Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Tiến Thụy nhìn từ diễn ngôn nghệ thuật

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ĐỖ TIẾN THỤY  
NHÌN TỪ DIỄN NGÔN NGHỆ THUẬT  
Trần Văn Hải  
Trường THPT Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Tp. Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài: 27/02/2019, Ngày duyệt đăng: 23/07/2019  
Tóm tắt  
Lời văn nghệ thuật là yếu tố quan trọng hàng đầu trong hình thức tác phẩm. Nó có  
vai trò nối kết các yếu tố hình thức khác để cấu thành nên một tác phẩm văn học hoàn  
chỉnh. Nghiên cứu về lời văn nghệ thuật sẽ có nhiều hướng đi khác nhau. Với bài viết này,  
chúng tôi sẽ xem xét lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Tiến Thụy từ góc nhìn  
diễn ngôn nghệ thuật với ba biểu hiện cơ bản: kết hợp diễn ngôn người kể chuyện và nhân  
vật, đan xen diễn ngôn đối thoại và độc thoại, hòa phối diễn ngôn kể và tả.  
Từ khóa: diễn ngôn nghệ thuật, Đỗ Tiến Thụy, lời văn nghệ thuật.  
The artistic style in the novel of Do Tien Thuy from artistic discourse  
Abstract  
The artistic style is the most important factor in the form of work that has the role of  
linking other formal factors to constitute a complete literary work. Study on artistic style  
will have many different directions. In this article, a review of creative style in Do Tien  
Thuy's novel is considered from perspective of artistic discourse with three basic  
expressions: combining discourse of storytellers and characters, interplaying discourse of  
dialogue and monologue, harmonizing discourse of narrative and description.  
Keywords: artistic discourse, Do Tien Thuy, artistic style.  
1. Mở đầu  
thế giới văn chương. Thấu hiểu được điều  
đó, người nghệ sĩ đã sử dụng lời văn như  
một công cụ hữu hiệu để chuyển tải những  
tư tưởng, chủ đề trong các sáng tác của  
mình. Khi nhìn lời văn từ góc độ diễn ngôn  
nghệ thuật, chúng ta sẽ có cơ hội khám phá  
ra nhiều vẻ đẹp khác nhau của ngôn từ  
cũng như giá trị ẩn chứa trong mỗi “đứa  
con tinh thần” của các nhà văn. Với bài  
viết này, chúng tôi tập trung tìm hiểu lời  
văn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ  
Tiến Thụy nhìn từ diễn ngôn nghệ thuật.  
“Mọi tác phẩm văn học đều được viết  
hoặc kể bằng lời: lời thơ, lời văn, lời tác  
giả, lời nhân vật… gộp chung lại gọi là lời  
văn. Nếu ngôn từ - tức là lời nói, viết trong  
tất cả tính chất thẩm mỹ của nó là chất  
liệu của sáng tác văn học, thì lời văn là  
hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm  
văn học” (Phương Lựu, 2006: 313). Hình  
thức ngôn từ nghệ thuật này được coi là  
chiếc chìa khóa mở cánh cửa dẫn đắt độc  
giả vào không gian rộng lớn, hấp dẫn của  
76  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
Hy vọng, nó sẽ giúp cho độc giả củng cố  
thêm những hiểu biết về lời văn nghệ  
thuật, diễn ngôn nghệ thuật cũng như thấy  
được vẻ sáng đẹp trong tiểu thuyết Màu  
rừng ruộng và Con chim joong bay từ A  
đến Z của nhà văn hiện đang khoác áo lính.  
2. Khái lược về lời văn nghệ thuật  
và diễn ngôn nghệ thuật  
vật, con người được tái hiện trong tác  
phẩm. Thứ hai là lời văn nghệ thuật có tính  
tổ chức cao nhằm mục đích giải phóng tính  
hình tượng của ngôn từ. Đặc trưng này  
xuất phát từ yêu cầu khắc phục ý nghĩa  
thông thường của chất liệu lời nói. Khi  
được tổ chức chặt chẽ, mạch lạc, lời nói sẽ  
trở thành lời văn có tính nghệ thuật. Nó  
khiến cho người ta cảm nhận hiện thực đời  
sống cũng như lời nói một cách mới mẻ  
nhưng không kém phần sâu sắc.  
Lời văn nghệ thuật có vai trò rất quan  
trọng trong nghệ thuật tự sự. Nhà văn đã tư  
duy nghệ thuật dựa trên khả năng biểu đạt  
của chất liệu ngôn từ. Vì vậy, qua lời văn,  
toàn bộ thế giới nghệ thuật sẽ được định  
hình. Để từ đó, độc giả có cơ sở tìm hiểu,  
khám phá thế giới hình tượng và các lớp  
nội dung ý nghĩa của văn bản nghệ thuật.  
Nó còn truyền cho độc giả một điểm nhìn  
cá thế hóa theo ý đồ, cá tính sáng tạo của  
nhà văn, nhân vật hoặc có sự kết hợp đan  
xen cả hai nhằm mục đích đưa độc giả xâm  
nhập vào cuộc đời nhân vật văn học, sống  
cùng nhân vật và thấu cảm được những  
vấn đề nhân sinh.  
Diễn ngôn là khái niệm có nội hàm rất  
rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau.  
Theo tác giả Diệp Quang Ban (2009) trong  
công trình Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo  
văn bản, người đầu tiên sử dụng diễn ngôn  
như một khái niệm chuyên môn là nhà  
ngôn ngữ học người Bỉ E. Buysen. Nó  
được đề cập đến trong tác phẩm Hoạt động  
nói năng và văn bản (1943). Hiện nay,  
khái niệm diễn ngôn có ba hướng tiếp cận  
chủ yếu. Hướng thứ nhất từ ngôn ngữ học.  
Nền tảng của hướng tiếp cận này là những  
luận điểm của F. de Saussure trong Giáo  
trình ngôn ngữ học đại cương. Hướng thứ  
hai từ phong cách học. M. Bakhtin là  
người khởi nguồn cho khuynh hướng này.  
Từ điển Thuật ngữ văn học định  
nghĩa: “Lời văn nghệ thuật là dạng phát  
ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật,  
tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ  
thuật” (Lê Bá Hán, 2010: 129). Nó thực  
chất là lời nói tự nhiên nhưng đã được tổ  
chức theo một quy luật nghệ thuật về mặt  
nội dung, phương pháp, phong cách, thể  
loại. Muốn hiểu được lời văn nghệ thuật,  
chúng ta phải đặt vào trong toàn bộ ngữ  
cảnh mà văn bản nghệ thuật đó tồn tại. Có  
thể xem văn học là nghệ thuật diễn ngôn.  
Lời văn nghệ thuật là một chỉnh thể được  
cấu thành từ một hay nhiều thành phần  
diễn ngôn. Các thành phần diễn ngôn trong  
tác phẩm văn học rất đa dạng như: diễn  
ngôn thơ, diễn ngôn văn xuôi, diễn ngôn  
trần thuật, diễn ngôn thoại (đối thoại, độc  
thoại)… Nghiên cứu lời văn nghệ thuật từ  
góc nhìn diễn ngôn nghệ thuật, chúng ta sẽ  
thấy được mối quan hệ giữa văn học và  
văn hóa, ngôn ngữ và văn học, tính xã hội  
và tính thẩm mỹ của văn học…  
Theo Phương Lựu (2006), lời văn  
nghệ thuật có hai đặc trưng quan trọng.  
Thứ nhất, là nó mang tính hình tượng từ  
trong nội dung của lời nói. Tính hình  
tượng này bắt nguồn từ chỗ lời văn là lời  
của một chủ thể tư tưởng thẩm mỹ xã hội  
có tầm khái quát nhất định. Nhờ thế, lời  
của một người dễ dàng đi vào lòng người,  
trở thành lời nói của muôn người. Nó còn  
bắt nguồn từ sự truyền đạt sự vận động,  
động tác nội tại của toàn bộ thế giới, cảnh  
77  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
Hướng thứ ba từ xã hội học. Trung tâm  
điểm của hướng tiếp cận này là những  
quan niệm về diễn ngôn của M. Foucault –  
ông tổ của các lý thuyết hậu hiện đại và có  
ảnh hưởng lớn nhất đến nghiên cứu diễn  
ngôn từ sau những năm 1960. Ba hướng  
trên đã cung cấp ba định nghĩa khác nhau  
về diễn ngôn: diễn ngôn như là cấu trúc  
của ngôn ngữ/ lời nói, diễn ngôn như là lời  
nói – tư tưởng hệ, diễn ngôn như là công  
cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền  
lực.  
khác. Qua đó, người đọc sẽ thấy được  
quan điểm nghệ thuật cũng như tư tưởng,  
tình cảm của các nhà văn.  
Nghiên cứu lời văn nghệ thuật từ góc  
nhìn diễn ngôn nghệ thuật trong tiểu thuyết  
Màu rừng ruộng và Con chim joong bay từ  
A đến Z của Đỗ Tiến Thụy, chúng tôi sẽ  
hướng vào ba khía cạnh nổi trội: Kết hợp  
diễn ngôn người kể chuyện và nhân vật;  
đan xen diễn ngôn đối thoại và độc thoại;  
hòa phối diễn ngôn kể và tả. Những khía  
cạnh này đã giúp cho nghệ thuật tự sự của  
nhà văn gặt hái được những thành công  
nhất định.  
3. Biểu hiện lời văn nghệ thuật  
nhìn từ diễn ngôn nghệ thuật trong tiểu  
thuyết của Đỗ Tiến Thụy  
3.1. Kết hợp diễn ngôn người kể  
chuyện và nhân vật  
Trong lý thuyết tự sự, diễn ngôn nắm  
giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Tìm  
hiểu nó cũng đồng nghĩa với việc đang tiến  
hành xem xét bản chất lời nói của người kể  
chuyện, của nhân vật. Các nhà tiểu thuyết  
ý thức rất rõ về điều này nên đã dành nhiều  
thời gian, công sức để đầu tư cho những  
diễn ngôn của ngưởi kể chuyện và của  
nhân vật. Diễn ngôn người kể chuyện là  
“những thông tin nghệ thuật không chỉ  
được biểu hiện thông qua những phát ngôn  
của người kể chuyện dưới dạng thức ngôn  
ngữ mà còn thể hiện qua những ngôn từ do  
các vai (nhân vật mang chức năng kể) nói  
ra và những ngôn từ được người kể trích  
dẫn” (Đoàn Thị Minh Huyền, 2014: 19).  
Qua diễn ngôn của người kể chuyện,  
chúng ta sẽ thấy được ý thức nghệ thuật  
cùng cảm quan của các tác giả về hiện thực  
đời sống. Diễn ngôn người kể chuyện được  
thể hiện ở ba phương diện chủ yếu là diễn  
ngôn kể, diễn ngôn tả, diễn ngôn trữ tình  
ngoại đề. Diễn ngôn nhân vật có thể hiểu  
Với phạm vi bài viết này, chúng tôi  
tiếp cận diễn ngôn theo hướng thứ hai là  
từ phong cách học. Theo Diệp Quang Ban  
(2009), trong phong cách học, sự phân  
loại diễn ngônsẽ va chạm trước hết với vị  
trí văn chương. Nếu lấy các phong cách  
chức năng làm xuất phát điểm thì trong  
các tác phẩm nghệ thuật nói chung có thể  
gặp mặt tất cả các phong cách chức năng  
cụ thể, khiến người ta có thể nghĩ đến  
hiện tượng đa phong cách. Tuy nhiên, xét  
về tính mục đích của các văn bản, mẫu  
đoạn văn bản thuộc phong cách chức năng  
có trong tác phẩm nghệ thuật, chúng  
không phải vì các phong cách chức năng  
đó mà vẫn vì tính riêng của văn chương  
nghệ thuật, mà trước hết là tính hình  
tượng của ngôn ngữ nghệ thuật. Chức  
năng này sẽ tách ngôn ngữ nghệ thuật ra  
khỏi ngôn ngữ phi nghệ thuật. Các hiện  
tượng ngôn ngữ thuộc các phong cách  
chức năng khi nằm trong tay người nghệ  
sĩ sẽ trở thành “vật liệu” để xây dựng tác  
phẩm nghệ thuật mang dấu ấn riêng.  
Nghiên cứu diễn ngôn trong tác phẩm văn  
học, cụ thể là lời văn đồng nghĩa với việc  
nghiên cứu tính chất sống động của ngôn  
ngữ nghệ thuật, đặt nó trong đời sống sinh  
thành, chịu sự chi phối của một mô hình  
tư duy, trong mối quan hệ với các yếu tố  
78  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
là những lời nói của nhân vật trong tác  
phẩm văn học. Dạng thức này sử dụng lời  
nói nhân vật như như là “một trong các  
phương tiện quan trọng để nhà văn thể  
hiện cuộc sống và cá tính nhân vật”  
(Phương Lựu, 2006: 214). Chúng ta đều  
biết bản chất của văn học là tái hiện sinh  
động bức tranh đời với đủ mọi sắc màu  
như cầu vồng. Đối tượng giúp nó tái hiện  
được điều đó chính là các chủ thể đóng vai  
trò như những tấm gương của cuộc đời. Vì  
thế, thông qua diễn ngôn của các nhân vật,  
độc giả còn thấy được ngôn ngữ của một  
tầng lớp người nhất định, gần gũi về nghề  
nghiệp, tâm lý, giai cấp, trình độ văn  
hóa… Diễn ngôn nhân vật thực sự có vai  
trò quan trọng trong cấu trúc diễn ngôn.  
Nó cùng với diễn ngôn người kể chuyện là  
hai thành phần nòng cốt hình thành nên  
“nội dung sự kể” của văn bản trần thuật.  
Diễn ngôn nhân vật được thể hiện ở hai  
hình thức cơ bản là diễn ngôn đối thoại và  
diễn ngôn độc thoại. Kết hợp diễn ngôn  
người kể chuyện và diễn ngôn nhân vật sẽ  
khiến các dòng sự kiện trong tác phẩm tự  
sự được nối tiếp liên tục, không bị nhàm  
chán, đơn điệu.  
lớn lắm. Có gộp hết lỗi phạm từ thuở thiếu  
thời đến giờ cũng không lớn bằng”. Đó là  
lời của người kể chuyện toàn tri khi nhìn  
thấu suốt toàn bộ quãng đời của Vinh và  
nhận ra lần này là tội lớn nhất từ đó đến  
giờ. Người kể chuyện không chỉ kể mà còn  
tả về hành động “giật nảy người ngước  
lên” của Vinh và tiết lộ thông tin đây là lần  
đầu tiên ông giáo Tiến gọi con mình bằng  
“anh”. Diễn ngôn của nhân vật thuộc về  
cha Vinh và Vinh. Nó mang tính chất đối  
thoại. Vinh chỉ đáp lời đúng một tiếng  
“Dạ” còn ông giáo nói hai câu đều mang  
tính chất để hỏi “Anh Vinh” và “Anh nói  
đi, vì cớ gì anh thi trượt hả?”. Ở đây, diễn  
ngôn người kể chuyện và nhân vật đã kết  
hợp hài hòa với nhau. Diễn ngôn người kể  
chuyện là lời dẫn (1), (3), (5), còn diễn  
ngôn nhân vật là (2), (4), (6). Qua đó, độc  
giả nhận ra được sự đau đớn, thất vọng của  
người cha khi con mình không đỗ đạt,  
không đáp ứng được điều mà gia đình  
trông mong cũng như sự ăn năn, hối lỗi,  
khó xử của đứa con.  
Ông Ét dùng chút thủ đoạn là có thể  
đuổi được máy cày ra khỏi làng Bùi để  
giành lại công việc cho đàn trâu. Thế  
nhưng chỉ một mình ông thấy vui còn mọi  
người lại chán nản, bực bội, trong đó có  
Vinh:  
“Việc đồng áng vốn đã tẻ buồn giờ lại  
tẻ buồn hơn. Trâu đen ngã nước. “Trâu  
đỏ” ra đi. Ông chủ nhiệm hợp tác đạp xe  
long sòng sọc hết xóm dưới làng trên lùa  
hết thảy lao động làng Bùi vai cào vai  
cuốc đi “cày” ruộng thay trâu cho kịp lịch  
cấy trồng. Trưa ấy, Vinh đi đón Nghé Hoa.  
Ông Ét vừa hỉ hả tháo cày vừa cười: (1)  
- Thế nào, chuẩn bị tinh thần học cày  
chứ? Mày mười bảy tuổi rồi nhể? (2)  
Vinh khó chịu hỏi: (3)  
Ở Màu rừng ruộng, khi thi đại học bị  
rớt lần thứ nhất, cha Vinh đã trách phạt cậu  
bằng đòn roi trong tâm trạng nặng nề:  
“Lần này tội Vinh lớn lắm. Có gộp hết  
lỗi phạm từ thuở thiếu thời đến giờ cũng  
không lớn bằng. (1)  
- Anh Vinh! (2)  
Vinh giật nảy người ngước lên:(3)  
- Dạ? (4)  
Lần đầu tiên cha gọi Vinh bằng anh. (5)  
- Anh nói đi, vì cớ gì anh thi trượt  
hả?” (6) (Đỗ Tiến Thụy, 2017a: 13).  
Trong đoạn văn trên, diễn ngôn của  
người kể chuyện ngôi thứ ba thể hiện ở  
việc bình luận ngắn gọn “lần này tội Vinh  
- Ngôi mộ hôm nọ của nhà ông à? (4)  
79  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
Khuôn mặt ông Ét bất ngờ khoặm lại,  
nghiêm giọng mắng: (5)  
- Phạn nhĩ, cơm tai! Mày học hành thế  
mà ngu. Mả nào nhà tao? (6)  
Diễn ngôn người kể chuyện tiếp tục kết  
hợp với diễn ngôn nhân vật. Tuy nhiên,  
chúng không đi theo mô hình một – một  
(một diễn ngôn của người kể chuyện – một  
diễn ngôn của nhân vật) mà lại có sự cách  
quãng. Cụ thể, diễn ngôn (6), (7), (8) là  
của nhân vật mà không có sự đan xen vào  
diễn ngôn của người kể chuyện. Qua các  
diễn ngôn trên, chúng ta thấy ông Ét vừa  
đáng trách vừa đáng thương. Đáng trách vì  
ông ta dùng mánh lới để ngăn cản công  
cuộc cơ khí hóa ở nông thôn. Đáng thương  
vì nghèo đói, khốn khó ông mới làm như  
vậy. Mục đích chỉ để giữ miếng cơm cho  
bản thân và gia đình mình.  
- Thế sao…? (7)  
- Mày đúng là củ chuối! Tao phải làm  
thế để đuổi cái máy cày đi, không nó  
“chần” ba hôm hết bố nó ruộng, chả nhẽ  
tao ngồi chơi không? Đồng làng bằng cái  
lỗ mũi, trâu cày tốt! (8)  
Vinh đứng ngẩn người trên bờ ruộng  
loang lổ. Những ngôi mộ nhỏ như thúng úp  
lấm láp vết bùn. Chúng xưa cũ quá rồi…”  
(9) (Đỗ Tiến Thụy, 2017a: 43 – 44).  
Lượt phát ngôn (1) là diễn ngôn của  
người kể chuyện ngôi thứ ba giấu mặt đưa  
ra lời bình luận về sự buồn tẻ của ruộng  
đồng; kể về việc trâu đen ngã nước, trâu đỏ  
ra đi, ông Chủ nhiệm hợp tác đạp xe khắp  
làng lùa mọi người ra đồng, thời điểm buổi  
trưa Vinh đi đón Nghé Hoa; tả chiếc xe  
đạp cà tàng long sòng sọc, tả nụ cười chất  
chứa tâm trang phấn khởi, hí hửng của ông  
Ét khi đuổi được máy cày “vừa hỉ hả tháo  
cày vừa cười”. Lượt phát ngôn (2) là diễn  
ngôn của nhân vật ông Ét hỏi Vinh về việc  
học cày và mỉa mai rằng cậu ta đã mười  
bảy tuổi rồi. Lượt phát ngôn (3) là lời dẫn  
của người kể chuyện cùng nhận xét về thái  
độ của Vinh “khó chịu”. Lượt phát ngôn  
(4) là lời Vinh thắc mắc về ngôi mộ hôm  
ông Ét thắp hương trên cánh đồng. Lượt  
phát ngôn (5) là lời người kể chuyện miêu  
tả khuôn mặt, giọng nói ông Ét “khoặm  
lại, nghiêm giọng, mắng”. Lượt phát ngôn  
(6) là lời ông Ét trách Vinh ngu và cho cậu  
ta câu trả lời. Lượt phát ngôn (7) là lời  
nhân vật Vinh tiếp luôn. Lượt phát ngôn  
(8) là lời ông Ét lí giải về việc làm của  
mình. Lượt phát ngôn (9) lại quay về là lời  
của người kể chuyện để miêu tả những  
ngôi mộ nhỏ xuất hiện trên cánh đồng.  
Trong tiểu thuyết Con chim joong bay  
từ A đến Z, chúng ta thấy sự kết hợp giữa  
diễn ngôn người kể chuyện và nhân vật  
được thể hiện khá đậm đặc. Tuy nhiên, sự  
thể hiện về mặt hình thức của chúng có sự  
khác biệt so với những phân đoạn mà chúng  
tôi đã trích dẫn trong tiểu thuyết Màu rừng  
ruộng. Ví dụ, khi người kể chuyện ngôi thứ  
nhất – con chim joong kể về sự việc nhân  
vật cụ Tướng truy vấn con cháu nhận quà  
cáp, phong bì trong dịp lễ Tết:  
(1) “Và tối ấy diễn ra cuộc họp căng  
thẳng nhất. Cụ nói nhỏ nhẹ, nhưng thấy cả  
ông bà chủ lẫn cậu chủ cúi đầu.  
(2) Lần đầu tiên tôi thấy cụ gọi ông  
chủ là ông. (3) Ông trưởng biết nhận quà  
từ bao giờ thế? (4) Ông chủ nhìn thẳng  
mắt cụ chủ đáp dạ, thưa thầy, hôm qua con  
về quê. Con hoàn toàn không biết việc này.  
(5) Cụ chủ hừ. Tiếng hừ của một con sư tử.  
(6) À, thế ra việc này chủ trương là do chị.  
(7)Lần đầu tiên cụ gọi bà chủ bằng chị. (8)  
Chị đã học ở đâu được thói ăn đồ biếu xén  
thế? (9) Bà chủ cúp mặt dạ, thưa cha, đây  
là năm đầu tiên. Họ đến chúc tết chả nhẽ  
mình không tiếp. Họ có chút quà mọn gọi  
là tình cảm, cũng khó chối từ. (10) Cụ  
80  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
quắc mắt, thế chị đã đếm hết cái đống quà  
mọn ấy chưa? (11) Bà chủ lại cúi đầu, bàn  
tay cố kéo tà áo che bụng mỡ trắng hếu.  
(12) Nói! (13) Cụ gầm lên. (14) Bà chủ dạ,  
con đếm rồi… (15)Bao nhiêu? (16) Dạ, chỉ  
có mấy… (17) Nói cho cụ thể! (18) Dạ!  
năm… triệu.  
tạo ra cảnh tượng căng thẳng như một  
phiên tòa khi thẩm phán đang truy hỏi bị  
can về những tội lỗi phạm phải. Diễn ngôn  
của cụ Tướng toát lên sự uy nghi, bản lĩnh,  
nắm giữ vị thế giao tiếp cao nhất trong  
cuộc đối thoại. Nhân vật của bà Nga có tất  
cả bốn lời thoại. Diễn ngôn của bà ấp úng,  
lúng túng, đầy phân trần trước sự truy đuổi  
ráo riết của cha mình. Bà ở vị thế giao tiếp  
thấp trong cuộc hội thoại này. Nhân vật  
ông Khoa nói ít nhất, chỉ có một lời thoại.  
Diễn ngôn của ông toát ra sự trung thực  
của một tâm hồn trong sạch, ngay thẳng.  
Nói cách khác, ở sự việc này ông vô can  
và đang trở thành người chứng kiến cuộc  
đối đáp giữa cha con cụ Tướng.  
(20) “Tha hóa!”  
(21) Một cái đập bàn chát chúa làm  
mọi người bật lên như thóc nhảy trên  
nong, rồi lại ngồi im tắp. Tôi cũng nhảy  
lên giàn lan, nhưng không hề sợ. Tôi cảm  
thấy thích thú. Là vì tôi vừa được nghe một  
từ mới. “Tha hóa”. Trước giờ tôi chỉ nghe  
nói tha rơm tha cỏ tha kiến tha sâu…Còn  
hóa, chắc nó là cái gì bẩn lắm…” (Đỗ  
Tiến Thụy, 2017b: 77 – 78).  
Sự kết hợp giữa diễn ngôn người kể  
chuyện và diễn ngôn nhân vật trong quá  
trình tự sự đã tạo nên tính chất đa thanh rõ  
nét. Lời văn xuất hiện cùng lúc nhiều tiếng  
nói, giọng điệu, điểm nhìn khác nhau tạo  
nên độ mở trong tư duy, nhận thức của mỗi  
người khi tiếp cận tác phẩm. Những diễn  
ngôn ấy có tính chất độc lập tương đối,  
mang giá trị tự thân ở mỗi lần xuất hiện.  
Chúng bổ sung, cộng hưởng với nhau giúp  
cho thế giới nội tâm nhân vật được khai  
thác triệt để; bức tranh cuộc sống hiện lên  
với mọi góc cạnh; nhịp điệu kể chuyện lúc  
nhanh, lúc chậm, lúc dồn dập, khẩn  
trương, lúc thâm trầm, thong thả để thể  
hiện rõ nét cấu trúc và tính chất các sự  
kiện trong tiểu thuyết của Đỗ Tiến Thụy.  
3.2. Đan xen diễn ngôn đối thoại và  
độc thoại  
Chúng ta dễ dàng nhận ra, đoạn văn  
trên không có dấu hiệu là dấu hai chấm  
hoặc dấu gạch đầu dòng để nhận diện đâu  
là diễn ngôn của người kể chuyện, đâu là  
diễn ngôn của nhân vật. Tuy nhiên, không  
vì thế mà người đọc không thể bóc tách  
được. Người kể chuyện là con chim joong  
xưng tôi chứng kiến tất cả mọi diễn biến  
của cuộc họp gia đình. Lời dẫn, lời chuyển,  
lời nhận xét đánh giá về thái độ của các  
nhân vật, bày tỏ suy nghĩ của chính mình  
được joong sử dụng trong các phát ngôn  
(1), (2), (5), (7), (11), (13), (21); diễn ngôn  
của nhân vật cụ chủ là các phát ngôn (3),  
(6), (8), (10), (12), (15), (17), (20); diễn  
ngôn của ông chủ chỉ có một phần là (4).  
Diễn ngôn của bà chủ có các phát ngôn  
(9), (14), (16), (18). Các diễn ngôn trên kết  
hợp, xen kẽ với nhau khiến cho đoạn văn  
được kể sinh động, lôi cuốn. Qua sự kết  
hợp ấy, ta nhận ra người kể chuyện rất  
trung thực và tinh tế khi có những nhận  
xét, đánh giá xác đáng về những gì mắt  
thấy tai nghe. Với ba nhân vật còn lại, lời  
của cụ Tướng áp đảo, xuất hiện tới bảy lần  
Như đã khẳng định, diễn ngôn nhân  
vật đóng vai trò quan trọng trong nghệ  
thuật tự sự. Thông qua diễn ngôn ấy, tác  
giả không chỉ gửi gắm những tư tưởng,  
quan niệm của chính mình mà còn để  
nhiều khoảng trống cho độc giả đối thoại  
với tác giả, nhân vật. Diễn ngôn nhân vật  
81  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
được thể hiện qua hai hình thức chủ yếu là  
diễn ngôn đối thoại và diễn ngôn độc thoại.  
Diễn ngôn đối thoại có thể hiểu là toàn bộ  
sự tương tác giữa người nói và người nghe  
kết hợp với sự luân phiên lượt lời và thay  
đổi vai trò trong suốt quá trình giao tiếp.  
Diễn ngôn đối thoại không chỉ được biểu  
hiện qua những phát ngôn của nhân vật mà  
còn đi kèm theo những biểu hiện của ánh  
mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ… Trong văn  
bản văn học, diễn ngôn đối thoại thường  
tồn tại dưới hình thức phát ngôn trực tiếp  
của các nhân vật. Dấu hiệu để nhận biết là  
sau lời dẫn của người kể chuyện có dấu hai  
chấm, xuống dòng, gạch đầu dòng. Các  
nhân vật trong cuộc hội thoại sẽ luân phiên  
đổi lượt lời cho nhau nhằm mục đích trao  
đổi thông tin.  
Diễn ngôn độc thoại là “những câu  
nói một mình, những suy tư nội tâm có ý  
thức” (Pilin và Tzurganova (-); bản dịch,  
2003: 265). Đây là loại diễn ngôn không  
đòi hỏi sự phản hồi, đáp lại và độc lập với  
phản ứng của người tiếp nhận. Nó được  
thể hiện đa dạng ở cả hình thức nói và viết.  
Có rất nhiều cách phân chia về diễn ngôn  
độc thoại. Thế nhưng, theo chúng tôi, hiện  
nay, có hai cách chia phổ biến nhất. Một là  
lời độc thoại nội tâm nguyên dạng, thuần  
thúy, thông thường. Đó là những lời trực  
tiếp bên trong, không bộc lộ thành âm  
thanh. Dấu hiệu nhận dạng là chúng  
thường có dấu gạch ngang đầu dòng, để  
trong ngoặc kép kèm theo những từ ngữ  
mang tính chất thông báo. Hai là lời độc  
thoại nội tâm ở dạng mở rộng. Chúng tồn  
tại dưới hình thức lời nửa trực tiếp, đối  
thoại tưởng tượng, dòng ý thức, thư từ,  
nhật ký…  
thuyết của Đỗ Tiến Thụy, chúng tôi thấy  
thủ pháp này được cụ thể hóa ở hai phương  
diện cơ bản. Thứ nhất, diễn ngôn độc thoại  
đan xen vào diễn ngôn đối thoại trong hình  
thức lời đối thoại mang tính chất độc thoại.  
Thứ hai, diễn ngôn đối thoại đan xen vào  
diễn ngôn độc thoại trong hình thức lời độc  
thoại ở dạng đối thoại tưởng tượng.  
Diễn ngôn độc thoại đan xen vào diễn  
ngôn đối thoại trong hình thức lời đối thoại  
mang tính chất độc thoại có thể hiểu đơn  
giản như sau: trong cuộc hội thoại có hai  
nhân vật giao tiếp nhưng chỉ xuất hiện lời  
của một nhân vật, nhân vật còn lại im lặng  
lắng nghe mà không hề thực hiện bất kì  
một hành động đáp lời nào. Trong tiểu  
thuyết Màu rừng ruộng, sau cái chết của  
ông Nuk và sự chuẩn bị rời bỏ làng Sập  
của cô giáo Phương đã khiến cho nhân vật  
Kíp rơi vào tâm trạng ngổn ngang. Một  
buổi chiều, Vinh ngồi cùng với Kíp trên  
đỉnh Sa Man mà lòng nặng trĩu. Cuối cùng,  
Vinh giục:  
“- Về đi Kíp! Về kẻo tối.  
Vinh cất tiếng giục mấy lần nhưng Kíp  
chẳng nói gì. Đôi mắt to nâu mở trợn  
trừng. Về ư? Về làng có ai đâu? Làng Sập  
chỉ còn một mình Kíp thôi. Một mình Kíp  
với đàn trâu mấy chục con đêm đêm đằm  
mình ì ọp trong chuồng phân bùn lõng  
bõng… Biết bao giờ ghè Sống này đầy sỏi  
để làng Sập đông vui? Biết bao giờ dân  
làng Sập không phải đi rẫy nữa để trẻ con  
được ở nhà đi học? Biết bao giờ cô giáo  
Phương mới lại lên đây?  
- Tối rồi Kíp ơi!  
Kíp ngồi bó gối nhìn về phía rẫy. Nơi  
ấy là một dãy núi hình con trâu đang bốc  
cháy. Những ngọn lửa đốt rừng lan dài từ  
chân lên đỉnh núi. Tàn tro bốc cao thành  
một đám mây đen rầu rĩ trên khoảng trời  
đỏ bầm. Vinh gọi mấy câu Kíp mới quay  
Đan xen diễn ngôn đối thoại và độc  
thoại là kỹ thuật xen kẽ, chen lẫn vào nhau  
giữa hai dạng thức này. Tìm hiểu tiểu  
82  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
đầu lại. Lúc đó mới biết là Kíp khóc” (Đỗ  
Tiến Thụy, 2017a: 302).  
phải cố chấp nhận ông vì cha tôi. Vả lại,  
tôi cũng hi vọng ông là kẻ biết điều.  
Nhưng ông đã không biết điều… Vậy thì  
ông có thể chim cút!  
Như một kẻ mộng du bị dúi vào bể  
nước lạnh, ông tỉnh táo cơn ngơ. Những  
điều vợ ông nói quá đúng” (Đỗ Tiến Thụy,  
2017b: 123).  
Diễn ngôn đối thoại được bộc lộ ở vai  
người nói (Vinh), vai người nghe (Kíp).  
Trong toàn bộ đoạn văn, Vinh là người nói  
và chỉ nói có hai câu mang tính chất cầu  
khiến. Còn Kíp là người nghe, không trả  
lời. Trong lòng anh, dòng độc thoại nội  
tâm đang tuôn trào với hàng loạt những  
câu hỏi tu từ như xoáy sâu vào tận cùng  
tâm can. Nó cho thấy Kíp thật nhỏ bé, cô  
đơn giữa núi rừng bao la, giữa làng Sập  
nhuốm màu chết chóc, tang thương. Con  
người chấn thương ấy nhìn thấy được  
tương lai u ám của cuộc đời mình. Dòng  
nước mắt tuôn dài trên gò má Kíp mà Vinh  
vô tình phát hiện ra là minh chứng cho nỗi  
buồn miên man khi thiếu chỗ dựa tinh  
thần, thiếu người bầu bạn trong cuộc đời  
dài đằng đẵng của chàng trai ấy. Nhờ sự  
đan xen giữa diễn ngôn độc thoại vào diễn  
ngôn đối thoại qua hình thức lời đối thoại  
mang tính chất độc thoại mà độc giả cảm  
nhận được sâu sắc nỗi cô đơn, trống trải  
trong lòng Kíp một cách thấm thía.  
Ai cũng nghĩ khi cụ Tướng mất thì  
nhân vật Khoa trong tác phẩm Con chim  
joong bay từ A đến Z sẽ làm chủ gia đình,  
vợ con sẽ nghe lời ông. Nhưng sự thật  
không phải thế. Ở cuộc đối chất của ba  
thành viên còn lại trong gia đình, ông  
Khoa đã bị bà vợ xối xả vào mặt:  
“Ông có quyền gì mà cấm? Quyền  
làm cha ư? Ông có bao giờ để mắt đến nó  
ăn uống học hành như thế nào đâu mà đòi  
quyền? Hay quyền làm chồng? Ông đã  
chối bỏ cái quyền ấy ngay sau khi tôi  
mang thai nó. Quyền chủ nhà ư? Mảnh  
đất này của cha tôi. Cái nhà này do tôi  
làm. Khi về đây ở ông mang theo được cái  
gì ngoài căn bệnh bất lực? Thực sự ông  
chả có quyền gì trong nhà này hết. Tôi  
Bà Nga nắm thế thượng phong trong  
cuộc hội thoại này. Bà là người phát ngôn,  
tự đặt câu hỏi, tự trả lời trong dòng cảm  
xúc tuôn trào hối hả. Nó khởi phát từ sự  
ấm ức dồn nén bao năm mà giờ mới có cơ  
hội bộc lộ. Lời lẽ có vẻ khó nghe, cay  
nghiệt của một bà thanh tra sắc sảo nhưng  
nó thực sự cần để cho ông Khoa (người  
nghe) bừng tỉnh. Chính ông cũng thừa  
nhận là bà ấy nói quá đúng. Hình thức lời  
thoại mang tính chất độc thoại ở đây làm  
cho không khí cuộc giao tiếp rất căng  
thẳng. Những phát ngôn của bà Nga cứ  
oang oang, sang sảng như dao găm xỉa  
thẳng vào tâm can của ông Khoa. Nó là  
chất xúc tác giúp ông tỉnh cơn ngơ, đưa  
mình lùi lại quá khứ, nhớ về những ngày  
đầu gặp cụ Tướng rồi với hai bàn tay trắng  
vào ở rể nhà cụ.  
Diễn ngôn đối thoại đan xen vào diễn  
ngôn độc thoại trong hình thức lời độc  
thoại ở dạng đối thoại tưởng tượng được  
hiểu là kiểu nhân vật tự đối thoại với chính  
mình để hiểu mình, hiểu đời hơn. Nó  
thường xuất hiện trong những ngữ cảnh  
nhân vật rơi vào tâm trạng hoang mang,  
hoảng loạn hoặc muốn truy vấn chính  
mình. Trong Màu rừng ruộng, sau khi có  
quan hệ bất chính với Y Than, Krol đã bị  
đàn săn voi trừng phạt theo luật tục. Họ  
buộc cậu ta hoặc phải quay về làng trong  
sự nhục nhã hoặc phải một mình đương  
đầu với đàn voi rừng để bắt được con voi  
sao. Krol đã dũng cảm, quyết tâm đương  
83  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
đầu với đàn voi rừng hung hãn. Chàng tỏ  
rõ bản lĩnh, ý chí kiên cường. Thế nhưng,  
khi thấy con voi của mình đang cưỡi sắp  
quị đến nơi rồi, cậu ta suy nghĩ: “Trong  
đầu chàng bắt đầu có những toan tính  
hoang mang. Thôi bỏ cuộc, rút chạy về  
chịu tội với đoàn săn. Luật săn không giết  
kẻ bại trận. Nhưng như thế đồng nghĩa với  
ước mơ trở thành dũng sĩ săn voi tan thành  
mây khói. Như thế ta còn mặt mũi nào gặp  
lại Y Than? Không, dẫu có chết ta cũng  
không bỏ cuộc. Chàng biết, chỉ cần đánh  
quị con voi đầu đàn là những con voi kia  
sẽ tháo chạy hết, lúc đó việc bắt được con  
voi sao chỉ là việc dễ như thò tay xuống  
sàn bắt con gà. Nghĩ thế, chàng liền móc  
đòng vào tai voi…” (Đỗ Tiến Thụy,  
2017a: 248). Vậy là, Krol đã tự phân thân  
ra và đối thoại với chính mình. Trong đầu  
chàng xuất hiện hai sự chọn lựa. Một là bỏ  
cuộc, rút chạy về chịu tội, đồng nghĩa với  
việc tan vỡ ước mơ làm dũng sĩ săn voi và  
không còn mặt mũi nào gặp lại Y Than.  
Hai là quyết đấu đến cùng với chiến thuật  
hiện lên trong đầu “chỉ cần đánh quị con  
voi đầu đàn” thì mọi chuyện sẽ trở nên dễ  
dàng. Cuộc tranh đấu đó diễn ra tích tắc  
trong nội tâm của Krol. Điều đáng khâm  
phục là vào lúc nguy hiểm, căng thẳng  
nhất của cuộc giáp đấu, Krol vẫn rất bình  
tĩnh, suy nghĩ chín chắn. Sau tất cả, Krol  
vẫn quyết không lùi bước, vẫn xông thẳng  
vào đàn voi rừng để chiến đấu như một  
dũng sĩ đích thực, để chứng minh tài nghệ  
của mình với đoàn săn.  
cưới với Nga: “Mình đã hiểu gì về Nga  
chưa? Tại sao Nga đã gần ba mươi tuổi  
mà chưa chồng? Nga có yêu mình không?  
Mình có thể yêu và lấy một người như Nga  
không?...” (Đỗ Tiến Thụy, 2017b: 135).  
Nguồn cơn của cuộc tự vấn ấy là do những  
tác động từ phía bên ngoài. Cụ thể là  
những cuộc gặp trước đó với cụ Tướng.  
Trong mọi hoàn cảnh, cụ đều cố ý nhắc  
đến tên Nga, nhắc đến những ưu điểm của  
cô ấy trước mặt Khoa. Bản thân Khoa và  
Nga cũng đã thư đi thư lại mấy lần. Qua  
những lá thư ấy, trực giác mách bảo ông cô  
gái này là người nông nổi. Vậy nên, những  
câu hỏi Khoa đặt ra không phải là không  
có cơ sở. Chứng tỏ, trước khi đi đến quyết  
định thành gia lập thất, Khoa cũng suy  
nghĩ chứ không vội vàng, sốc nổi. Chỉ có  
điều, mọi nghi ngại của Khoa đều bị tiêu  
biến hết khi nói chuyện với cụ Tướng. Bởi  
Khoa quá thần tượng cụ, luôn coi cụ là  
chuẩn mực để noi theo. Vì điều “tự kỷ ám  
thị” đó mà sau bao năm ông phải trả giá.  
Cái giá ấy chính là tờ đơn ly hôn. Khi li  
hôn xong ông tự hỏi: “Mình có vội vàng  
không khi chấp nhận li hôn? Không, không  
vội vàng. Việc đó đáng lẽ đã xảy ra sớm  
hơn kia. Gắng gượng giữ được đến ngày  
nay kể cũng là dài. Rũ bỏ một gia đình  
trung lưu bề thế đang trên lộ trình tiến hóa  
thành quý tộc là việc khó khăn đối với  
nhiều người, nhưng với ông thì khác. Ông  
không hề tiếc. Ông chỉ ân hận đã không  
chuẩn bị gì cho sự ra đi nên mới phải lang  
thang cơ nhỡ thế này. Thôi, gắng chịu  
đựng thêm chút nữa rồi về quê vui thú điền  
viên” (Đỗ Tiến Thụy, 2017b: 239). Thứ  
trưởng Khoa tự hỏi về việc mình có vội  
vàng chấp nhận ly hôn không? Câu hỏi của  
một người đã lấy lại được bình tĩnh sau  
những rối ren. Hỏi rồi chính ông tự trả lời  
quyết định đó là đúng, không hề vội vàng  
Nhiều lớp diễn ngôn của nhân vật  
Khoa trong tiểu thuyết Con chim joong bay  
từ A đến Z được Đỗ Tiến Thụy vận dụng  
sự đan xen giữa diễn ngôn đối thoại và  
diễn ngôn độc thoại trong hình thức lời độc  
thoại ở dạng đối thoại tưởng tượng. Ông  
đã từng tự hỏi mình trước khi làm đám  
84  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
đâu. Cố gắng đến ngày hôm nay cũng là  
hay lắm rồi. Với ông, giàu sang, quý tộc  
không phải là mục tiêu. Tuy nhiên, điều  
ông hối hận lớn nhất là chưa chuẩn bị gì  
cho tình huống này nên phải rơi vào cảnh  
lang thang cơ nhỡ. Bao năm qua ông chỉ  
đắm đuối với lý tưởng, với công việc mà  
không hề bận tâm đến cơm áo gạo tiền.  
Giờ đây, trắng tay ông mới thấm thía tất  
cả. Dẫu vậy, ông cũng tự động viên mình  
cố gắng chịu đựng chút nữa rồi về quê  
sống an nhàn. Hàng loạt những nghĩ suy  
xuất hiện trong nhân vật Khoa bằng độc  
thoại ở dạng đối thoại tưởng tượng cho  
thấy đời sống nội tâm phong phú, phức tạp  
cũng như cách sống lương thiện, chuẩn  
mực của nhân vật trong mọi hoàn cảnh.  
Nếu diễn ngôn đối thoại hướng đến  
những tranh luận, xung đột căng thẳng,  
chát chúa; diễn ngôn độc thoại trực tiếp  
dẫn đến thế giới tâm hồn nhân vật thì sự  
đan xen giữa hai dạng diễn ngôn trên đã  
đưa người đọc đến từng cung bậc cảm xúc,  
tâm trạng của nhân vật. Dù được lắp ghép,  
hòa phối, xâm nhập theo cách nào thì mục  
đích cuối cùng cũng là hướng tới thế giới  
nội tâm sâu kín của những chủ thể trong  
tác phẩm. Qua đó, chúng giúp Đỗ Tiến  
Thụy có thể gia tăng thêm nồng độ cảm  
xúc cho lời văn tự sự; kết dính các ý tứ  
trong cấu trúc diễn ngôn; thế giới nhân vật  
hiện lên sống động, rõ nét; lôi cuốn độc giả  
cùng tham gia vào hành trình khám phá  
từng phận người trong bức tranh hiện thực  
rộng lớn của tiểu thuyết Màu rừng ruộng  
và Con chim joong bay từ A đến Z.  
hoàn cảnh hành động và dáng nét nhân  
vật, nhiều khi còn thêm cả những lời bình  
luận” (Lại Nguyên Ân, 2017: 455). Như  
vậy, bản thân nghệ thuật tự sự đã thống  
hợp trong nó diễn ngôn kể và diễn ngôn tả.  
Diễn ngôn kể đảm nhiệm chức năng trình  
bày diễn biến sự kiện, nhân vật, hành  
động, lời nói trong không gian, thời gian  
theo trật tự tuyến tính, sao cho người đọc  
có thể hiểu được. Diễn ngôn tả thì tái hiện  
trạng thái con người, sự vật, hành động  
trong không gian, thời gian. Ranh giới giữa  
hai hình thức diễn ngôn này luôn có chỗ  
giao nhau. Khi kể chi tiết thì đi gần đến tả,  
tả sơ lược thì chuyển sang kể. Vì vậy, khái  
niệm sự hòa phối diễn ngôn kể và tả được  
hiểu là sự hòa trộn, phối hợp, xen kẽ giữa  
kể, tả trong lời văn tự sự.  
Nói đến diễn ngôn kể là nhắc đến ngôi  
kể và điểm nhìn. Còn diễn ngôn tả cũng sẽ  
gắn với điểm nhìn của người kể chuyện  
hoặc nhân vật. Họ có thể tả ngoại cảnh,  
ngoại hình, nội tâm nhân vật… một cách  
chi tiết, cụ thể. Sự hòa phối giữa chúng tạo  
sự sinh động, hấp dẫn cho câu chuyện.  
Một người kể chuyện khéo léo không chỉ  
biết dẫn đắt người đọc đi vào câu chuyện  
của mình một cách tự nhiên, đầy sự tò mò,  
thích thú mà còn biết dừng lại để chêm xen  
vào những diễn ngôn tả để tăng sức gợi  
cho lời kể, giúp người đọc hình dung chi  
tiết về bối cảnh diễn ra câu chuyện, về  
nhân dáng, về những ngõ ngách trong tâm  
hồn vốn nhiều bí ẩn của nhân vật. Thấu  
triệt được điều đó, Đỗ Tiến Thụy đã sử  
dụng sự hòa phối giữa diễn ngôn kể và tả  
rất đa dạng với nhiều cách thức khác nhau.  
Đó có thể là kể trước tả sau hoặc tả trước  
kể sau. Tất cả giúp cho cảnh vật, con  
người hiện ra không đơn điệu, nhàm chán.  
Để hiện thực hóa tình yêu đầu đời với  
chị Miền, Vinh trong Màu rừng ruộng đã  
3.3. Hòa phối diễn ngôn kể và tả  
Lại Nguyên Ân cho rẳng: “Nét đặc  
thù của tự sự là vai trò tổ chức của trần  
thuật: nó thông báo về các biến cố, các  
tình tiết như thông báo về một cái gì đó đã  
xảy ra và được nhớ lại, đồng thời mô tả  
85  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
đi mua hoa hồng về trồng ở bãi đất ven  
sông: “Bãi sông hoang hoải. Những cây  
trúc quân tử thẳng nuột rào cánh sẻ.  
Những cây cải bắp giống KK81 Vinh mua  
tận Bắc Ninh bén rễ vào phù sa mơn  
mởn. Sớm tinh mơ Vinh đã trở dậy gánh  
đôi ô – roa ra bãi sông. Những giọt  
sương mai long lanh đậu trên cành lá  
tinh khôi như nước mắt chị Miền. Nước  
sông mùa đông buốt ngắt, mỗi lần thò  
xuống tưởng đâu rụng cẳng nhưng cũng  
không ngăn được ý chí của Vinh. Chị thấy  
chưa hở chị? Những bông hồng xanh  
đang ngày đêm xòe cánh, lớn lên” (Đỗ  
Tiến Thụy, 2017a: 93). Trong đoạn văn  
trên, diễn ngôn kể thông báo cho độc giả  
biết địa điểm trồng hoa ở bãi sông; nó có  
các loại cây như trúc quân tử, cải bắp  
giống KK81, hoa hồng xanh; Vinh đang  
cùng chị Miền ở đấy vào buổi sáng sớm  
tinh mơ. Còn diễn ngôn tả (được in đậm)  
đi vào miêu tả chi tiết hình dáng của cảnh  
vật và khung cảnh ven sông. Chúng hiện  
lên thật đẹp đẽ, thuần khiết, tinh khôi dù  
đang vào mùa đông. Cái mơn mởn của  
những cây cải bắp, giọt sương long lanh  
đậu trên cành lá và những bông hồng xanh  
ngày đêm xòe cánh, lớn lên bất chấp giá  
rét tượng trưng cho sự chân thành, ấm áp  
trong trái tim của cậu trai mới lớn dành  
cho chị Miền. Chính sự hòa phối giữa kể  
và tả đã mang lại giọng điệu trữ tình, nhẹ  
nhàng đầy chất thơ cho đoạn văn. Đồng  
thời, nó toát lên vẻ đẹp tâm hồn trong  
sáng, đầy mộng mơ của nhân vật chính.  
Khi một mình, một voi đối đầu với  
thân cây giữ nguyên dáng chết của thớt voi  
dũng mãnh. Không thấy Krol đâu. Đoàn  
săn túa ra xung quanh soi từng gốc cây bụi  
cỏ. Họ chỉ thấy máu thịt chàng đỏ chói tóe  
lên cây lá thành những tia mặt trời, thành  
những đóa hoa bất tử. Trong ánh đuốc,  
nước mắt bò trên những khuôn mặt thợ săn  
đỏ lừ như nham thạch” (Đỗ Tiến Thụy,  
2017a: 249). Lời kể chùng xuống nhưng  
không bi lụy. Bởi nó vừa kể vừa tả về cảnh  
tượng bi tráng ngay giữa núi rừng Tây  
Nguyên bạt ngàn. Lửa đuốc đốt lên cháy  
sáng một góc rừng. Cả đoàn săn voi túa ra  
đi tìm Krol nhưng không thấy chàng còn  
vẹn nguyên trong hình hài mà nó đã “tóe  
lên cây lá thành những tia mặt trời, những  
đóa hoa bất tử”. Những Laigang, những  
người đàn ông chân chính của tộc người  
M’Nông Yook Đôn đã khóc. Giọt nước  
mắt ấy đỏ lừ như nham thạch để xót  
thương cho một chàng trai dũng cảm vì  
một chút bồng bột của yêu thương mà phải  
trả giá bằng mạng sống của mình. Nhưng  
đó còn là những giọt nước mắt đầy cảm  
phục, trân trọng. Bởi họ hiểu, chàng trai trẻ  
ấy đã hóa thành những đóa hoa bất tử của  
lòng dũng cảm, ý chí sắt đá, kiên cường,  
của thái độ dám chịu trách nhiệm về những  
gì mình làm. Nhờ sự hòa phối giữa kể và  
tả, chúng ta còn nhận ra màu sắc huyền  
hoặc, kỳ ảo đậm chất Tây Nguyên trong  
lời kể ở đoạn văn này.  
Với hơn mười năm đóng quân ở Tây  
Nguyên, Đỗ Tiến Thụy khá am hiểu về  
thiên nhiên, con người, phong tục tập quán  
nơi đây. Vậy nên, những lời kể, lời tả trong  
tiểu thuyết của anh đều phảng phất dấu ấn  
văn hóa của vùng đất đỏ bazan. “Ông men  
theo lối cuội trắng sạch tinh ngắm suối.  
Dòng nước lững lờ hoa trôi đưa chân ông  
ngược nguồn. Sau lúc khom mình chui qua  
một vạt rừng ven suối có thân cây già đanh  
đàn voi rừng hung dữ, Krol biết trước hậu  
quả. Thế nhưng, cậu vẫn chiến đấu như  
một Laigang thực thụ. Cái chết của cậu là  
cái chết vinh quang: “Đuốc được đốt lên.  
Đoàn săn lặng phắc cúi đầu trước cảnh  
tượng bi tráng. Chiếc ngà voi xuyên thấu  
86  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
quằn quại, mặc dù đã biết trước nhưng  
ông vẫn ngẩn người. Ngực ông giật lên  
những nhịp bồi hồi. Nơi này, ông và nàng  
đã từng có những giờ phút thần tiên. Ông  
đã cùng nàng bước như mơ giữa triệu  
triệu con bướm tím than nhịp cánh trên  
miên man hoa cỏ. Bao năm rồi cảnh vẫn  
hoang miên thế. Chỉ có người là…Ông giật  
mình dụi mắt. Bóng sơn nữ bước ra từ xa  
xưa. Sơn nữ mê mải lựa những búp hoa  
vừa hé đưa lên mặt hít hà rồi thả nhẹ vào  
lưng gùi. Chiếc gùi đã ăm ắp sắc màu, trên  
tay cũng bộn bề hoa, sơn nữ rời gót…”  
(Đỗ Tiến Thụy, 2017b: 146). Đó là lời của  
con chim joong trong tiểu thuyết Con chim  
joong bay từ A đến Z kể về lúc ông Khoa  
“chạy trốn” những rắc rối ở hiện tại. Ông  
chọn Tây Nguyên để lánh nạn. Đây là  
vùng đất hẻo lánh, nơi có thiên nhiên chan  
hòa, cuộc sống yên bình, thanh thản. Lời  
kể cho ta biết ông đi men theo một con  
suối, rồi chui qua vạt rừng và hồi tưởng lại  
thời khắc gặp được nàng (Y Linh) trong sự  
ngỡ ngàng, hạnh phúc ngất ngây. Xâm  
nhập vào diễn ngôn kể đó là những diễn  
ngôn tả về thiên nhiên ở hiện tại, thiên  
nhiên ở quá khứ, về hành động sơn nữ hái  
hoa bỏ vào gùi…Những chi tiết ấy dẫn dắt  
nhân vật quay trở về với thời quá khứ–  
thời ông và Y Linh có một mối tình đẹp  
đẽ, nguyên sơ, thuần khiết.  
mây trắng bay lâng lâng trên trời xanh  
thênh thang, nàng thủ thỉ kể về mình. Nàng  
bị vu là ma lai từ năm mười ba tuổi. Cái lí  
những người đàn bà trong làng đưa ra  
không ai cãi được. Không là ma lai thì tại  
sao người nó lại tỏa ra mùi ma, đi đến đâu  
bướm theo đến đó. Không là ma lai thì tại  
sao đàn ông có vợ nhìn thấy nó là bỏ bê  
nương rẫy, ở nhà ôm ghè rượu tới say rồi  
chửi vợ mắng con. Không là ma lai thì tại  
sao trai tráng nhìn nó là không còn muốn  
đi săn, mà dùng lao dùng nỏ đánh nhau  
náo loạn buôn làng… Ông lật người nằm  
nghiêng, một tay chống đầu, tay kia đặt lên  
bầu ngực no nê còn ửng hồng dưới nắng,  
hấp háy nhìn vào mắt nàng tủm tỉm cười.  
Nàng bật hỏi cười gì thế. Ông không trả  
lời. Ông không thể nói cho nàng nghe cái ý  
nghĩ vừa vụt đến trong đầu. Nhan sắc là  
thứ bị đố kỵ bậc nhất. Đời ông thậm ghét  
sự đố kỵ, nhưng lúc đó ông lại thầm biết  
ơn. Nhờ nó mà nàng được đẩy ra rừng để  
dành riêng cho ông…” (Đỗ Tiến Thụy,  
2017b: 170 - 171). Trường hợp này có ba  
người kể chuyện. Một là nhân vật Khoa kể  
lại ký ức gặp Y Linh. Hai là Y Linh kể cho  
Khoa nghe vì sao mình bị dân làng vu là  
ma lai. Ba là con chim joong kể lại lời của  
hai người kia cho chúng ta nghe. Lời kể  
chậm rãi, đầy chất thơ, xốn xang cảm xúc.  
Nó được đan xen với lời tả về những hành  
động của ông Khoa khi nằm bên cạnh Y  
Linh. Hành động của kẻ đang ngất ngây,  
rạo rực trong men say của ái tình: “Nằm  
ngửa bên nhau trên thảm cỏ dập ứa mùi  
hăng ngọt nhìn mây trắng bay lâng lâng  
trên trời xanh thênh thang… Ông lật người  
nằm nghiêng, một tay chống đầu, tay kia  
đặt lên bầu ngực no nê còn ửng hồng dưới  
nắng, hấp háy nhìn vào mắt nàng tủm tỉm  
cười”. Ngoài ra, diễn ngôn tả còn cho biết  
những nghĩ suy diễn ra đầu Khoa. Ông  
Cũng trong dòng hồi tưởng miên man,  
ở một đoạn khác, ông tiếp tục nhớ về lần  
gặp lại Y Linh sau hơn mười năm. Điều  
ngạc nhiên là nàng vẫn sống một mình,  
cách xa với dân làng và chờ đợi ông. Thế  
là, sau bao kìm nén, bức bối trong đời sống  
vợ chồng với bà Nga, ông đã “lao vào  
nàng” với tất cả sự cuồng say: “Đó là lần  
đầu tiên trong đời ông mới biết thế nào là  
khoái cảm tuyệt đỉnh. Nằm ngửa bên nhau  
trên thảm cỏ dập ứa mùi hăng ngọt nhìn  
87  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
thấu hiểu vì sao những người đàn bà trong  
buôn làng lại vu cho Y Linh là ma lai. Vì  
họ đố kỵ với nhan sắc của nàng. Nhưng  
cũng chính nhờ thế, nàng mới dành cho  
riêng ông. Phải chăng đây là định mệnh?  
Định mệnh này mang đến cho ông một  
quãng đời đẹp nhất, đong đầy men say của  
hạnh phúc. Thứ hạnh phúc mà khi quay trở  
về với công việc, với gia đình ở Hà Nội  
ông sẽ không bao giờ có.  
con cháu mình trắng trợn tham nhũng,  
nhận hối lộ; lòng dũng cảm, tự trọng của  
một thợ săn voi; vẻ đẹp mê hồn của thiên  
nhiên Bắc Bộ và Tây Nguyên… Vì vậy, sự  
kết hợp diễn ngôn người kể chuyện và  
nhân vật, đan xen diễn ngôn đối thoại - độc  
thoại, hòa phối giữa diễn ngôn kể - tả đã  
góp phần không nhỏ làm nên thành công  
trong nghệ thuật tự sự ở tiểu thuyết của Đỗ  
Tiến Thụy.  
Sự hòa phối giữa diễn ngôn kể và tả  
trong hai cuốn tiểu thuyết của Đỗ Tiến  
Thụy là điều hiển nhiên. Nó hiện tồn như  
điều bắt buộc phải có trong nghệ thuật tự  
sự. Không thể nói cái nào quan trọng hơn  
cái nào. Bởi độ đậm – nhạt khi hòa phối  
chúng còn tùy thuộc vào ngữ cảnh, vào ý  
đồ của người sáng tác. Dù ở mức độ nào  
thì chúng cũng luôn song hành, bổ trợ cho  
nhau giúp cho câu chuyện được kể thêm  
hay hơn, lôi cuốn hơn; hiện thực đời sống  
đi vào chi tiết, cụ thể; thế giới nhân vật  
hiện lên chân thực, góc cạnh.  
Tài liệu tham khảo  
Lại Nguyên Ân (2017). 150 thuật ngữ văn học.  
Hà Nội, Nxb Văn học.  
Diệp Quang Ban (2009). Giao tiếp diễn ngôn  
và cấu tạo của văn bản. Hà Nội, Nxb  
Giáo dục.  
Lê Bá Hán (chủ biên) (2010). Từ điển thuật  
ngữ văn học. Hà Nội, Nxb Giáo dục.  
Đoàn Thị Minh Huyền (2014). Đặc điểm diễn  
ngôn trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh  
Thái. Luận văn Thạc sĩ Văn học, Trường  
Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.  
Phương Lựu (chủ biên) (2006). Lý luận văn  
học. Hà Nội, Nxb Giáo dục.  
David Numan (1997). Hồ Mỹ Huyền, Trúc  
Thanh dịch. Dẫn nhập phân tích diễn  
ngôn. Hà Nội, Nxb Giáo dục.  
Pilin, I. P. và Tzurganova, E. A. (-). Đào Tuấn  
Ảnh, Lại Nguyên Ân, Trần Hồng Vân  
dịch (2003). Các khái niệm và thuật ngữ  
của các trường phái nghiên cứu văn học ở  
Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX. Hà Nội,  
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.  
4. Kết luận  
Lời văn thuộc về hình thức nên nó  
phải gắn bó chặt chẽ và phục tùng nội  
dung tác phẩm. Các phương tiện, phương  
thức được sử dụng chỉ trở thành lời văn  
nghệ thuật khi nó gắn liền với một nội  
dung cụ thể và biểu hiện đắc lực cho nó.  
Nghiên cứu lời văn nghệ thuật nhìn từ diễn  
ngôn nghệ thuật trong tiểu thuyết Màu  
rừng ruộng và Con chim joong bay từ A  
đến Z của Đỗ Tiến Thụy, mọi người sẽ  
thấy chúng đều biểu đạt những nội dung cụ  
thể. Đó có thể là nỗi day dứt, đớn đau của  
người cha khi thấy con mình dang dở  
đường công danh; sự ê chề của người  
chồng khi bị vợ xỉa xói; niềm hả hê của  
người nông dân lúc giành lại việc làm cho  
đàn trâu làng; tâm trạng bức xúc khi thấy  
Đỗ Tiến Thụy (2017a). Màu rừng ruộng.  
Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ.  
Đỗ Tiến Thụy (2017b). Con chim joong bay từ  
A đến Z. Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ.  
88  
pdf 13 trang yennguyen 17860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Tiến Thụy nhìn từ diễn ngôn nghệ thuật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfloi_van_nghe_thuat_trong_tieu_thuyet_cua_do_tien_thuy_nhin_t.pdf