Các hình thức đánh giá cho môn Ngữ văn trong dạy và học

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
CÁC HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ CHO MÔN NGỮ VĂN TRONG DẠY VÀ HỌC  
Trần Lê Hoa Tranh  
Trường Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh  
Nhận bài ngày: 6/6/2019; Ngày duyệt đăng: 27/08/2019  
Tóm tắt  
Trong chuỗi hoạt động dạy và học, việc tổ chức đánh giá môn học rất quan trọng. Việc đánh  
giá môn học thường phải dựa vào mục tiêu môn học, và chuẩn đầu ra. Với định hướng chú trọng  
phát triển năng lực của người học, việc đánh giá môn học phải thể hiện rõ thang năng lực, thể hiện  
rõ các cách thức đánh giá đáp ứng các năng lực nào, ở mức độ nào.  
Chúng tôi lược dịch dựa trên bài viết về các cách thức đánh giá trong giảng dạy của Đại học  
Curtin (Curtin Teaching and Learning, 2010) Developing Appropriate Assessment Tasks. Ở mỗi  
cách thức đánh giá, người viết đều đưa ra điểm mạnh, điểm yếu, nên áp dụng như thế nào,… Đồng  
thời chúng tôi cũng đưa ra một số kinh nghiệm đã áp dụng cho các môn học mà chúng tôi trực tiếp  
giảng dạy hoặc quan sát để có thể xem như đây là một diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với  
các thầy cô có quan tâm.  
Từ khóa: phương pháp đánh giá, môn ngữ văn, kết quả học tập.  
Types of Assessment Methods for Literature Subjects in Teaching and Learning  
Abtract  
In teaching and learning activities, organize course/ subject assessment is very important that  
we often meet difficulties in social sciences, especially literature. Course assessment needs to base  
on learning outcomes and objectives of the subject. With the trend focusing on developing the ability  
of students, the subject’s assessment methods need to clarify ability taxonomy and ability level.  
We translate an article of Curtin University (Australia) about developing appropriate  
assessment tasks. At the same time, we give our own experiences when we’ve applied for our courses  
in our faculty. We can consider this is a forum that we discuss about the teaching experience together.  
Keywords: assessment methods, literature subjects, learning outcomes.  
Lâu nay trong các môn khoa học xã hội, đặc  
biệt là môn Ngữ văn, chúng ta gặp lúng túng  
trong việc đánh giá môn học. Đối với môn Ngữ  
văn, chúng ta quen thuộc với cách ra đề theo  
kiểu ra một hoặc hai câu nghị luận, người học  
thông qua đó trình bày hiểu biết của mình. Cách  
đánh giá này không hề sai, vì qua đó, thầy/ cô  
biết được kiến thức của người học đến đâu; kỹ  
năng phân tích, lập luận, cảm thụ, và kỹ thuật  
viết đến mức nào. Tuy nhiên, chúng ta đã bỏ qua  
một số kỹ năng khác cần có của các môn học  
thuộc lĩnh vực khoa học xã hội (KHXH), đặc  
biệt là môn Ngữ văn, ví dụ như kỹ năng tranh  
biện, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng nói trước  
công chúng, kỹ năng viết bài tổng thuật, kỹ năng  
đi điền dã, kỹ năng ứng dụng các hiểu biết nghệ  
thuật,…  
Có rất nhiều cách đánh giá khác nhau, người  
dạy là người sẽ chọn một hoặc nhiều phương  
thức khác nhau dưới đây để áp dụng, nhưng cần  
chú ý là các phương thức đánh giá phải phù hợp  
với chuẩn đầu ra của chương trình/ môn học và  
phù hợp với các hoạt động dạy và học của thầy  
và trò (như vậy có nghĩa là chúng ta cần lưu ý  
đến cả phương tiện giảng dạy, cơ sở vật chất, số  
lượng người học,…)  
Sau đây là một số cách thức đánh giá phổ  
biến cho môn Ngữ văn được lược dịch dựa trên  
79  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
bài Developing Appropriate Assessment Tasks  
(Curtin Teaching and Learning, 2010).  
1. Các bài kiểm tra ngắn và trắc nghiệm  
(short form and multiple choice tests) - không  
sử dụng thường xuyên để kiểm tra kỹ năng liên  
quan đến tư duy bậc cao.  
bài kiểm tra khách quan. Chúng bao gồm bài  
kiểm tra trắc nghiệm, hoàn thành câu, đúng- sai  
và các loại kết hợp (ví dụ như câu a hợp với chọn  
lựa 2, câu b hợp với chọn lựa 4,...), trong đó trắc  
nghiệm được sử dụng phổ biến nhất. Lưu ý là  
rất ít bài kiểm tra ngắn kiểu như vậy đánh giá  
các kỹ năng tư duy bậc cao.  
Dạng bài kiểm tra này còn được gọi là các  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Đo lường nhiều mẫu nội dung  
- Mất ít thời gian để làm bài  
- Việc xem và cho điểm cũng nhanh chóng  
- Tương đối khó tạo ngân hàng đề vì cần nhiều  
câu hỏi (so với dạng câu hỏi ngắn mà phía  
dưới chúng tôi sẽ trình bày)  
- Việc xem xét khiếu nại điểm cũng dễ dàng, - Khó thiết lập các tiêu chí  
phản hồi nhanh  
- Việc chấm điểm có thể chủ quan (tùy vào  
- Các câu hỏi có thể tái sử dụng trong các bài  
kiểm tra khác nhau  
- Độ đánh giá là chính xác  
năng lực ra đề, có thể sẽ còn gây trang cãi về  
đáp án giống như trường hợp một số game  
show học thuật gần đây trên truyền hình)  
- Có thể khuyến khích việc đoán mò đáp án  
- Có ít cơ hội tranh luận và ít thể hiện tính độc đáo.  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương pháp  
đánh giá này:  
- Đáp án phải bao gồm ý tưởng ngắn gọn, đơn  
giản, rõ. Nên độc lập với các phần còn lại của  
câu hỏi.  
luận điểm chính, tập trung vào các sự kiện,  
thông tin chính, tránh lan man, diễn giải dài  
dòng.  
Ví dụ: câu trắc nghiệm cho môn Văn học  
Trung Quốc:  
- Tránh các từ ngữ khó hiểu, gây nhầm lẫn  
- Đảm bảo các lựa chọn thay thế đều phù hợp  
về ngữ pháp, từ vựng với đáp án và tương tự  
về phong cách, dạng và độ dài.  
Giả Đảo nổi tiếng với điển tích  
a. “thôi, xao”  
b. Hoàng Hạc lâu  
c. Ôm trăng mà chết  
- Câu trả lời đúng sẽ xuất hiện không có khuôn  
mẫu và thường xuyên ở mỗi vị trí thay thế  
(tức là không nên để câu trả lời đúng ở tất cả  
các câu a, hoặc b, hoặc c, hoặc d)  
Theo kinh nghiệm của riêng chúng tôi, trong  
một số đề thi, phần lý thuyết chúng tôi áp dụng  
vừa là trắc nghiệm, vừa là trả lời ngắn lý thuyết,  
điều này giúp người học khi ghi nhớ sẽ nhớ các  
d. Châu về hợp phố  
2. Câu hỏi- trả lời ngắn (short answer test)-  
không sử dụng thường xuyên để kiểm tra kỹ  
năng liên quan đến tư duy bậc cao  
Câu hỏi trả lời ngắn yêu cầu một câu trả lời  
ngắn gọn bao gồm một cụm từ, câu hoặc đoạn  
văn ngắn. Ví dụ: “giải thích ngắn gọn mục đích  
của việc đánh giá quá trình”  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Đo lường được nội dung khá rộng rãi một cách - Tương đối khó làm so với cách đánh giá số  
tương đối  
- Tương đối dễ và nhanh chóng  
1 (trả lời dạng ngắn hoặc trắc nghiệm)  
- Khó thiết lập các tiêu chí  
- Khuyến khích sự diễn đạt rõ ràng và súc tích - Việc chấm điểm có thể chủ quan  
- Khuyến khích việc đọc (vì thế hay được dùng - Có thể khuyến khích người học đoán kết quả  
cho các bài quizzes kiểm tra bài trước giờ học) - Ít cơ hội tranh luận và ít thể hiện tính độc đáo  
- Dễ dàng xem lại bài đã chấm  
- Có thể tái sử dụng các câu hỏi  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương  
pháp đánh giá này:  
- Diễn giải thật rõ ràng về những gì bạn muốn  
hỏi  
Yêu cầu về nhà: người học đọc một số  
chương giáo viên yêu cầu trong cuốn Sử ký của  
Tư Mã Thiên, sau đó đến lớp giáo viên sẽ cho  
làm một bài kiểm tra ngắn sau:  
- Tránh sử dụng những cụm từ trích nguyên  
văn từ sách giáo khoa/giáo trình  
1. Sở Vương là ai?  
2. Lã Bất Vi làm nghề gì?  
Cả hai cách thức đánh giá trên còn có thêm  
một ưu điểm, đó là chúng tôi có thể để sinh viên  
đánh giá chéo (peer assess). Trong môn học của  
mình, chúng tôi thường hay cho các câu hỏi nhỏ,  
các câu trả lời đúng-sai, sau đó để người học trao  
đổi bài và đánh giá lẫn nhau, giúp người học  
nâng cao kỹ năng đánh giá.  
3. Kinh Kha là người nước nào?  
4. Nhân vật chính trong câu chuyện “Hồng  
Môn yến” là ai?  
5. Thành ngữ “nếm mật nằm gai” nằm trong  
câu chuyện về nhân vật nào?  
3. Bài luận (essay) – có thể kiểm tra kỹ năng  
liên quan đến tư duy bậc cao  
Hai hình thức đánh giá này thường được  
dùng như một hình thức kiểm tra người học có  
đọc bài trước ở nhà hay không. Khi dự giờ một  
số môn học ở Hoa Kỳ, chúng tôi nhận thấy các  
thầy cô giáo rất hay sử dụng. Chúng tôi cũng áp  
dụng cho các môn học của mình và thấy khá  
hiệu quả.  
Các bài luận yêu cầu học sinh lựa chọn, tổ  
chức và tích hợp tài liệu về một chủ đề cụ thể.  
Kiểu đánh giá này cũng kiểm tra khả năng viết  
và khả năng phát triển một luận cứ và sử dụng  
các minh chứng để hỗ trợ. Các bài luận có thể từ  
1 trang (300 từ đánh máy) đến các bài tập chính  
10 trang (3000 từ). Các bài luận có thể được viết  
theo hình thức thi cử hoặc bài tập nghiên cứu.  
Khả năng đạo văn là cao.  
Ví dụ cho bài kiểm tra câu hỏi trả lời ngắn  
trong môn Văn học Trung Quốc  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Nội dung không bao quát  
- Các câu hỏi có thể không được trả lời một  
cách thấu đáo  
- Tính chủ quan có thể ảnh hưởng đến việc  
chấm điểm một cách công bằng  
- Mất thời gian nhiều hơn hai cách đánh giá 1  
và 2  
- Giúp người học phát triển kỹ năng viết  
- Có thể bộc lộ được những sai sót của người  
học khi hiểu một vấn đề nào đó  
- Thời gian nghĩ câu hỏi ngắn  
- Có thể năng cao hiểu biết về một chủ đề nào  
đó  
- Giúp phát triển kỹ năng lấy thông tin tốt  
- Sự nhất quán trong việc chấm điểm (tức là  
độ tin cậy) khó duy trì  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương pháp  
đánh giá này:  
Đây là hình thức đánh giá được sử dụng  
nhiều trong các môn khoa học xã hội, đặc biệt là  
môn Ngữ văn ở trường phổ thông và đại học. Có  
lẽ 70% đề thi và kiểm tra trong lớp là theo hình  
thức này. Do đó những ưu điểm, nhược điểm và  
các lời khuyên trên đây có lẽ sẽ khá hữu ích cho  
người dạy. Kinh nghiệm của chúng tôi khi giảng  
dạy, chúng tôi đưa ra khá nhiều yêu cầu bài luận  
từ đơn giản đến phức tạp và luôn dùng các chủ  
đề đặc thù để tránh sao chép. Ví dụ: đọc một  
chương sách/ một truyện ngắn và viết bài cảm  
nhận (đơn giản); so sánh hai hiện tượng văn học  
- Hãy cho những chủ đề phức tạp và theo tình  
huống/giải quyết tình huống để người học  
phải áp dụng chứ không phải là hồi phục kiến  
thức (như vậy người học sẽ ít khả năng sao  
chép, đạo văn)  
- Yêu cầu người học nộp bản nháp, đề nghị sửa  
chữa, sau đó đánh máy lại, chú ý xem người  
học đã sửa bài luận thế nào.  
- Đưa ra các thang chấm điểm cụ thể cho chất  
lượng bài luận và tài liệu tham khảo.  
81  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
và viết một bài tiểu luận dài (phức tạp). Đối với  
môn Ngữ văn, nếu có các đề bài luận thích hợp,  
đây là hình thức đánh giá phát triển nhiều mục  
tiêu môn học nhất: kiểm tra về kiến thức, về tư  
duy, về phương pháp; kiểm tra về kỹ năng giải  
quyết tình huống, kỹ năng lấy thông tin, kỹ năng  
làm chủ văn bản, kỹ năng viết lách.  
tra kỹ năng liên quan đến tư duy bậc cao  
Báo cáo bằng văn bản là một cách phổ biến  
để trình bày thông tin, kiến nghị hoặc kết luận  
liên quan đến một mục đích cụ thể. Báo cáo  
được viết dựa trên việc thu thập, phân tích thông  
tin, sử dụng phương pháp luận cụ thể. Có thể sử  
dụng đánh giá các thí nghiệm, nghiên cứu hiện  
trường, nghiên cứu trường hợp,…  
4. Viết báo cáo (written report) - có thể kiểm  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Người học có thể làm giả dữ liệu, thông tin,  
các con số  
- Nhân rộng hoạt động thực tiễn  
- Việc đánh giá, cho điểm tương đối nhanh  
- Người học luyện tập viết theo một mẫu có tiêu - Việc cho điểm đôi khi còn chủ quan  
chuẩn định dạng nhất định  
- Có thể đánh giá kỹ năng chung chung như lấy  
thông tin, khả năng vi tính,…  
- Hỗ trợ việc phản ánh và giải quyết vấn đề  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương pháp  
đánh giá này:  
người học,… Do đó, đây cũng là hình thức đánh  
giá khá quan trọng.  
- Nêu rõ ràng cho người học các kỹ năng viết  
báo cáo hiệu quả trước khi sử dụng báo cáo  
như một công việc đánh giá  
5. Thực tập điền dã/thực hành kiểm tra  
(fieldwork/ practicum tests)- có thể kiểm tra các  
kỹ năng tư duy bậc cao.  
- Xác lập rõ ràng về định dạng của báo cáo và  
đưa các ví dụ về một báo cáo tốt và kém.  
- Cho người học biết các thang điểm về ngôn  
ngữ (ngữ pháp, chính tả, chấm câu,…) cũng  
như là thang điểm tổng để đánh giá một báo  
cáo chất lượng.  
Viết báo cáo khá phổ biến khi thực hiện một  
dự án lớn, hoặc luận văn tốt nghiệp của các môn  
KHXH, ví dụ như các báo cáo về khảo sát xã hội  
học, về nhu cầu, về việc ứng dụng một phương  
pháp giảng dạy mới cần đo lường phản ứng của  
Các kinh nghiệm thực địa và thực tiễn cung  
cấp cơ hội để đánh giá tại chỗ hoặc sau khi trải  
nghiệm. Các bài kiểm tra thực địa có thể bao  
gồm: các bài kiểm tra về hiệu suất làm việc tại  
chỗ hoặc nhiệm vụ được giao sau đó, bao gồm  
việc đánh giá cả các kỹ năng và khả năng tại nơi  
làm việc trong suốt thời gian thực hiện. Việc  
đánh giá có thể do chuyên viên của trường, hoặc  
chuyên viên nơi người học đến thực địa (ví dụ  
như giám sát viên, nhân viên bảo tàng- nếu đi  
bảo tàng).  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Đánh giá được tính độc đáo, thực tế và kinh - Tính nhất quán của việc đánh giá điểm là một  
nghiệm học tập thực tiễn của người học vấn đề  
- Cung cấp cơ hội cho việc tham gia vào các - Thiếu kiểm soát các kinh nghiệm thực địa  
hoạt động cộng đồng và triển vọng xin việc sau - Người học có thể không thực hiện được các  
này  
công việc vì họ không phải là những người  
thực địa chuyên nghiệp (vì thế đừng đưa ra  
yêu cầu quá khó)  
- Khuyến khích người học sau đó đi làm thêm.  
- Phải dành thời gian cho chuyên viên đi tiền  
trạm, đánh giá, tổ chức.  
- Khó kiểm soát được việc đánh giá nếu giao  
cho chuyên viên nơi thực địa.  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương pháp  
đánh giá này:  
- Sử dụng các chiến lược để giảm bớt những  
lo lắng, rủi ro: ví dụ như huấn luyện các  
chuyên viên đánh giá cho tốt, huấn luyện  
người học tự đánh giá,…  
- Đảm bảo môi trường được kiểm soát, nếu có  
thể, để giảm bớt những rủi ro hay gián đoạn  
trong quá trình thực địa. Điều này đòi hỏi quá  
trình tiền trạm, tổ chức phải thật tốt.  
- Xác lập rõ rang về định dạng, thang điểm  
đánh giá, các tiêu chuẩn thực hiện, tạo cơ hội  
cho người học có các đánh giá mẫu.  
Thực tập thực tế, điền dã là hoạt động phổ  
biến của các trường đại học, các khoa KHXH  
như văn học, ngôn ngữ học, lịch sử, nhân học,  
xã hội học, du lịch, quan hệ quốc tế, báo chí,  
truyền thông,… Những ưu điểm, nhược điểm  
trên tạo lập căn cứ để hoàn thiện việc thực tập  
điền dã vì trên thực tế, công tác này khá quan  
trọng đối với người học và với mục tiêu của  
chương trình đào tạo. Thông qua hoạt động này,  
người học thực hành nhiều kỹ năng quan trọng  
cần thiết cho bản thân. Lấy ví dụ, Khoa Văn học  
tổ chức hoạt động thực tập thực tế hàng năm ở  
một địa phương với quy trình kỹ càng, có đi tiền  
trạm, có người hướng dẫn sinh viên, có đánh giá  
cuối đợt, có sử dụng kết quả thực tập vào các  
hoạt động nghiên cứu của Khoa,…  
Hoạt động này chưa được chú ý ở bậc phổ  
thông, ngoại trừ việc tổ chức đi cắm trại cho học  
sinh (không thể xem như đây là hoạt động điền  
dã đúng nghĩa). Hoạt động điền dã, thực địa của  
học sinh phổ thông có lẽ nên được tổ chức nhiều  
hơn, phong phú hơn, ví dụ như đi bảo tàng, đi  
thăm mộ của một nhân vật được học trong sách  
giáo khoa, đi xem phim, xem kịch, dự các buổi  
giao lưu, thăm một trại mồ côi,…và cần có  
những đánh giá cuối đợt một cách công khai, có  
thang điểm rõ ràng.  
6. Làm dự án (projects) - có thể kiểm tra các  
kỹ năng tư duy bậc cao  
Các dự án là một phần mở rộng của công việc  
liên quan đến các hoạt động dựa theo yêu cầu  
của môn học. Các dự án có thể là nhỏ hoặc lớn,  
do cá nhân hoặc nhóm thực hiện và có kết quả  
như báo cáo, thiết kế, tác phẩm nghệ thuật, wiki,  
poster hay sản phẩm,…  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Cho phép người học tham gia nhiều hơn và có - Cần nhiều thời gian để phát triển, và đánh  
trách nhiệm trong việc học tập.  
giá, cho điểm.  
- Đánh giá người học học trong ngữ cảnh  
- Khuyến khích sáng kiến, sự độc lập và giải  
quyết vấn đề.  
- Có thể đánh giá một loạt các đầu ra bao gồm  
quản lý thời gian và công việc.  
- Thể hiện được các kỹ năng và các nỗ lực.  
- Có tính toàn diện, đa chiều và linh hoạt  
- Người học có thể khám phá một chủ đề sâu.  
- Có thể gây ra sự so sánh giữa người học nếu  
các dự án khác nhau.  
- Có thể cần phải có sự hợp tác, làm việc  
online (nên cơ sở vật chất phải đảm bảo)  
- Có thể phải có sự đầu tư ngoài (ví dụ như tài  
chính, tài trợ,…)  
Dạy học theo dự án là mô hình gần đây rất  
được quan tâm. Các ưu điểm và nhược điểm  
trình bày trên đây cho thấy đây là một hoạt động  
cần nhân rộng, khuyến khích. Tuy nhiên, cũng  
cần phải căn cứ vào tình hình về cơ sở vật chất,  
về thời gian để không biến dạy học dự án thành  
phong trào, hình thức, không thực chất.  
Truyện Kiều”, “Lưu Quang Vũ- Sức sống cùng  
thời gian” của THPT Chuyên Trần Đại Nghĩa”,  
“Sách và tuổi trẻ” của THPT Lê Thánh Tôn,…  
Thông qua việc làm một dự án, người học có thể  
học được nhiều kỹ năng mềm, phát huy sự sáng  
tạo, yêu mến đối tượng của dự án,…  
Ở trường đại học, những dự án của sinh viên  
là rất nhiều, ví dụ các cuộc thi văn học, thi ảnh,  
thi làm phim, các phong trào,…đều rất hữu dụng  
Một số trường THPT đã có những dự án  
thành công như dự án “Học sinh Phú Nhuận với  
83  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
cho sinh viên.  
7. Thuyết trình (presentations) - có thể kiểm  
tra các kỹ năng tư duy bậc cao  
Các bài thuyết trình thường là theo những chủ  
đề đã được chuẩn bị và có thể sử dụng những  
phương tiện trợ giúp như PowerPoint hay các tài  
liệu phát tay. Hình thức đánh giá này có thể thực  
hiện cá nhân hay nhóm. Các bài thuyết trình có  
thể có các hình thức khác nhau như đóng vai, hoạt  
động nhóm, hội thảo, thuyết trình hội nghị, tranh  
luận, trình bày sản phẩm, thời gian hỏi-đáp và bài  
phát biểu chính thức (speech).  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Có thể đánh giá một loạt các chuẩn đầu ra bao - Có thể mất nhiều thời gian trong giới hạn các  
gồm các kỹ năng chung cuộc họp lớp  
- Việc đánh giá, cho điểm với các tiêu chí đặt - Yêu cầu về công nghệ/ các phương tiện nghe  
ra nhanh chóng và đáng tin cậy  
- Người dạy có thể đánh giá ngay và phản hồi  
lập tức cho người học  
- Chủ đề đa dạng  
- Cho phép người học thể hiện tính độc đáo và  
quyền tranh luận.  
nhìn cho người học (tức là cơ sở vật chất phải  
tốt)  
- Có thể làm người học hơi căng thẳng, lo lắng  
- Người học có khuynh hướng khi thuyết trình  
sẽ chỉ đọc.  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương pháp  
đánh giá này:  
- Đặt giới hạn thời gian tối thiểu và tối đa cho  
mỗi bài thuyết trình  
- Nếu chia nhóm thuyết trình, đưa ra trước yêu  
cầu từ người dạy, từ mỗi thành viên trong  
nhóm, điểm sẽ được bàn luận giữa các thành  
viên trong nhóm.  
- Cho người học cơ hội phát triển và thực hành kỹ  
năngnóitrước côngchúngtrước khithuyếttrình.  
- Đảm bảo người học không được đọc bài  
trước khán giả, cần nhắc nhở, ngay cả khi họ  
sử dụng những tờ ghi chú.  
Phương pháp thuyết trình đang được sử dụng  
rộng rãi ở các trường đại học, và ngay cả trường  
khối trường phổ thông trung học, phổ thông cơ  
sở. Một lưu ý tưởng không thừa đó là cần cân  
nhắc số lượng và quy mô đề tài thuyết trình ở  
mỗi khóa học, không nên để quá nhiều, hoặc quá  
nặng. Nhiều lớp học bị cho quá nhiều đề tài thì  
người học sẽ làm quấy quá cho xong, không có  
chất lượng. Người dạy cũng cần theo dõi sát sao  
tiến trình chuẩn bị ở các nhóm/cá nhân để đảm  
bảo chất lượng thuyết trình đồng thời có những  
nhận xét kỹ lưỡng sau mỗi bài thuyết trình để  
người học có thêm kinh nghiệm.  
Một ý tưởng nữa cho hình thức đánh giá này  
là người dạy hoàn toàn có thể để các nhóm đánh  
giá chéo nhau trên cơ sở đưa ra một thang điểm  
(rubric) cụ thể và chính xác. Chúng tôi đã áp  
dụng nhiều năm nay cho môn học của mình và  
chúng tôi nhận thấy các nhóm đánh giá nhau khá  
chính xác, cẩn thận.  
8. Nghiên cứu tình huống (case study) - có  
thể kiểm tra các kỹ năng tư duy bậc cao  
Nghiên cứu tình huống liên quan đến tình  
huống, thông tin và các vấn đề có thể cung cấp  
cơ hội học tập sâu hơn cho người học. Tình  
huống có thể là một kinh nghiệm thực tế, bao  
gồm các chi tiết xác thực, hay kinh nghiệm thực,  
trong đó một số yếu tố được thay đổi để tránh  
nhận dạng, hoặc có thể là giả thuyết. Mục đích  
là để cung cấp cho người học cơ hội để khám  
phá và áp dụng các kỹ năng và lý thuyết mà họ  
đã học được trong một lĩnh vực nghiên cứu có  
liên quan. Một phân tích nghiên cứu tình huống,  
bao gồm phản hồi cá nhân của người học đối với  
tình huống, thường được trình bày dưới dạng  
một báo cáo viết hay nói. Trong các phân tích  
này, chúng ta có thể đánh giá về cách người học  
áp dụng kỹ năng và/ hoặc lý thuyết trong phạm  
vi các kết quả học tập dự kiến.  
84  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
Ưu điểm  
TẬP 6 SỐ 4  
Nhược điểm  
- Có thể bao quát một số chuẩn đầu ra  
- Tiêu chuẩn đánh giá có thể khó xác định  
- Tính chủ quan có thể ảnh hưởng đến việc cho  
điểm  
- Khuyến khích việc học tập thực chất  
- Giúp phát triển các kỹ năng tư duy phản biện  
- Có thể phát triển kỹ năng viết bậc cao  
- Có thể đánh giá một loạt các kỹ năng hoặc kết  
quả học tập dự kiến bao gồm các kỹ năng  
chung  
- Mất thời gian cho điểm nhiều hơn.  
- Ít đạo văn  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương pháp  
đánh giá này:  
pháp các môn Ngữ văn hay sử dụng ở bậc đại  
học, sau đại học, nhất là trong trường hợp làm  
tiểu luận, niên luận, khóa luận tốt nghiệp. Như  
vậy, lưu ý nhất vẫn là các trường hợp nghiên cứu  
phải có điểm mới, điểm chưa rõ ràng để người  
học áp dụng các kiến thức đã học. Thang điểm  
cần cụ thể, chặt chẽ để tránh trường hợp đạo văn.  
9. Làm áp phích (poster) - có thể kiểm tra  
các kỹ năng tư duy bậc cao  
Làm áp phích/poster là biểu diễn trực quan  
một chủ đề hoặc kết quả của một hoạt động học  
tập. Poster có thể sử dụng các phương tiện  
truyền thông khác nhau, bao gồm công nghệ học  
tập, có thể làm cá nhân hoặc làm nhóm.  
- Nên đưa ra nhữngchủ đề, trường hợp để nghiên  
cứu có liên hệ với chương trình học, dựa vào  
kinh nghiệm và trình độ của người học.  
- Đảm bảo các trường hợp nghiên cứu phải  
phức tạp, chưa rõ ràng để người học có thể  
áp dụng kiến thức về lý thuyết và kỹ năng.  
- Xác lập rõ ràng về hình thức cho báo cáo,  
đưa ra các mẫu báo cáo tốt.  
- Nếu có kế hoạch đánh giá chất lượng của các  
bài viết học thuật và nguồn tham khảo, phải  
nêu rõ trong tiêu chí đánh giá.  
Nghiên cứu trường hợp/ tình huống là phương  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Cho phép sáng tạo và độc đáo  
- Có thể đánh giá một loạt các kết quả.  
- Cho điểm bằng cách sử dụng các tiêu chí thì  
nhanh chóng và hiệu quả  
- Cho phép nhiều chủ đề đa dạng  
- Khuyến khích học tập tích cực  
- Có khả năng đánh giá chéo được.  
- Có thể tập trung quá mức vào phần hình  
thức, thuyết trình hơn là nội dung hoặc kiến  
thức  
- Việc so sánh các cá nhân/ nhóm sẽ khó khan  
vì poster có thể rất khác nhau  
- Có thể cần sự hỗ trợ tài chính.  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương pháp  
đánh giá này:  
- Đưa ra mục đích và điểm các tiêu chí rõ ràng  
cho người học trước khi họ bắt đầu làm  
poster.  
- Không đặt nhiệm vụ mà người học có thể tìm  
thấy được (ví dụ trên các web), làm vậy sẽ  
thúc đẩy việc đạo văn.  
- Cung cấp các ví dụ về chú thích của cả hai ví  
dụ tốt và không thể chấp nhận được.  
- Sắp xếp một cuộc trưng bày công khai các  
poster hoàn chỉnh.  
Thực tế những năm gần đây, ngay tại Khoa  
Văn học, ở một số môn đã có giảng viên yêu cầu  
sinh viên làm poster và thu được phản hồi, hiệu  
ứng khá tốt. Ví dụ việc làm poster các tác phẩm  
thuộc các thể loại khác nhau trong môn “Loại  
thể văn học”, poster các trường phái nghệ thuật  
trong môn “Đại cương Nghệ thuật học”,…  
10. Tạp chí và blog (journals and blogs) - có  
thể kiểm tra các kỹ năng tư duy bậc cao  
Các tạp chí và blog được người học viết trong  
một khoảng thời gin, chẳng hạn như một học kỳ,  
để phản ánh kinh nghiệm học tập của họ. Hình  
85  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
thức này tạo cơ hội cho người học thể hiện cảm  
xúc, suy nghĩ và niềm tin của họ về nội dung và  
quá trình học tập và bản thân họ trong một phong  
cách và cấu trúc viết không chính thức.  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Khuyến khích sự tham gia và có trách nhiệm - Khó xác định các tiêu chí đánh giá  
trong việc học.  
- Khuyến khích việc tự đánh giá và phản ảnh  
- Đòi hỏi phải có thời gian để thiết lập các yêu  
cầu cao.  
- Cung cấp thông tin chi tiết về người học như - Các vấn đề về sự riêng tư và bảo mật cần  
cảm xúc, suy nghĩ, niềm tin,…  
- Toàn diện, đa chiều  
được lưu ý  
- Người học có thể bắt chước từ các tạp chí  
- Khuyến khích việc viết thường xuyên, kéo dài, - Có thể không phát triển kỹ năng viết hàn lâm.  
ngay cả khi kết thúc môn học.  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương pháp  
đánh giá này:  
- Minh bạch và xác định nhóm người đọc các tạp  
chí/blog tự tạo này để đảm bảo tính bảo mật.  
- Khuyến khích ý kiến xây dựng nếu người  
học đang sử dụng một blog.  
- Đề xuất một số lĩnh vực để người học tập  
trung, có thể sử dụng những câu hỏi gợi ý,  
hướng dẫn.  
- Người dạy cần có những phản hồi, nhận xét  
thường xuyên, nhất là trong giai đoạn đầu.  
- Giữ nhật ký hoặc viết blog chia sẻ bài học  
với người học.  
đầu xuất hiện trong các môn KHXH. Chúng ta  
có thể nhìn thấy dưới dạng những format khác,  
ví dụ như người học tự tạo các trang trên  
facebook theo một chủ đề được người dạy gợi ý  
hoặc cho trước, sau đó giáo viên sẽ theo dõi  
trang đó hoạt động thế nào, tương tác giữa các  
thành viên, giữa người đọc- chủ trang,… Một ví  
dụ cụ thể là môn Văn học Nga của Khoa Văn  
học đang được GV thực hiện cách đánh giá này.  
11. Hồ sơ cá nhân (portfolio) - có thể kiểm  
tra các kỹ năng tư duy bậc cao  
Portfolio là một sưu tập có mục đích của  
người học về những thành tích, công việc mà họ  
đạt được để cho thấy những nỗ lực, tiến bộ và  
thành tựu theo thời gian.  
Hình thức đánh giá bằng cách cho người học  
tự tạo các tạp chí, blog như trên hiện đang bắt  
Ưu điểm  
Nhược điểm  
- Khuyến khích sự tham gia và trách nhiệm học - Mất nhiều thời gian để phát triển portfolio và  
tập  
đánh giá  
- Đánh giá người học trong bối cảnh học tập  
- Khuyến khích sự tự đánh giá và phản ảnh  
- Có thể khó xác định việc đánh giá  
- Có thể yêu cầu tài trợ, các nguồn lực khác  
- Có thể đánh giá một loạt các kỹ năng hoặc kết - Việc so sánh các sinh viên sẽ khó khăn vì  
quả bao gồm các kỹ năng chung. portfolio sẽ rất đa dạng  
- Cho phép giới thiệu các kỹ năng và thành tựu - Có thể chiếm diện tích trưng bày nếu không  
của người học  
phải là e-portfolio.  
- Có tính toàn diện, đa chiều và linh hoạt  
Một số lời khuyên nếu sử dụng phương pháp  
đánh giá này:  
- Cung cấp các câu hỏi hướng dẫn cho việc  
phản ánh và tự đánh giá.  
- Cung cấp ví dụ một số portfolio đã hoàn thành.  
- Nên ghi chú một số mục bắt buộc trong  
portfolio thể hiện các hoạt động học tập,  
phản ánh, tự đánh giá.  
Hình thức đánh giá bằng cách cho làm  
portfolio hiện nay chưa phổ biến ở các môn học,  
chủ yếu là các hồ sơ xin học bổng, xin việc. Học  
sinh sinh viên chưa có những chỉ dẫn hoặc huấn  
86  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
luyện làm portfolio sao cho hiệu quả, rõ ràng,  
bộc lộ những ưu điểm, thành tích của mình.  
Trên đây là một số hình thức đánh giá môn  
học, đặc biệt hữu ích cho các môn KHXH mà  
chúng ta có thể áp dụng trong quá trình dạy học.  
Những hình thức đánh giá này đa dạng, hướng  
đến việc đánh giá quá trình học, đến những kỹ  
năng, phương pháp tiếp cận kiến thức. Tuy  
nhiên, việc áp dụng cũng phải rất cơ động, uyển  
chuyển trong những bối cảnh thuận lợi nhất định  
thì mới thành công.  
Tài liệu tham khảo  
Curtin Teaching and Learning. (2010). Developing  
Appropriate Assessment Tasks. In Teaching  
and Learning at Curtin 2010. Curtin  
University:  
Perth.  
(pp.22-46).  
87  
pdf 9 trang yennguyen 23281 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các hình thức đánh giá cho môn Ngữ văn trong dạy và học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_hinh_thuc_danh_gia_cho_mon_ngu_van_trong_day_va_hoc.pdf