai Hương1  
1Trường Đại học Tân Trào  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Bài báo dựa trên các lí luận liên quan đến phương ngữ xã hội và ngôn ngữ  
mạng; sinh viên và bối cảnh văn hoá để tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ mạng của  
sinh viên (SV) từ bình diện cấu trúc ở các khía cạnh như: tiếng lóng, chêm xen  
ngôn ngữ thứ hai trong tương tác, kết cấu mới. Từ kết quả nghiên cứu, chúng  
tôi nhận định: Ngôn ngữ mạng của SV trên bình diện cấu trúc thể hiện sự năng  
động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của tuổi trẻ và sự vận động của thời đại  
được thể hiện qua ngôn ngữ của sinh viên.  
Ngày nhận bài:  
29/6/2020  
Ngày duyệt đăng:  
20/9/2020  
Từ khóa:  
ngôn ngữ mạng, sinh viên,  
bình diện cấu trúc, diễn  
đàn.  
1. Đặt vấn đề  
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất  
của con người. Cùng với sự phát triển, biến đổi của văn  
hoá xã hội và thời đại, ngôn ngữ cũng không ngừng  
biến đổi theo để thực hiện chức năng của mình.  
công nghệ 4.0 và điều kiện vật chất của người dân  
được cải thiện rõ rệt, việc sử dụng các thiết bị công  
nghệ tiến tiến và những kênh truyền thông đa phương  
tiện ngày càng phổ biến. Đây là nhân tố tạo nên các  
cộng đồng ảo với tốc độ truyền tin cực lớn và điều  
này kéo theo sự biến đổi sâu sắc tiếng Việt.  
Trong bối cảnh hội nhập diễn ra mạnh mẽ và sự  
bùng nổ của khoa học công nghệ, tiếng Việt trong sử  
dụng đang có sự biến đổi sâu sắc trên nhiều phương  
diện từ hình thức từ ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa,  
ngữ dụng. Sự biến đổi đó không đồng nhất giữa các  
vùng miền, các đối tượng. Vì vậy, tạo nên rất nhiều  
các phương ngữ xã hội (PNXH) khác nhau. Hiện nay,  
một trong những kiểu PNXH được nhắc đến trong  
tiếng Việt là phương ngữ theo tuổi tác mà ngôn ngữ  
của giới trẻ được chú ý nhiều nhất. Trong ngôn ngữ  
của giới trẻ, chúng tôi quan tâm đến ngôn ngữ của  
sinh viên – đây là nhóm có số lượng đông, nhanh  
nhạy với cái mới, thích khám phá, ưa tìm tòi, sáng  
tạo nên luôn tạo ra những trào lưu xã hội mới.  
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi tìm hiểu đặc  
điểm ngôn ngữ mạng của sinh viên từ bình diện cấu  
trúc gồm: tiếng lóng, chêm xen ngôn ngữ thứ hai  
trong tương tác, kết cấu mới.  
Nguồn tư liệu được chúng tôi xác định là một số  
diễn đàn của sinh viên như: sinhvienfanpage;  
KenhSV.vn; hoisinhvien.com.vn; vnu.ulis; Đoàn-  
thanh-niên-Hội-sinh-viên-trường-Đại-Học-Tân-Trào;  
honghotsinhvien.  
2. Nôi dung nghiên cứu  
2.1. Một số vấn đề lí luận liên quan  
2.1.1. Phương ngữ xã hội và ngôn ngữ mạng  
Mạng xã hội là một trong những kênh truyền  
thông phục vụ cho đời sống của xã hội. Ngày nay,  
dưới sự phát triển mạnh mẽ của thời kì Cách mạng  
Phương ngữ xã hội (PNXH) là một trong những  
nội dung quan trọng của Ngôn ngữ học xã hội. Theo  
Fasol (1990), PNXH là những cách nói năng của các  
nhóm dân cư cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh  
tế, thuộc cùng một giai tầng xã hội, cùng thế hệ, tuổi  
tác, đẳng cấp tôn giáo [1]. Tác giả Nguyễn Văn  
Khang quan niệm PNXH là sản phẩm ngôn ngữ của  
nhóm xã hội. Các nhân tố xã hội như: tuổi tác, giới  
tính, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, thành phần xuất  
thân,…có tác động trực tiếp và tạo nên các đặc điểm  
ngôn ngữ trong sử dụng. Hay, PNXH là các biến thể  
ngôn ngữ theo nhóm xã hội trong sử dụng ngôn ngữ.  
[2, tr. 214]  
đến 25 (độ tuổi bắt đầu bước vào chương trình cao  
đẳng hoặc đại học cho đến khi tốt nghiệp). Do phạm  
vi tương tác và nhận thức ở giai đoạn này có sự biến  
đổi mạnh nên SV là nhóm xã hội luôn có sự biến  
động theo hướng: tiếp thu các tinh hoa, kiến tạo các  
tri thức mới, mang trong mình sứ mệnh kế thừa và  
phát triển dân tộc. Tuy nhiên, do sự biến động này  
SV chưa có được các bản sắc, tính bền vững, ổn định.  
Đặc biệt, nhóm xã hội là sinh viên được tập hợp do  
tiêu chí độ tuổi chi phối nên làm cho nội nhóm có sự  
phân hoá về: xuất thân, giới tính, trình độ học vấn,  
tôn giáo, phong tục tập quán,… Như vậy, sinh viên là  
nhóm xã hội có tính phức hợp cao và chịu tác động  
của rất nhiều các nhân tố xã hội.  
Như vậy, có thể hiểu PNXH là các biến thể ngôn  
ngữ của nhóm xã hội dưới tác động của các nhân tố  
xã hội như: tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, trình độ  
văn hoá,… Trong bài viết, chúng tôi quan niệm, ngôn  
ngữ mạng của sinh viên là một biến thể ngôn ngữ của  
nhóm sinh viên trong tiếng Việt hiện nay.  
Trong dòng chảy chung của nền văn hoá dân tộc,  
văn hoá thanh niên (trong đó có sinh viên) là một  
trong những bộ phận nổi trội bởi trong đời sống xã  
hội, văn hoá thanh niên luôn dẫn đầu các trào lưu,  
hiện tượng mới mẻ, tạo ra các giá trị lệch chuẩn  
truyền thống và thường gây xung đột, tranh cãi. Sinh  
viên nói riêng và thanh niên nói chung trong thời kì  
hội nhập sâu và rộng như hiện nay lối tư duy, hành  
động, cách thể hiện khác thế hệ trước rất nhiều; đôi  
khi họ cố tình tạo ra, làm trái với quy luật thông  
thường để thể hiện mình.  
“Ngôn ngữ mạng là ngôn ngữ đặc thù của  
phương ngữ cá nhân của các cư dân mạng và của  
cộng đồng mạng nói chung, từng cộng đồng mạng cụ  
thể nói riêng” [3]. Điều đáng lưu ý, mặc dù là  
phương ngữ cá nhân của các cá nhân với phong cách  
riêng nhưng ngôn ngữ mạng lại được “xã hội hoá”  
thông qua mạng xã hội (Fb, Sky, Zalo, Twitter,…) và  
thoại trường giao tiếp của ngôn ngữ mạng đặc biệt –  
thế giới “ảo”.  
Như vậy, dựa trên các cơ sở lí luận vừa nêu,  
chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại và  
miêu tả các đặc điểm của ngôn ngữ mạng của sinh  
viên trên một số diễn đàn  
Trong bài viết, chúng tôi quan niệm, ngôn ngữ  
mạng của sinh viên là một biến thể ngôn ngữ của  
nhóm sinh viên trong tiếng Việt hiện nay.  
2.2. Kết quả khảo sát thông kê  
2.1.2. Sinh viên và bối cảnh văn hoá của sinh viên  
Từ phạm vi tư liệu được xác định là một số diễn đàn  
của sinh viên như: sinhvienfanpage; KenhSV.vn;  
hoisinhvien.com.vn; vnu.ulis; Đoàn-thanh-niên-Hội-  
sinh-viên-trường-Đại-Học-Tân-Trào; honghotsinhvien,  
chúng tôi tiến hành khảo sát ngữ liệu.  
Theo quy định của Quốc hội nước Cộng hòa xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam tại Luật Giáo dục đại học  
(2012), quy định “người đang học tập và nghiên cứu  
khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, gồm sinh viên  
của chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình  
đào tạo đại học” [4]. Có thể hiểu, sinh viên là người  
đang học tập và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở  
giáo dục đại học đào tạo chương trình cao đẳng,  
chương trình đại học.  
Tiêu chí xác định ngôn ngữ mạng của sinh viên là  
ngôn ngữ do nhóm xã hội sinh viên sử dụng trong  
các diễn đàn lựa chọn trên và được phân loại theo 3  
nhóm: 1/ là tiếng lóng (từ ngữ lóng); 2/ chêm xen  
ngôn ngữ thứ hai trong tương tác (ngoại ngữ, tiếng  
mẹ đẻ - đối với SV người dân tộc thiểu số); 3/ các kết  
cấu mới lạ.  
Từ quy định trên, trong bài viết chúng tôi xác  
định: sinh viên là những người đang theo học tại các  
trường đại học, cao đẳng; có độ tuổi khoảng từ 18  
Bảng 1. Bảng khảo sát và phân loại các hình thức của ngôn ngữ mạng của sinh viên  
Tiêu chí  
Số lượng  
Tỉ lệ (%)  
Ví dụ  
Ngữ liệu  
xác định  
giờ cao su, a cay, vãi, khủng, - Sư phụ chỉ em bài này  
chuối, rụng tim, thánh, sư phụ, với!  
Tiếng lóng  
97  
ngáo, lầy, vãi chưởng, ngỗng,  
cúp giờ, nhảy tiết, Pà cô, tám,  
đầu nhá.  
phê lòi,…  
48.5%  
- Chiều nay nhảy hai tiết  
(từ ngữ lóng)  
- Bài hôm nay chuối quá.  
N.T.H.Chuyen et al/ No.18_Oct 2020|p.83-89  
Tiêu chí  
Số lượng  
Tỉ lệ (%)  
Ví dụ  
Ngữ liệu  
xác định  
sorry, no, clip, miss, team, - Vào cày view cho idol đi  
style, book, inbox, book, chat, các bạn ơi.  
Chêm xen  
72  
36%  
cute, thank you, hotgirl,  
- Iu và nhớ team nè.  
ngôn ngữ thứ 2  
hotboy, drama, view, idol,…  
- Sorry chị!  
Tay nhanh hơn não, não quên ở - Đọc kĩ thông báo! Tay  
nhà, trượt vỏ chuối, diện kiến nhanh hơn não à?  
trưởng khoa, ảo tưởng sức  
- Không học mà đòi A! Ảo  
Kết cấu mới  
mạnh, ngất trên cành quất,…  
31  
15.5%  
tưởng sức mạnh quá.  
- Qua thằng Hoàng được  
diện kiến trưởng khoa  
đấy.  
Tổng số  
200  
100%  
Dựa theo bảng 1, chúng tôi đưa ra một số nhận  
định:  
số các từ ngữ thu được, có những từ ngữ có tần số  
xuất hiện lớn, trở thành tín hiệu nhận diện cho biến  
thể ngôn ngữ này như: lầy (10 lần), vãi chưởng (8  
lần), ngáo (8 lần), chuối (7 lần), tám (6 lần),…  
- Tổng số ngữ liệu thu được là 200, trong đó: 1/  
tiếng lóng (từ ngữ lóng) có 97/200 đơn vị, chiếm  
48.5%; 2/ chêm xen ngôn ngữ thứ hai có 72/200 đơn  
vị, chiếm 36%; 3/ Kết cấu mới 31/200 đơn vị, chiếm  
15.5%.  
a) Về ngữ âm – cấu tạo  
Tiếng lóng của SV được hình thành từ nhiều con  
đường khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết,  
chúng tôi trình bày 3 con đường chính:  
- Số lượng đơn vị là tiếng lóng chiếm số lượng  
lớn nhất trong các nhóm còn lại đã phản ánh mục  
đích, thái độ, đặc trưng của nhóm SV. Hay, tiếng  
lóng là đặc trưng của ngôn ngữ nhóm SV; đồng thời,  
thể hiện tính năng sản của ngôn ngữ. Số lượng các từ  
chêm xen chiếm số lượng thứ 2, điều này phản ánh  
sự tương tác của xã hội diễn ra đa chiều. Trong giao  
tiếp, SV bên cạnh việc sử dụng tiếng Việt còn sử  
dụng tiếng dân tộc thiểu số của mình và ngoại ngữ  
(Tiếng Anh). Nhóm kết cấu mới lạ chiếm số lượng ít  
nhất bởi khả năng kết hợp các đơn vị ngôn ngữ tạo  
thành kết cấu hạn chế.  
Thứ nhất, biến đổi những đơn vị có sẵn trong  
tiếng Việt. Đây là con đường tạo từ chủ yếu mà SV  
dùng. Các hình thức biến đổi gồm: biến đổi hình thức  
ngữ âm; biến đổi ngữ nghĩa.  
Biến đổi hình thức ngữ âm được chia thành: 1/  
Biến đổi một phần âm tiết như: ngâm cứu (nghiên  
cứu), khoai (khó), túm lại (tóm lại), buôn (ngồi lê đôi  
mách), Gia Cát Dự (dự đoán),…; 2/ Đồng âm khác  
nghĩa: đảo ngói (đảo ngôi tóc), bồng bềnh (béo), Pà  
cô (cô giáo), buôn (ngồi lê đôi mách), …; 3./ Nói lái:  
chống lầy, hại điện, bật mí, xịn xò, … Ví dụ:  
2.3. Đặc điểm ngôn ngữ mạng của sinh viên xét  
từ bình diện cấu trúc  
(1) - Đợt tới đi tình nguyện chứ?  
- Ngâm cứu đã.  
2.3.1. Tiếng lóng  
(2) Đề thi năm nay khoai quá !  
Tiếng lóng là một trong những đặc trưng của  
ngôn ngữ nhóm SV. Tiếng lóng là sản phẩm đặc thù  
của mỗi nhóm xã hội và được tạo nên từ “vật liệu” là  
từ ngữ lóng. Đối với nhóm xã hội là SV, tiếng lóng  
được xác định là các từ ngữ được các cá nhân trong  
nhóm sử dụng trong nội nhóm, thể hiện phong cách  
và ngôn ngữ của nhóm.  
Biến đổi nghĩa để tạo nên tiếng lóng của SV. Các  
các biến đổi nghĩa như: 1/ cấp thêm nghĩa mới cho  
từ: gấu (nguyên nghĩa: thú ăn thịt cỡ lớn, đuôi cộc, đi  
bằng bàn chân, thường trèo cây ăn mật ong/ hung dữ  
và hỗn láo – nghĩa chuyển: người yêu), hột me  
(nguyên nghĩa: hạt của quả me – nghĩa chuyển: ý  
thức kém), não phẳng (nguyên nghĩa: não (khối tập  
trung các thần kinh trung ương nằm trong sọ không  
thành nếp), phẳng (bề mặt bằng, đều, không lồi lõm)  
– nghĩa chuyển: ý thức kém), K (nghìn),…; 2/ thu  
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi xác định 97 từ ngữ  
lóng, tiêu biểu như: giờ cao su, a cay, vãi, khủng,  
chuối, rụng tim, thánh, ngáo, lầy, vãi chưởng, ngỗng,  
cúp giờ, Pà cô, tám, phê lòi, ccmnr, FA, ib, … Trong  
N.T.H.Chuyen et al/ No.18_Oct 2020|p.83-89  
hẹp nghĩa gốc: bá đạo (nguyên nghĩa: chính sách của  
Từ lóng “trâu” có các nghĩa như sau:  
kẻ dựa vào vũ lực, hình phạt, quyền thế mà thống trị  
ở thời phong kiến Trung Quốc cổ đại – nghĩa chuyển:  
tính chất hay, hấp dẫn, độc đáo với mức độ cao),  
khủng (nhiều hơn mức bình thường – học bổng  
khủng), tiến bối (người đi trước),… Ví dụ:  
(9) Ngày xưa trẻ trâu vãi. (trẻ trâu = trẻ chăn trâu)  
(10) Năm thứ 3 rồi mà còn hành động vậy. Trẻ  
trâu. (trẻ trâu = hành động nông nổi, bồng bột.)  
(11) Oài! trâu! (trâu = khoẻ)  
- Tính biểu thái của từ ngữ lóng của sinh viên là ý  
nghĩa biểu hiện thái độ vui tươi, hài hước, dí dỏm bởi  
đặc điểm tuổi tác, thái độ của SV quy định. Ví dụ: le  
vồ, ô sờ kê, ai lớp viu, xì tin, gấu, ngáo, tỉnh tò, tự  
sướng, hạt dẻ, đá,… Tính biểu thái được tạo ra bởi  
nhiều lí do: do hiện tượng chêm xen tiếng Anh hoặc  
do sự liên tưởng giữa nghĩa gốc và nghĩa lóng. Ví dụ:  
(3) Cố lên! Học bổng khủng thế cơ mà.  
Thứ hai, tạo từ mới. Đây là cách giới trẻ sử dụng  
những vật liệu và phương thức tạo từ vốn có của  
tiếng Việt để tạo nên từ ngữ mới. Ví dụ: bồ kết  
(thích), vã (muốn), cúp giờ (trốn học), ngáo (không  
hiểu), quẩy (chơi), bựa/ nhây (không dứt khoát), thả  
thính/ rắc thính (tán gán/ trai), đu đưa (đi chơi), …  
Ví dụ:  
(12) - Tối nay đi chơi nha?  
- Ô sờ kê nhá!  
(4) Thi xong rồi! Quẩy thôi chiến hữu ơi!  
(13) – Hộ tao tí?  
Thứ ba, vay mượn từ ngoại lai. Đây là con đường  
vay mượn các đơn vị từ vựng lẫn cách thức cấu tạo từ  
ngoại lai. Những đơn vị từ vựng này hoàn toàn không  
có trong tiếng Việt toàn dân. Chẳng hạn: G9, F5, @,  
soái ca, soái tỷ, tiền bối,… Ví dụ:  
- Hộ gì?  
- Vào gánh Team hộ tao. Tao đi vệ sinh.  
2.3.2. Chêm xen ngôn ngữ thứ hai trong tương tác  
Hiện tượng chêm xen ngôn ngữ thứ hai là hiện  
tượng sử dụng các tư ngữ ngoài tiếng Việt. Hiện  
tượng này xuất hiện phổ biến trong xu thế hiện nay  
việc học tập tiếng Anh là bắt buộc đối với sinh viên.  
Đồng thời, với các SV là người dân tộc thiểu số hoặc  
sống trong vùng DTTS, hoặc biết tiếng DTTS có thể  
sử dụng chêm xen tiếng dân tộc mình trong giao tiếp.  
Đặc điểm chêm xen ngôn ngữ thứ hai trong tương tác  
ngày càng mở rộng phạm vi do hiện nay xu hướng  
người đa ngữ, cộng đồng đa ngữ đang ngày càng mở  
rộng phạm vi. Trong bài viết, chúng tôi trình bày về  
hiện tượng chêm xen tiếng Anh trong tương tác của  
SV và đồng thời ghi nhận 72 lượt từ ngữ là tiếng Anh.  
(5) Ngày mai thi tốt! G9!  
(6) Soái ca khoa mình có người yêu rồi! Tiếc quá!  
b) Về ngữ nghĩa  
Tiếng lóng của SV là một hình thức biểu hiện đặc  
sắc và điển hình về bình diện ngữ nghĩa, thể hiện:  
tính đa nghĩa, tính biểu thái.  
- Tính đa nghĩa là một hiện tượng phổ quát của  
nhiều ngôn ngữ và tiếng Việt cũng mang đặc tính  
này. Xem xét tính đa nghĩa của các từ ngữ khảo sát,  
chúng tôi quan niệm: các từ ngữ lóng có nhiều hơn  
một nghĩa và các nghĩa có liên quan với nhau. Kết  
quả cụ thể:  
a) Về đặc điểm ngữ âm  
+ Đa nghĩa do phái sinh nghĩa lóng từ nghĩa gốc:  
nai, gấu, gạch đá, ngon, lúa, lầy, nhọ, đặc sản,…  
Hình thức tiếng Anh được SV chêm xen trong  
giao tiếp thể hiện ở hai dạng: 1/ viết đúng theo hình  
thức chuẩn của tiếng Anh; 2/ viết theo các phỏng âm  
của người Việt, cụ thể:  
Đây là nhóm từ ngữ lóng có số lượng lớn. Lí do,  
nhóm này được hình thành từ đơn vị có sẵn và được  
chuyển đặc điểm nào đó trong nghĩa để tạo nên từ  
ngữ lóng. Nói cách khác, đây là nhóm được hình  
thành do sự chuyển nghĩa và chủ yếu là bằng hai  
phương thức ẩn dụ và hoán dụ. Chẳng hạn: săn/ săn  
học bổng, phao, ruột mèo, cửa, tủ,… Ví dụ:  
+ Hình thức viết theo đúng chuẩn tiếng Anh  
như: Ok, thanks, style, video call, team, book, nail,  
ship, sale, hotboy, hotgirl, inbox, hot, simple love,  
baby, like, share, makeup, game, idol, event, page,  
… Ví dụ:  
(7) Năm tới săn lấy vài ba cái học bổng là ok.  
(8) Làm cho tao bộ ruột mèo nhá.  
(14) Style chống liệt môn Sinh.  
(15) Share cỏ bốn lá để may mắn trong kì thi  
sắp tới.  
+ Đa nghĩa lóng tức là tự thân nghĩa lóng gồm  
nhiều nét nghĩa khác nhau ngoài nghĩa gốc, chẳng  
hạn: trâu, xoắn, ảo, nóng, đơ, hàng, chảnh, pin trâu,  
A Phủ,… Ví dụ:  
(16) thui thì sn này chắc video call thì kp quà cáp  
gì nữa uyên nhỉ.  
N.T.H.Chuyen et al/ No.18_Oct 2020|p.83-89  
+ Hình thức viết tiếng Anh theo cách phát âm của  
đó chính là sự phá vỡ các quy tắc cấu tạo lẫn đặc  
điểm nghĩa biểu hiện so với các quy tắc truyền thống.  
Tuy vậy, tính phá vỡ quy tắc lại được chế định và  
mang lại tính ổn định cho các kết cấu mới là bởi kết  
cấu được tổ chức tương đối ổn định và theo các  
phương thức riêng. Theo kết quả khảo sát có 31 kết  
cấu mới lạ như: tay nhanh hơn não, nhỏ mà có võ,  
não quên ở nhà, trượt vỏ chuối, diện kiến trưởng  
khoa, ảo tưởng sức mạnh, ngất trên cành quất, tuyệt  
cú mèo, bao phê bao ngầu, thích là nhích, xấu như  
gấu, ngon lành cành đào, rảnh rỗi sinh nông nổi, tủ  
đè mất xác, bó tay chấm com, nhìn đề câm nín, chân  
dài não ngắn, …  
người Việt, chẳng hạn: thanh kiu (thanh you), ồ dế  
(ok), xì tin/ sờ tai (style), hót gơ (hotgirl), hót boi  
(hotboy), nét (net), đờ ra ma (drama), nâu nâu (no  
no), búc (book), chệch in (check in), gu gồ (google),  
phây (face),… Ví dụ:  
(17) Thanh kiu em yêu! (Thanh kiu = Thank you)  
(18) Dạo này lắm đờ ra ma thế. (đờ ra ma –  
drama)  
b) Về đặc điểm từ loại  
Các từ ngữ lóng mượn từ tiếng Anh chủ yếu ở các  
từ loại như: danh từ/ cụm danh từ, động từ/ cụm động  
từ, tính từ/ cụm tính từ. Chẳng hạn: link, email,  
camera, order, ship, hot, cute, comment, I love you,  
action,… Ví dụ:  
a) Về đặc điểm ngữ âm  
Các kết cấu mới lạ được cấu tạo đặc biệt và tạo  
nên các đặc điểm ngữ âm riêng khác. Các cách thức  
cấu tạo của kết cấu mới lạ về mặt ngữ âm gồm các  
phương thức như sau: phương thức hiệp vần, phương  
thức cải biên, phương thức vay mượn, phương thức  
sáng tạo mới.  
(19) Các bạn sinh viên sẽ action thế nào khi rơi  
vào hoàn cảnh này?  
(20) Cho tớ xin cái link.  
(21) I love you. Chiu chiu.  
c) Về đặc điểm ngữ nghĩa  
- Phương thức hiệp vần là phương thức sử dụng  
sự bắt vần trong ngôn ngữ để tổ chức lời nói ở cấp độ  
trên từ mà không lặp lại cấu trúc các tiếng nhằm tạo  
nên tính liên kết, hài hoà cho lời nói. Chẳng hạn: cao  
thủ đầu có mủ, ngất trên cành quất, thích là nhích,  
ngon lành cành đào, chán như con gián, hiện đại hại  
điện, đơn giản như đan rổ, chuẩn không cần chỉnh,…  
Phương thức này tạo nên tính hài hoà, uyển chuyển,  
nhịp nhàng, cân đối trong lời nói. Xét ở đặc điểm  
này, phương thức hiệp gần gần giống với thành ngữ  
tiếng Việt. Ví dụ:  
Phần lớn các từ ngữ tiếng Anh khi được chêm xen  
thường giữ nguyên nghĩa gốc. Chẳng hạn: email,  
link, hotboy, hotgirl, like, share, team, laptop, book,  
happy, style, shock, hack, …. Ví dụ:  
(22 Lập team bắn cá nha.  
(23) Share mạnh lên để lớp mình đạt giải. haha  
(24) Các fan đâu rồi?  
Tuy nhiên, có những từ ngữ tiếng Anh khi được  
sử dụng có những sự thay đổi so với nghĩa gốc. Sự  
biến đổi xuất hiện là do người dùng chỉ chọn một nét  
nghĩa gốc để biểu thị. Chẳng hạn:  
(28) Đề khó. Chán như con gián.  
(29) - Bài khó mà bồ giải xong rồi á?  
- Chuyện. Cao thủ đầu có mủ.  
Từ style trong tiếng Anh là danh từ với các nét  
nghĩa như: 1/ loại, thứ phong cách (viết, nói, làm); 2/  
nét đặc trưng phong cách (của con người, trường học,  
thời đại); 3/ danh hiệu, tước hiệu; 4/ phẩm cách, điều  
đặc biệt; 5/ mốt, thời trang; 6/ bút (để vạch, khắc) [5,  
tr.959]. Trong tiếng lóng của SV, style có các nét  
nghĩa như:  
- Phương thức cải biên là phương thức dựa trên  
các thành ngữ, tục ngữ để tạo ra các ngữ mới lại của  
SV, chẳng hạn: anh hùng bàn phím = anh hùng rơm,  
hồng nhan bạc phận = hồng nhan bạc tỉ, chân dài  
lưng ngắn = chân dài não ngắn, xấu như ma = xấu  
như gấu,… Đây là phương thức thể hiện sự tiếp thu  
tinh hoa văn hoá của SV bởi thành ngữ, tục ngữ là  
những tài sản mang đậm văn hoá của người Việt.  
(25) Style quá ngầu.  
(26) Cảm nhận hoang mang style.  
(27) Xì tin quá gái.  
(30) Thôi. Học đi các ông mai thi rồi. Anh hùng  
bàn phím cho lắm. Mai thi rớt thì hay.  
2.3.3. Kết cấu mới  
(31) Xấu như gấu lại còn điệu chảy mỡ.  
- Phương thức sáng tạo mới.  
Kết cấu mới trong ngôn ngữ mạng của SV là các  
kết cấu có cấu tạo là các cụm từ. Đây cũng là một  
trong hình thức tạo nên ngôn ngữ riêng khác của SV  
trên các diễn đàn. Điểm đặc biệt của các kết cấu này  
Đây là phương thức mang đậm dấu ấn của nhóm  
SV trên các diễn đàn. Phương thức này sử dụng sự  
N.T.H.Chuyen et al/ No.18_Oct 2020|p.83-89  
tương đồng về nghĩa để tạo ra các kết cấu mới sinh  
trong tương tác và kết cấu mới lạ theo trật tự: về mặt  
ngữ âm (cấu tạo); về mặt từ vựng và về mặt ngữ  
nghĩa, chúng tôi đã lần lượt phân tích miêu tả và làm  
rõ từng đặc điểm. Từ kết quả nghiên cứu và phân tích  
khẳng định: tiếng lóng là hình thức phổ biến được sử  
dụng của SV trên mạng xã hội facebook (97 từ ngữ);  
chêm xen ngôn ngữ thứ hai trong tương tác (72 từ  
ngữ) và kết cấu mới lạ ít sử dụng (31 từ ngữ). Từ  
phân tích, khẳng định: Ngôn ngữ mạng của SV trên  
bình diện cấu trúc không chỉ phản ánh đặc trưng  
ngôn ngữ của nhóm đối tượng năng động, sáng tạo,  
dám nghĩ, dám làm, mang trên mình sứ mạng học tập  
để phụng sự tương lai dân tộc mà còn thể hiện sự vận  
động trong nhóm trước sự biến động của thời đại.  
Ngôn ngữ là một bộ phận của văn hoá xã hội, cũng là  
một trong những lĩnh vực thể hiện sự lệch chuẩn,  
sáng tạo, khẳng định mình.  
động, chẳng hạn: đắng lòng thanh niên, dậy thì thành  
công, năm trăm anh em, bó tay chấm com, giờ cao  
su, thông tấn xã con vịt, a cay con chim cú, anh hùng  
núp, fan cứng điểm danh, đau để trưởng thành, thân  
ái và quyết thắng,… Ví dụ:  
(32) Mấy thánh nổ to giờ anh hùng núp hết à?  
(33) Sau bốn năm, ẻm nó đã dậy thì thành công.  
b) Về ngữ nghĩa  
- Các kết cấu mới lạ không chỉ độc đáo về mặt  
ngữ âm mà con phong phú, đa dạng về ngữ nghĩa.  
Các kết cấu này về mặt thể hiện nghĩa được chia  
thành hai dạng:  
+ Các kết cấu có đặc tính giống như các thành  
ngữ, tục ngữ thường mang nhiều nét nghĩa khác nhau  
và có tính biểu trưng cao. Chẳng hạn: anh hùng bàn  
phím, hồng nhan bạc tỉ,… các yếu tố trong kết cấu  
khá ổn định và mang tính biểu trưng cao.  
REFERENCES  
[1] Fasold Ralph, The Sociolinguistics of Society,  
Oxford – Brasil, Blackwell Ltd, 1990.  
+ Các kết cấu là các tổ hợp từ tự do như: đắng  
lòng thanh niên, dậy thì thành công, năm trăm anh  
em, anh hùng núp, fan cứng điểm danh, đau để  
trưởng thành, thân ái và quyết thắng,… thường kết  
cấu lỏng lẻo và tính biểu trưng thấp hơn.  
[2] Nguyen Van Khang, Social Linguistics,  
Education Publishing House, Hanoi, 2012.  
[3] Nguyen Van Khang, Language in social  
networks , Hong Duc Publishing House, 2019.  
[4] National Assembly of the Socialist Republic  
of Vietnam, Law on Higher Education, National  
Assembly of the 13th Socialist Republic of Vietnam,  
Term XIII, in the 3rd session, 2012  
- Các kết cấu mới phản ánh tính dân tộc và tinh  
thần thời đại. SV Việt Nam trong thời hội nhập  
không chỉ thay đổi về chất mà còn có sự thay đổi về  
lượng. Thông qua các kết cấu này thể hiện nhịp sống  
xã hội, tư duy và phản ứng của nhóm sinh viên trước  
thay đổi của xã hội, chẳng hạn: dưới cách mạng công  
nghệ 4.0, cuộc sống và học tập của SV gắn chặt với  
các phương tiện công nghệ thông minh, tương tác  
rộng không chỉ nằm trong phạm vi nhóm nhỏ mà mở  
rộng ra trở thành các diễn đàn có số lượng vài nghìn  
người đến hàng chục nghìn người. Các kết cấu như:  
ăn online, ngủ online, sống online, mắt dán facebook,  
tay lướt bàn phím, đăng facebook, nghìn like, bó tay  
chấm com,… trở thành những ngôn từ cửa miệng của  
SV. Ví dụ:  
[5] Nguyễn Sanh Phúc, English Vietnamese  
dictionary, Dong Nai Publishing House , 1995.  
[6] Do Huu Chau, General Linguistics  
-
Pragmatics (Volume 2), Education Publishing  
House, Hanoi, 2001.  
[7] Huu Dat, Culture and language of  
communication of the Vietnamese, Culture  
Information Publishing House, Hanoi, 2000.  
-
[8] Bui Minh Toan , Word in communication,  
Education Publishing House, Hanoi, 1999.  
[9] Gumperz, J. J., Language in Social Groups,  
Standford: Standford University Press, 1971.  
[10] Labov, W., The Study of Language in its  
Social Context, Studium Generale, 23:30- 87, 1970.  
(34) Với trường hợp này, bó tay chấm com luôn.  
(35) Nghe tin từ thông tấn xã con vịt thì có ngày  
ngỏm đó.  
[11]  
Language  
data:  
3. Kết luận  
Tiếp cận ngôn ngữ mạng của sinh viên từ bình  
diện cấu trúc, chúng tôi dựa vào các lí thuyết về  
phương ngữ xã hội và ngôn ngữ mạng; sinh viên và  
bối cảnh văn hoá để tìm hiểu các đặc điểm ngôn ngữ  
mạng của sinh viên. Triển khai tìm hiểu đối tượng ở  
ba nội dung: tiếng lóng, chêm xen ngôn ngữ thứ hai  
book.com/Đoàn-thanh-niên-Hội-sinh-viên-trường-  
Đại-học-Tân-Trào;  
N.T.H.Chuyen et al/ No.18_Oct 2020|p.83-89  
SOCIAL NETWORKING LANGUAGE CHARACTERISTICS OF STUDENTS  
FROM THE STRUCTURE DIMENSION (THROUGH SOME FORUMS UNDER  
THE FACEBOOK SOCIAL NETWORK)  
Article info  
Abstract  
This article is based on theories related to social dialects and social network  
languages; student and cultural background to learn the characteristics of the social  
network language of students from the structure dimension in aspects such as  
slang, interleaving the second language in interaction, new textures. From the  
research results, we assert that: The social network language of students on the  
structure dimension shows the dynamism, creativity, dare to think and dare to do  
of youth and the movement of the era is expressed through students’ language.  
Recieved:  
05/7/2020  
Accepted:  
20/9/2020  
Keywords:  
social network  
language, students,  
structure dimension,  
forum.  
pdf 7 trang yennguyen 19240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm ngôn ngữ mạng của sinh viên nhìn từ bình diện cấu trúc (Qua một sỗ diễn đàn)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_ngon_ngu_mang_cua_sinh_vien_nhin_tu_binh_dien_cau_t.pdf