Phạm trù tự nhiên trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc và Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
PHẠM TRÙ TỰ NHIÊN TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỔ  
TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM  
Lê Đắc Tường  
Trường THPT Duy Tân, Kon Tum  
Nhận bài ngày: 6/6/2019; Ngày duyệt đăng: 27/08/2019  
Tóm tắt  
Bài viết nghiên cứu phạm trù Tự nhiên trong tư tưởng Thiền Lão và trong lý luận, phê bình văn  
học cổ Trung Quốc; đồng thời tập trung làm rõ quan niệm Tự nhiên trong lý luận, phê bình văn học  
cổ điển Việt Nam với hai nội dung: Tự nhiên trong quan niệm của các tác giả thời Lý - Trần và Tự  
nhiên trong quan niệm của các tác giả thời Lê - Nguyễn.  
Từ khóa: Thiền-Lão, Tự nhiên, văn học cổ điển.  
The concepts of nature in literary theory and criticism  
in classical Chinese and Vietnamese literature  
Abstract  
This article examines the concept of Nature in Zen Buddhist and Taoist thoughts, expressing in  
the literary critical works written by the Chinese as well as the Vietnamese classical authors. The  
article consists of two parts: Concept of Nature in the works of Ly – Tran period, and Concept of  
Nature in the works of Le – Nguyen period.  
Keywords: Zen Buddhism, Taoism, Nature, classical literature.  
chúng tôi nhận thấy Tự nhiên là phạm trù bản  
thể luận của tư tưởng Lão Trang. Khi Phật giáo  
du nhập vào Trung Quốc, kết hợp với Lão Trang  
hình thành Thiền tông Trung Quốc. Vì thế, tư  
tưởng Thiền tông cũng có quan niệm Tự nhiên  
gần giống như Lão Trang.  
1. Đặt vấn đề  
Trong các nước Đông Á, Trung Quốc với  
nền văn học có lịch sử trên 2000 năm được xem  
là “nền văn học lâu đời” là trung tâm kiến tạo  
vùng; các nước còn lại như Hàn Quốc, Nhật Bản  
và Việt Nam được xem là “nền văn học trẻ” là  
ngoại biên. Nguồn chung và dòng riêng của nền  
văn học các nước Đông Á đã và đang có sức hút  
rất lớn và mở ra chân trời cho ngành nghiên cứu  
văn học nhất là nghiên cứu văn học so sánh và  
những nghiên cứu chuyên sâu về tư duy nghệ  
thuật, quan niệm văn học,... Trong giới hạn, bài  
viết chỉ nghiên cứu phạm trù Tự nhiên trong lý  
luận và phê bình văn học cổ Trung Quốc và Việt  
Nam để thấy rõ hơn bản chất của vấn đề cũng  
như sự hình thành, phát triển và vai trò, sự ảnh  
hưởng của phạm trù Tự nhiên trong văn học của  
mỗi nước.  
Nói đến Lão Trang, đầu tiên phải nói đến  
phạm trù Đạo. Đây là một khái niệm chi phối  
toàn bộ học thuyết Lão Trang. Tư tưởng của Lão  
Tử và Trang Tử tuy cũng có một vài điểm chưa  
thống nhất, nhưng quan niệm về Đạo thì thống  
nhất. Cả hai đều có cùng quan niệm giống nhau  
về Đạo và mối quan hệ giữa Đạo với Tự nhiên.  
Lão Trang quan niệm Đạo là tổng nguyên lý  
sinh ra trời đất, vạn vật: “Đạo sinh nhất, nhất  
sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Về  
mối quan hệ giữa Đạo với Tự nhiên, câu “Đạo  
pháp tự nhiên" của Lão Tử và “Đạo kiêm ư  
thiên” của Trang Tử có nghĩa giống nhau, đều  
nói đến mối quan hệ giữa Đạo với Tự nhiên, hay  
Đạo tức là Tự nhiên, Tự nhiên là Đạo thể. Trong  
Nam hoa kinh, Trang Tử đã dành riêng một  
2. Tự nhiên (自 然) trong tư tưởng Thiền-  
Lão và trong lý luận, phê bình văn học cổ  
Trung Quốc  
Tìm hiểu, nghiên cứu về tư tưởng Lão Trang,  
41  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
thiên Tiêu dao du để nói về Tự nhiên. Ông quan  
niệm Tự nhiên tức là tự do sống theo bản tính.  
Trong quan niệm của Lão Trang, Tự nhiên  
được hiểu ở hai cấp độ. Tự nhiên là bản thể của  
Đạo, tức là Đạo và Tự nhiên là quy luật của vạn  
vật. Học thuyết Lão Trang đề cao Tự nhiên, tức  
Đạo, vì thế rất xem trọng vô vi. Bởi theo Trang  
Tử, vô vi mà làm gọi là Tự nhiên: “Vô vi vi chi  
vị thiên”. Đồng thời, Lão Trang rất coi trọng quy  
luật Tự nhiên, cho rằng, mọi sự vật trong vũ trụ  
đều được Đạo sinh ra, vận hành theo quy luật của  
riêng mình, con người không nên can thiệp vào.  
Lão Trang kịch liệt phản đối, bài bác những cái  
làm hại đến sự phát triển Tự nhiên của vạn vật.  
Có thể hiểu, Tự nhiên vừa là bản thể của Đạo,  
vừa là quy luật của Đạo, vừa là dụng của Đạo.  
Lão Trang quan niệm Đạo chính là Tự nhiên,  
Tự nhiên có tính “phác”, “phác” cũng là Đạo,  
cũng có nghĩa là tự tánh của vạn vật. Đó là ý  
nghĩa uyên thâm của Tự nhiên. Lão Trang cũng  
rất đề cao luật, trật tự của Tự nhiên, đó là một  
nghĩa khác của Tự nhiên.  
Hai nét nghĩa này cũng được Thiền tông  
quan niệm. Cốt lõi của tư tưởng Thiền tông  
chính là “Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành  
Phật”. Tánh chính là hạt mầm Bồ đề ở mỗi con  
người, vì theo quan niệm của nhà Phật, con  
người ai cũng có Phật tính. Phật tính, cũng có  
thể hiểu tương tự như là tự tánh (Phác, Tự nhiên,  
Đạo) của Lão Trang. Việc Lão Trang đề cao  
hành động vô vi, kêu gọi con người phải trở về  
với Đạo, với Tự nhiên, với bản tánh hồn toàn  
của mình, cũng tương tự như Phật giáo Thiền  
tông quan niệm “Bản lai diện mục”, muốn giải  
thoát, đắc Đạo thì phải trở về để “Minh tâm, kiến  
tánh”. Thiền tông cũng hết sức tôn trọng Tự  
nhiên, “Bình thường tâm thị đạo” là câu nói của  
Nam Tuyền (749 - 835) để khai thị cho Triệu  
Châu thể hiện rõ quan niệm Tự nhiên của Thiền  
tông. Cách tu của Thiền tông gắn với hành động  
Tự nhiên của mỗi người, không câu nệ giáo lý,  
hình thức tu, không gượng ép. Theo Thiền tông,  
để trở về với Phật tính không đòi hỏi phải hành  
động “nhân vi”, cứ tuân theo quy luật Tự nhiên,  
tức là tiếp tục các nhiệm vụ bình thường và  
khiêm tốn trong đời sống, như Capra nhận định:  
“Thành tựu của Thiền là sống đời sống hằng  
ngày một cách hồn nhiên chất phác. Trả lời  
Thiền là gì, thiền sư Đại Huệ đáp: Đói thì ăn,  
mệt thì nghỉ” (Capra, 1975: 146).  
Như vậy, Tự nhiên theo quan niệm của  
Thiền-Lão chính là “vô vi” và “vô tâm”. Tức là  
hốt nhiên làm, không cần cố gắng, không miễn  
cưỡng, không câu nệ, là làm mà không cần để ý  
việc mình làm. Đó là hành động đến mức hoàn  
thiện.  
Từ quan niệm về Tự nhiên của Lão Trang và  
Thiền tông, có thể thấy ở cấp độ mỹ học, tư  
tưởng Thiền-Lão là tư tưởng sùng thượng Tự  
nhiên. Đó là vẻ đẹp của Tự nhiên, tức Đạo, đó  
là vẻ đẹp của hành động “vô vi”, của quy luật  
Tự nhiên.  
Lý tưởng sùng chuộng Tự nhiên của Thiền-  
Lão có ảnh hưởng rất lớn đối với nghệ thuật  
Trung Quốc, trong đó có quan niệm về văn học.  
Trong lịch sử lý luận, phê bình văn học cổ Trung  
Quốc, từ thời Ngụy Tấn - Nam Bắc triều đến  
thời Minh - Thanh đều có dấu ấn của Tự nhiên.  
Khởi đầu cho khuynh hướng này có lẽ là Lục  
Cơ (261-303) trong Văn phú. Lục Cơ cho rằng  
cần phải tránh những sự trang sức thái quá trong  
văn chương và phê phán lối văn cầu kỳ mà vô  
vị, qua đó đề cao Tự nhiên: “Hoặc là bỏ lý mà  
suy tôn cái kỳ lạ, cầu tìm cái trống rỗng. Hoặc  
là phóng túng chạy theo sự hòa hợp âm thanh,  
thích thú những điều ồn ào quyến rũ, làm vui  
con mắt một cách vô vị, chạy theo thời thượng.  
Tiếng thì lớn mà giai điệu thì tầm thường”  
(Dương Ngọc Dũng, 1999: 54).  
Đến Lưu Hiệp (466-532), với Văn tâm điêu  
long, lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc  
đã đạt bước phát triển vượt bậc. Trong Văn tâm  
điêu long, Lưu Hiệp đã đề cao Tự nhiên trong  
văn chương. Điều đó thể hiện ở hai điểm: Thứ  
nhất, trong thiên Nguyên Đạo, đã 5 lần Lưu  
Hiệp đề cập đến Tự nhiên. Thứ hai, trong thiên  
Ẩn Tú, Lưu Hiệp đề cao vẻ đẹp Tự nhiên trong  
văn chương và hành động vô vi khi sáng tác văn  
chương. Ông quan niệm rằng: “Nhiên yên ái  
thiên thành, bất lao ư trang điểm; dung hoa  
cách định, vô đãi ư tài dung; thâm thiển nhi các  
kì, nùng tiêm nhi câu diệu, nhược huy chi tắc  
42  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
hữu dư, nhi lãm chi tắc bất túc hĩ” (Vẻ đẹp cũng  
do trời định sẵn, chẳng cần phải điểm tô; mây  
khói hoặc dày hoặc mỏng, từng đám lộ vẻ lạ kỳ;  
nhan sắc hoặc đậm hoặc tươi, thảy đều đẹp đẽ  
tuyệt diệu. Nếu cứ để tự nhiên, vẻ đẹp sẽ dồi  
dào, nhưng tay người xen vào, thì bao nhiêu  
cũng thiếu). Cuối thiên Ẩn Tú, một lần nữa Lưu  
Hiệp khẳng định, đề cao vẻ đẹp của Tự nhiên:  
“Cho nên, tự nhiên là đẹp, cũng giống như cây  
cỏ phát ra anh hoa, nhuận sắc để được đẹp thì  
cũng giống như the lụa đem nhuộm xanh nhuộm  
đỏ. Xanh đỏ nhuộm the lụa, màu thắm song quá  
rợ. Hoa nở rộ trên cây, màu nhạt nhưng đẹp  
tươi” (Trần Thanh Đạm, Phạm Thị Hảo, 2007:  
446, 447).  
Cùng thời với Lưu Hiệp, Chung Vinh (468-  
518) chủ yếu bàn về thơ. Trong Thi phẩm,  
Chung Vinh đề cao vẻ đẹp Tự nhiên của thơ ca,  
phê phán việc lạm dụng điển cố, thanh vận. Ông  
cho rằng trang sức che đậy không thể dẫn tới cái  
đẹp, chỉ có cái hồn nhiên, Tự nhiên mới mang  
lại cho người thưởng thức văn chương cái dư vị  
vô cùng. Khi bình luận về thơ của 39 nhà thơ ở  
phần trung phẩm, Chung Vinh cho rằng thơ ca  
mang vẻ đẹp Tự nhiên, nếu dùng quá nhiều điển  
cố thì chỉ làm tổn hại đến thơ ca: “Toại nãi cú  
vô hư ngữ, ngữ vô hư tự, câu luyến bổ nạp, đố  
văn dĩ thậm. Đãn tự nhiên anh chỉ, hãn trị kỳ  
nhân” (Thế rồi câu nào cũng điển, chữ nào cũng  
dùng điển, gò bó chắp vá, làm hại thơ ca quá  
lắm. Nhưng thơ ca vốn hay đẹp tự nhiên thì lại  
ít người đạt tới) (Chung Vinh (-), Nguyễn Đình  
Phức và Cộng Sự tuyển dịch, 2008: 124). Phẩm  
bình về thơ của Nhan Diên Chi và Nhậm  
Phưởng, Chung Vinh cho rằng hai ông đã lạm  
dụng điển cố khiến thơ mất vẻ Tự nhiên, đó là  
cái tệ của văn chương. Nhận xét về thơ Nhan  
Diên Chi, Chung Vinh viết “Hựu hỉ dụng cổ sự,  
di kiến câu thúc” (Lại ưa dùng điển cố hiểm dị,  
nên thơ thêm gò bó thiếu phần tự nhiên) (Chung  
Vinh (-), Nguyễn Đình Phức và Cộng Sự tuyển  
dịch, 2008: 176).  
phát” trong Tuyên Châu Tạ Diểu lâu biệt Hiệu  
thư Thúc Vân:  
Bồng Lai văn chương Kiến An cốt,  
Trung gian Tiểu Tạ hựu thanh phát.  
(Văn chương tươi đẹp như chốn Bồng Lai,  
cốt cách cứng cỏi như văn chương thời Kiến An;  
Trong đó lại phát ra thanh tân hết mực như thơ  
Tạ Diểu)  
và khen thơ bạn mình - Vi Thái Thú là Tự  
nhiên:  
Thanh thủy xuất phù dung,  
Thiên nhiên khứ điêu sức.  
(Phù dung trên nước trong, Tự nhiên chẳng  
trang sức) (Lê Giang, 2005: 78).  
Vì vậy, Lý Bạch phản đối loại văn chương  
“điêu chương trác cú”, coi trọng văn chương  
thiên chân, Tự nhiên. Trong Cổ phong, bài 35,  
ông đã dùng cách nói của Trang Tử (ở thiên Thu  
thủy, Từ vô quỷ) để phê phán văn chương chuyên  
gọt đẽo, mô phỏng làm mất Tự nhiên: “Điêu  
trùng táng thiên chân” (Chạm trổ mất tự nhiên).  
Thi tăng Thích Hiệu Nhiên rất xem trọng Tự  
nhiên trong thơ. Điều này, thể hiện rõ trong tác  
phẩm Thi thức của ông. Bình thơ Tạ Linh Vận,  
ông viết: “Trước kia từng bàn luận về văn  
chương của Khang Lạc, coi trọng tính tình, đề  
cao tác dụng, không chú ý văn từ đẹp đẽ mà vẫn  
phong lưu tự nhiên… Huệ Hưu cho rằng thơ họ  
Tạ như hoa phù dung vươn trên mặt nước. Lời  
ấy cũng gần gũi thay” (Khoa Ngữ văn và Báo  
chí, 2006: 154). Cũng vì đề cao Tự nhiên, nên  
Thích Hiệu Nhiên phê phán Thanh luật luận của  
Thẩm Ước: “Thẩm Hưu Văn phân vạch bát  
bệnh một cách khắt khe, sử dụng tứ thanh một  
cách vụng về khiến mất hết trang nhã. Văn nhân  
tài tử sau này, thiên cơ thấp kém, ngu muội đắm  
chìm trong khuôn phép sai lầm của họ Thẩm đến  
độ không đủ sức quay trở ra” (Khoa Ngữ văn và  
Báo chí, 2006: 155).  
Lý Thương Ẩn đời Vãn Đường cũng rất đề  
cao Tự nhiên trong sáng tác văn chương. Ông  
cho rằng làm thơ cần chú trọng tình cảm chân  
thực, tránh gò ép, gọt giũa cầu kỳ làm mất đi vẻ  
đẹp hoàn mỹ của thơ. Ông nói về sự vô dụng, vô  
giá trị của việc mài ngọc, qua đó đề cao Tự  
nhiên của thơ ca:  
Đến đời Đường, sùng thượng Tự nhiên được  
Lý Bạch, Thích Hiệu Nhiên, Lý Thương Ẩn,...  
chủ trương. Lý Bạch tôn sùng phong cách thơ  
Tự nhiên, ông ca ngợi thơ Tạ Diểu là “thanh  
43  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
Nhất phiến quỳnh anh giá động thiên,  
Liên thành thập nhị tích hư truyền.  
Lương công xảo phí chân vi lụy,  
Chử diệp thành lai bất trị tiền.  
thuận theo Tự nhiên tựa như hóa công, người đã  
tạo ra vạn vật sinh sôi nảy nở tươi đẹp trên trái  
đất nhưng không hề để lại một dấu vết gì cho  
thấy sự áp đặt. Từ đó, ông cực lực phản bác loại  
nghệ thuật chỉ lo tô vẽ mà không có một ý vị gì.  
Đến đời Thanh, kết thúc lý luận, phê bình  
văn học cổ Trung Quốc, Vương Sĩ Chân và Viên  
Mai cũng rất đề cao Tự nhiên trong sáng tác văn  
chương. Quan niệm văn chương của Vương Sĩ  
Chân là sự nối tiếp tư tưởng của Nghiêm Vũ và  
(Nhất phiến) (Lê Quang Trường, 2009: 51).  
(Một khối ngọc quỳnh giá động trời,  
Chuyện xưa đem mười hai thành đổi lấy viên  
ngọc đã mài chỉ là hư truyền.  
Thợ lành khéo léo mài thật chỉ nhọc công phí  
sức,  
Màixongládóngọc, chẳngđángbaonhiêutiền!) mang sắc thái Thiền-Lão với thuyết Thần vận.  
Đến đời Tống, cả Âu Dương Tu, Tô Đông  
Pha, Nghiêm Vũ đều chủ trương văn chương  
thuận theo Tự nhiên, phản đối văn phong cổ xưa,  
khó hiểu. Theo Âu Dương Tu, học văn chương  
của người xưa chủ yếu là học ở điểm Tự nhiên:  
“Mạnh, Hàn văn tuy cao, không tất yếu phải dựa  
vào đấy, chọn lấy điểm tự nhiên của họ mà thôi”  
(Khoa Ngữ văn và Báo chí, 2006: 183).  
Tô Đông Pha quan niệm làm thơ, làm văn  
phải dựa trên cơ sở thực tế, xuất phát từ tình cảm  
chân thật, ngôn từ mộc mạc, tự do phóng khoáng  
cốt sao diễn đạt được tối đa tình cảm của chủ thể  
sáng tác. Ông quan niệm việc sáng tác thơ văn  
phải Tự nhiên thành. Chính vì thế, ông phản đối  
loại văn màu mè đương thời và kiểu tối nghĩa của  
cổ văn. Ông nói: “Thức tôi lớn lên nơi hương  
đồng cỏ nội, không được học văn đương thời, nên  
ngôn từ chất phác, không trang điểm màu mè”  
(Khoa Ngữ văn và Báo chí, 2006: 194).  
Theo ông, thơ có ba phẩm chất, bao gồm Xung  
đạm, Tự nhiên và Thanh kỳ. Ba phẩm chất này  
mang đậm quan niệm Tự nhiên của Thiền-Lão.  
Viên Mai (1716-1797), trong Tùy Viên thi  
thoại, cũng đã đề cao hồn thơ Tự nhiên, mà ông  
gọi là “Thiên lại”, giống như cách nói của Trang  
Tử. Ông quan niệm, hồn thơ Tự nhiên mà không  
đến thì cố sức cũng không được. Ông đồng tình  
với quan niệm của Diệp Thư Sơn: “Hẳn như lời  
ông nói nhưng làm thơ mà công phu chưa hết  
sức thì thiên lại cũng không thể đến được, dẫu  
rằng thiên lại cũng do công sức mà tìm ra. Câu  
nói này hay lắm” (Viên Mai (-), Trương Đình  
Chi dịch, 2002: 278). Ý kiến của Viên Mai cũng  
đã làm sáng tỏ một điều quan trọng, đó là: Văn  
chương quý ở Tự nhiên, Tự nhiên không chỉ có  
nghĩa là thô sơ, giản lược, Tự nhiên có được nhờ  
công phu, chuyên tâm hết mực như công việc  
đẽo bánh xe, mổ bò trong sách Trang Tử.  
Nghiêm Vũ quan niệm làm thơ không nên gò  
bó, phải Tự nhiên. Trong Thương Lang thi  
thoại, khi luận bàn về phép làm thơ, Nghiêm Vũ  
nêu ra những điều nên và những điều kỵ trong  
sáng tác thơ. Theo ông: “Lời văn quý ở tự nhiên,  
không được gò bó cưỡng ép” (Khoa Ngữ văn và  
Báo chí, 2006: 319). Trong Thương Lang thi  
thoại, khi biện luận về thơ, Nghiêm Vũ đã gắn  
với tư tưởng Thiền tông, trong đó có quan niệm  
Tự nhiên.  
Đến đời Minh, Lý Chất đề ra thuyết “Dĩ tự  
nhiên chi vi mỹ”. Ông cho rằng, sự ra đời của  
một tác phẩm không thể bắt nguồn từ việc sáng  
tác lệ thuộc vào luật thi hoặc bất cần luật thi, mà  
phải xuất phát từ tình cảm Tự nhiên thì lời văn  
sẽ lưu loát, có ý tứ. Ông còn ví việc sáng tác  
Điểm qua quan niệm Tự nhiên của một số tác  
giả văn học cổ Trung Quốc từ thời Nam Bắc  
triều cho đến đời Thanh, có thể thấy:  
Tự nhiên là một phẩm chất cao đẹp của văn  
chương. Tự nhiên là bản thể, đồng thời là mục  
đích tối thượng của văn chương. Quan niệm Tự  
nhiên trong văn chương thể hiện ở tình cảm Tự  
nhiên, lời văn Tự nhiên, tôn trọng hành động  
sáng tác vô vi, phản đối sự gọt giũa làm mất đi  
vẻ đẹp Tự nhiên. Tự nhiên không phải là sự giản  
đơn, sơ sài mà nó là thành quả của công lực, sự  
chuyên tâm hết mực của người nghệ sĩ, đó là kết  
quả của một hành trình đầy gian khó: “Khán tợ  
tầm thường tối kỳ quật, thành như dung dị  
khước nan tân” (Xem giống tầm thường nhưng  
đó là kỳ lạ đặc sắc nhất, xong rồi tưởng dễ, thực  
44  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
ra hết sức gian nan) (Nguyễn Tôn Nhan, 1998:  
897). Trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung  
Quốc, có thể thấy, từ đời Đường, đã hình thành  
phong cách Tự nhiên trong văn chương, từ đó  
phong cách này trở thành một truyền thống thẩm  
mỹ xuyên suốt trong văn học cổ Trung Quốc.  
Sùng thượng Tự nhiên theo quan niệm của  
Thiền-Lão đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn  
học Trung Quốc suốt mấy nghìn năm. Tầm ảnh  
hưởng của nó không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở  
cả những nước khác, trong đó có Việt Nam.  
3. Tự nhiên trong lý luận, phê bình văn  
học cổ điển Việt Nam  
Sùng thượng Tự nhiên đã trở thành truyền  
thống thẩm mỹ trong văn học cổ Trung Quốc,  
sức ảnh hưởng của nó thì sâu rộng vô cùng. Văn  
học nói chung và lý luận, phê bình văn học cổ  
điển Việt Nam nói riêng cũng nằm trong nguồn  
mạch của sự ảnh hưởng đó. Điều này được thể  
hiện qua quan niệm của các tác giả ở hai giai  
đoạn: thời Lý - Trần và thời Lê - Nguyễn.  
3.1. Tự nhiên trong quan niệm của các tác  
giả thời Lý - Trần  
Dữ vật vô thân.  
Thể ư tự nhiên,  
Ứng vật vô ngân.  
(Ở trong ánh sáng, ở trong hạt bụi,  
Nhưng không phải là ánh sáng, cũng không  
phải hạt bụi.  
Thân tâm thì trong suốt,  
Không kết thân với vật nào cả.  
Là bản thể của giới tự nhiên,  
Ứng nghiệm vào tất cả các vật, không trừ vật  
nào.) (Viện Văn học, 1977: 475).  
Cả Lão Trang và Thiền Tông đều hướng đến  
sự thấu triệt về chân tánh, tức là Tự nhiên ở cấp  
độ bản thể luận, tức Đạo. Thơ Thiền thời Lý -  
Trần có không ít bài thơ Thiền thể hiện sự giác  
ngộ của các bậc chân tu. Ở đó, các thiền sư đã  
“kiến tánh”, đạt Đạo. Mỗi bài thơ, bài kệ của các  
thiền sư thể hiện sự ngộ Đạo, đạt đến chánh quả.  
Theo quan niệm của Thiền tông, đạt Đạo tức  
là ngộ được chân tánh. Thuần Chân thiền sư đời  
Lý, trong bài kệ trước khi viên tịch, đã ngộ được  
“chân tánh”:  
Chân tánh thường vô tánh,  
Tự nhiên trong quan niệm văn học của các  
tác giả thời Lý - Trần chủ yếu ở hình thức gián  
tiếp, tức là biểu hiện qua tác phẩm. Trong giai  
đoạn này rất ít, thậm chí là không có những phát  
biểu trực tiếp, nhưng qua sự thể hiện trong tác  
phẩm, quan niệm Tự nhiên trong tư tưởng  
Thiền-Lão đã hiện hữu. Điều này biểu hiện  
trong quan niệm của các tác giả sau đây.  
Trong văn học thời Lý - Trần, số lượng tác  
giả văn học là thiền sư chiếm đa số. Quan niệm  
Tự nhiên được các thiền sư thể hiện qua sáng tác  
với những biểu hiện: Tự nhiên - bản thể; Tự  
nhiên - đạt Đạo; Tự nhiên - vô vi; Tự nhiên - an  
nhiên, tự tại; Tự nhiên - tùy duyên; Tự nhiên -  
con người hợp nhất.  
Hà tằng hữu sanh diệt.  
Thân thị sanh diệt pháp,  
Pháp tánh vị tằng diệt.  
(Thị đệ tử bản tịch)  
Dịch thơ: “Chân tính” thường không tính,  
Sinh diệt có bao giờ.  
Thân là nguồn sinh diệt,  
Pháp tính vẫn như xưa.  
(Đỗ Văn Hỷ dịch) (Dương Phong, 2014: 58).  
Sự đắc Đạo của các thiền sư cũng thể hiện  
quan niệm Tự nhiên ở trạng thái “hốt nhiên  
ngộ”. Bài Kính trung xuất hình tượng của Bản  
Tịnh thiền sư thể hiện điều đó:  
Huyễn thân bản tự không tịch sinh,  
Do như kính trung xuất hình tượng.  
Hình tượng giác liễu nhất thiết không,  
Huyễn thân tu du chứng thực tướng.  
(Tấm thân hư ảo này vốn từ hư không tĩnh  
mịch sinh ra,  
Như đã nói ở phần trên, Tự nhiên là bản thể  
của Đạo, Tự nhiên là Đạo. Phan Trường Nguyên  
là thiền sư thuộc thế hệ thứ mười của dòng  
Thiền Quan Bích đã thể hiện quan niệm Tự  
nhiên là Đạo trong bài Thị đạo:  
Giống như cái bóng xuất hiện trong gương.  
Đã hiểu rõ rằng chỉ có cái bóng thì hết thảy  
đều là không,  
Tại quang tại trần,  
Thường ly quang trần.  
Tâm phủ trừng triệt,  
Tấm thân hư ảo phút chốc chứng được thực  
45  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
tướng.)  
(Viện Văn học, 1977: 507).  
vận nước. Vô vi ở nơi cung điện, cũng chính là  
vô vi trên khắp đất nước, vô vi trên mọi lĩnh vực  
của đời sống, trong đó có vô vi trong văn  
chương. Vô vi trong Quốc tộ mang nét nghĩa vô  
vi của Lão Trang và giống như thái độ vô vi của  
thiền sư Hiện Quang trong Đáp tăng vấn:  
Ná tự Hứa Do đức,  
Những bài thơ của các thiền sư nói về sự ngộ  
Đạo chủ yếu là những bài kệ với chức năng trình  
bày, lý giải về Thiền tông. Đương thời, nhà vua  
Lý Nhân Tông đã ngưỡng mộ sự đắc Đạo của  
thiền sư Vạn Hạnh, Giác Hải và Thông Huyền  
qua bài thơ Tán Giác Hải thiền sư, Thông Huyền  
đạo nhân và Truy tán Vạn Hạnh thiền sư.  
Sang đến đời Trần, tư tưởng sùng thượng Tự  
nhiên ở cấp độ bản thể luận được tiếp tục thể  
hiện rõ nét hơn. Tiêu biểu hơn cả là trong sáng  
tác của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sáng tác của ông  
thể hiện rõ chân lý: Đạo - Phật ở ngay trong  
chính mỗi con người, không phải ở bên ngoài.  
Vì vậy, ông kêu gọi mọi người hãy trở về với  
chính mình để kiến tính, đạt Đạo. Khi được Trần  
Nhân Tông (lúc còn là Thái tử) hỏi về cái gốc  
của tôn chỉ Thiền, Tuệ Trung đáp: “Phản quan  
tự kỷ bổn phận sự, bất cầu tha đắc” (Hãy quay  
nhìn lại cái gốc của mình, chớ cầu ở bên ngoài)  
(Viện Văn học, 1989: 547). Câu nói của Tuệ  
Trung rất gần với quan niệm của Lão Trang về  
“Phục kỳ bổn, phản kỳ chân”.  
Hà tri thế kỷ xuân?  
Vô vi cư khoáng dã,  
Tiêu dao tự tại nhân.  
Dịch thơ: Họ Hứa thường quen nết,  
Bao xuân mặc cõi đời  
Mênh mông quãng đồng rộng,  
Tùy ý tự rong chơi.  
(Ngô Tất Tố dịch) (Dương Phong, 2014: 30).  
Cũng vô vi, nhưng trong Cảm hoài của thiền  
sư Chân Không lại gần nghĩa vô vi theo quan  
niệm của Thiền tông:  
Diệu bản hư vô nhật nhật khoa,  
Hoà phong xuy khởi biến sa bà.  
Nhân nhân tận thức vô vi lạc,  
Nhược đắc vô vi thuỷ thị gia.  
Dịch thơ: Chân không diệu thể quanh ta,  
Làm nên mây thuận gió hòa nơi nơi.  
Phúc thiền ai cũng biết rồi,  
Như đã nói ở phần trên, Tự nhiên trong tư  
tưởng Thiền-Lão thể hiện qua quan niệm vô vi.  
Ba bài thơ sau đây của ba vị thiền sư thể hiện Tự  
nhiên ở khía cạnh vô vi.  
Hoa thiền nở giữa lòng người dễ không?  
(Nguyễn Bá Chung dịch) (Dương Phong,  
2014: 11).  
Đáp Quốc vương quốc tộ chi vấn (Quốc tộ)  
là một trong những áng văn đầu tiên của văn học  
cổ điển Việt Nam. Tác phẩm thể hiện rõ quan  
niệm vô vi của thiền sư Pháp Thuận:  
Vô vi trong Quốc tộ, Đáp tăng vấn và Cảm  
hoài mang tính triết lý, đó cũng là thái độ của  
con người trong xã hội. Vô vi của ba vị thiền sư  
thể hiện quan niệm Tự nhiên theo tư tưởng  
Thiền-Lão.  
Quốc tộ như đằng lạc,  
Nam thiên lý thái bình.  
Vô vi cư điện các,  
Xứ xứ tức đao binh.  
(Vận mệnh đất nước như dây leo quấn quýt,  
Ở cõi trời Nam dựng thái bình.  
Tự nhiên trong quan niệm của thiền sư thể  
hiện qua sự an nhiên, tự tại trước quy luật sinh  
tử và sự thịnh suy của cuộc đời. Mãn Giác thiền  
sư thể hiện niềm lạc quan trước quy luật Tự  
nhiên, qua bài thơ Cáo tật thị chúng:  
Xuân khứ bách hoa lạc,  
Sống vô vi nơi cung điện,  
Khắp nơi sẽ hết chiến tranh.) (Viện Văn học,  
1977: 204).  
Xuân đáo bách hoa khai.  
Sự trục nhãn tiền quá,  
Có lẽ, đây là tác phẩm văn học đầu tiên của  
Việt Nam đề cập trực tiếp đến vô vi, một quan  
niệm cốt tử và uyên thâm trong tư tưởng Thiền-  
Lão. Tinh thần vô vi trong Quốc tộ là câu trả lời  
của thiền sư với nhà vua khi được tham vấn về  
Lão tòng đầu thượng lai.  
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,  
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.  
(Viện Văn học, 1977: 298).  
Tuệ Trung sống theo Tự nhiên, vì vậy với  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
ông vấn đề sinh tử là Tự nhiên, không bận tâm  
và hiểu được quy luật sinh tử cũng chính là nhận  
ra được “bản lai tính”:  
nhiên - con người hợp nhất.  
Trong thơ Thiền thời Lý - Trần, hình ảnh Tự  
nhiên siêu phóng, mang tính biểu tượng được thể  
hiện bởi cảm quan Phật giáo. Với quan niệm “vạn  
vật nhất thể”, các thiền sư đã xem vũ trụ với con  
người có cùng một cội nguồn, một bản thể. Con  
người thấy mình trong Tự nhiên, là một phần của  
Tự nhiên nên trong mình có cả vũ trụ. Khi vua  
Lý Thái Tông hỏi thiền sư Thiền Lão: “Hằng  
ngày Hòa thượng làm gì?”, thiền sư đáp kệ:  
Thúy trúc, hoàng hoa, phi ngoại cảnh,  
Bạch vân, minh nguyệt, lộ toàn chân.  
(Trúc biếc, hoa vàng chẳng phải là cảnh bên  
ngoài,  
Sinh tử vong hoài,  
Tiện liễu đắc bản lai tính ngộ.  
(Trữ từ tự cảnh văn)  
(Sống chết không để tâm,  
Thì hiểu được ngay chân tính xưa.) (Viện  
Văn học, 1989: 295).  
Tự nhiên trong quan niệm của thiền sư còn  
thể hiện trong quan niệm “tùy duyên”. Đi, đứng,  
nằm, ngồi cũng là Thiền, vì vậy, trong thơ  
Thiền, nhớ người cũ (Cung viên xuân nhật hoài  
cựu - Trần Thánh Tông), cảnh mùa hè (Hạ cảnh  
- Trần Thánh Tông), cảnh đêm ở hành cung  
(Hạnh Thiên Trường hành cung - Trần Thánh  
Tông), cảnh chiều ở làng quê (Thiên Trường vãn  
vọng - Trần Nhân Tông), cảnh đi chơi thuyền  
(Phiếm chu - Huyền Quang),... cũng là Thiền và  
cũng là thơ. Đối với các thiền sư, việc sáng tác  
thơ cũng tùy theo cảm hứng, có hứng thì sáng  
tác, hết hứng thì nghỉ, thuận theo Tự nhiên.  
Những câu thơ sau đây của Tuệ Trung thể hiện  
rõ sự tùy duyên theo Tự nhiên:  
Mây trằng, trăng trong lộ rõ cái “chân” toàn  
vẹn).  
(Viện Văn học, 1977: 239).  
Câu trả lời của thiền sư Thiền Lão thể hiện  
rõ quan niệm Tự nhiên - con người hợp nhất.  
Quan niệm này còn được nhiều thiền sư khác  
bộc lộ qua những bài kệ, bài thơ. Sau đây là bài  
thơ tiêu biểu.  
Vua Trần Thánh Tông cuối đời cũng là một  
thiền gia. Cảnh sắc trong thơ Trần Thánh Tông  
thấm đượm chất Thiền qua con mắt của thiền sư  
đắc Đạo, ẩn chứa những phút giây ngộ Thiền với  
sự hòa hợp tuyệt đối giữa con người và trời đất  
cỏ cây. Hạnh An Bang phủ tiêu biểu cho điều đó:  
Triêu du phù vân kiệu,  
Sinh tử do lai bãi vấn trình,  
Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành.  
(An định thời tiết)  
(Sống chết do đâu không cần hỏi,  
Nhân duyên thời tiết tự nhiên hình thành.)  
(Viện Văn học, 1989: 246).  
Mộ túc minh nguyệt loan.  
Và đó cũng là quan niệm tùy duyên trong bài  
phú Cư trần lạc đạo của Phật hoàng Trần Nhân  
Tông:  
Hốt nhiên đắc giai thú,  
Vạn tượng sinh hào đoan.  
(Sáng chơi trên ngọn núi có đám mây nổi,  
Tối về nghỉ ở eo biển trăng sáng.  
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,  
Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.  
Bỗng nhiên được hứng thú hay,  
Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch,  
Đối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền.  
(Sống ở trên đời tuỳ theo hoàn cảnh mà vui  
với đạo,  
Muôn hình tượng nảy sinh ra đầu ngọn bút.)  
(Viện Văn học, 1989: 400).  
Quan niệm sùng thượng Tự nhiên không chỉ  
có ở các thiền sư, các tác giả khác cũng đã bộc lộ  
quan niệm này, tiêu biểu: Trần Anh Tông, Trần  
Quang Triều, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An,  
Nguyễn Phi Khanh,... Họ là những quý tộc, nhà  
nho khi “xuất”, khi “xử” thì họ quay về với Tự  
nhiên, lấy Thiền-Lão làm chỗ dựa tinh thần.  
Khi “xử” các quý tộc, nhà nho quay về với  
Đạo, với Tự nhiên, vì vậy, trong sáng tác, bên  
Ðói thì ăn, mệt thì ngủ.  
Của báu sẵn trong nhà khỏi tìm kiếm,  
Trước cảnh vật mà vô tâm thì không phải hỏi  
Thiền là gì.)  
(Viện Văn học, 1989: 497).  
Tự nhiên trong quan niệm của các thiền sư  
còn thể hiện ở triết lý “vạn vật nhất thể”, tức Tự  
47  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
cạnh sự ưu tư về thời cuộc, họ đề cao Tự nhiên,  
xem đó là nơi di dưỡng tính tình, nơi để trở về  
với bản tính, diệu thể của chính mình.  
Trần Anh Tông vị vua thứ tư của đời Trần  
cũng là tín đồ Phật giáo. Thơ của ông có những  
bài đậm chất Thiền. Trong bài thơ Vân Tiêu am,  
Trần Anh Tông đã ca ngợi sự thanh tịnh, thoát  
tục của các bậc chân tu. Am thiền tọa lạc trên  
đỉnh núi giáp trời mây, bốn mùa chỉ có gió mát,  
trăng thanh. Ở đó xuất hiện một vị sư và cả  
người, gió, trăng kết thành “tam tài”. Tiểu vũ trụ  
hòa vào đại vũ trụ.  
giả thời Lý -Trần, chúng ta thấy rằng, tuy không  
có những phát biểu trực tiếp, nhưng từ thực tiễn  
sáng tác, quan niệm sùng thượng Tự nhiên, ý  
thức về tầm quan trọng của Tự nhiên trong văn  
chương cũng đã được các vị bộc lộ. Với họ, Tự  
nhiên là bản thể; Tự nhiên là đạt Đạo; Tự nhiên  
là vô vi; Tự nhiên là sự an nhiên, tự tại; Tự nhiên  
là sự tùy duyên; Tự nhiên và con người hợp  
nhất. Văn chương chính là Đạo, là Tự nhiên.  
Sáng tác văn chương chính là đến với Đạo, trở  
về với chân tánh là phục kỳ bổn. Văn chương  
phải Tự nhiên, phải tùy duyên mới đến được Tự  
nhiên với Đạo. Tự nhiên là nơi di dưỡng tâm  
hồn để có thể an nhiên, tự tại trong cuộc đời. Tất  
cả những điều này sẽ được các tác giả giai đoạn  
sau (thời Lê - Nguyễn) thể hiện một cách trực  
tiếp hơn.  
Trần Quang Triều, trong Đề Gia Lâm tự, khi  
đã nguội lạnh với chính sự, ông dạo bước cửa  
Thiền, hòa mình vào thiên nhiên vạn vật:  
Tâm khôi oa giác mộng,  
Bộ lý đáo Thiền đường.  
Xuân vãn hoa dung bạc,  
Lâm u thiền vận trường.  
3.2. Tự nhiên trong quan niệm của các tác  
giả thời Lê - Nguyễn  
Dịch thơ: Nguội ngắt lòng danh lợi,  
Am Thiền rảo bước qua.  
Xuân chầy hoa mỏng manh,  
Sau thời Lý - Trần, quan niệm sùng thượng  
Tự nhiên trong văn chương được các tác giả thời  
Lê - Nguyễn tiếp tục thể hiện rõ nét hơn, trực  
tiếp hơn.  
Rừng thẳm ve ngân nga.  
(Nguyễn Huệ Chi - Hoàng Lê dịch) (Dương  
Phong, 2014: 216).  
Với Nguyễn Trung Ngạn, giữa con người và  
Tự nhiên (chiếc thuyền, mặt trăng, dòng sông,  
ngọn gió) như hòa thành một:  
Các nhà nho sau khi trả xong nợ công danh,  
lui về ở ẩn. Với họ không có gì bằng khi sống  
ung dung tự tại với Tự nhiên. Bản chất của văn  
chương là không vụ lợi, cho nên khi họ tránh xa  
những bon chen vật chất, danh lợi thì tâm hồn  
trở nên thanh thản, tự tại, từ đó mới cảm xúc Tự  
nhiên, chân thực và những vần thơ tuyệt diệu  
khởi phát.  
Nhân tại biển châu nguyệt tại hà,  
Động Đình thu hứng hạo vô nha.  
Mộng hồn bất quản yên ba cách,  
Nhất dạ Đông phong tống đáo gia.  
(Bạc Lăng Thành cơ)  
Dịch thơ: Người ở thuyền con, trăng ở sông,  
Động Đình thu hứng trải, mênh mông,  
Mộng mơ chẳng quản mây xa cách,  
Một lối về nhà cậy gió đông.  
Nguyễn Trãi quan niệm sống trong Tự nhiên,  
hòa mình cùng Tự nhiên sẽ thưởng thức được vẻ  
đẹp của Tự nhiên, đó cũng là môi trường thuận  
lợi cho thơ ca:  
Hàng chim ngủ, khi thuyền đỗ,  
Vừng nguyệt lên thuở nước cường.  
(TrầnDuyVândịch)(DươngPhong, 2014:122).  
Nguyễn Phi Khanh có cùng quan niệm với  
Trần Quang Triều. Trong bài thơ Gia viên lạc,  
khi đã: “Tâm tòng nhàn xứ thiên ưu thất” (Lòng  
thảnh thơi thì ngàn mối lo tan hết), Nguyễn Phi  
Khanh cùng hòa đồng với Tự nhiên: “An Nhân  
chí dĩ toại u cư” (Theo chí An Nhân thỏa mãn  
với cảnh thanh nhàn vắng vẻ) (Gia viên lạc).  
Tìm hiểu về quan niệm Tự nhiên của các tác  
Mua được thú mầu trong thuở ấy,  
Thế gian hay một khách văn chương!  
(Trần tình, bài 6)  
Trong thơ của Nguyễn Trãi, những hình ảnh  
như: vườn rau, ao cá, lũy tre, giếng nước, ruộng  
đồng, tiếng côn trùng,... đều là những hình ảnh  
gắn liền với cuộc sống thôn quê đạm bạc, giản  
dị. Chính cảnh Tự nhiên ấy, thơ xuất hiện.  
Nguyễn Bỉnh Khiêm là người tiêu biểu về  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
quan niệm Tự nhiên. Tư tưởng của ông có sự kết  
hợp giữa Nho giáo, Thiền-Lão và Kinh Dịch.  
Dấu ấn Thiền-Lão trong thơ Nguyễn Bỉnh  
Khiêm tương đối rõ nét, nhất là quan niệm về  
Tự nhiên. Tự nhiên trong thơ của Nguyễn Bỉnh  
Khiêm thể hiện ở các cấp độ: Tự nhiên là tự  
tánh, Tự nhiên là vô vi, Tự nhiên là quy luật.  
Trong Thơ Nôm, bài 118 và chùm thơ Ngụ  
hứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói về Tự nhiên  
chính là tự tánh của mình. Tính Tự nhiên (Ngô  
thiên) hay bản lai diện mục là khái niệm tối quan  
trọng trong tư tưởng Thiền-Lão. Ở Nguyễn Bỉnh  
Khiêm, Tự nhiên gắn với nhàn, một từ thường  
xuất hiện trong thơ của ông:  
thượng Tự nhiên trong văn chương. Các ý kiến  
phát biểu tập trung vào nội dung chính: Văn  
chương - Tự nhiên - Đạo, Văn chương - Tự  
nhiên không gọt giũa.  
- Văn chương - Tự nhiên - Đạo  
Khi phát biểu trực tiếp về Văn chương - Tự  
nhiên - Đạo, các tác giả cổ điển Việt Nam  
thường nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa văn  
chương với Đạo, với Tự nhiên và quy luật Tự  
nhiên. Điều này chúng tôi cũng đã có đề cập  
trong bài viết Khuynh hướng Thiền – Lão trong  
quan niệm văn học Việt Nam giai đoạn hậu kỳ  
Trung đại (Lê Đắc Tường, 2019):  
Nguyễn Dưỡng Hạo cho rằng âm thanh của  
trời là thứ âm thanh đầu tiên trong trẻo, nguyên  
sơ không hỗn tạp. Âm thanh của con người trái  
ngược với âm thanh của trời, vì sự hỗn tạp, lẫn  
lộn tà chính. Thi nhân muốn theo được cái Đạo  
của vạn vật thì phải thuận theo đặc tính mộc  
mạc, đơn sơ của Tự nhiên và thể hiện sự Bình  
đạm trong văn chương. Từ đó, ông cho rằng văn  
chương đạt đến Tự nhiên đó chính là tiếng sáo  
Trời (Thiên lại), tức là đạt đến Đạo: “Nói chung  
hiểu trời bằng sự giản dị, hiểu đất bằng sự đơn  
sơ, thênh thênh rất công bằng, có sự huyền diệu  
ứng hợp để tạo thành sự vật, suy nó nơi việc làm,  
đặt nó nơi ngôn từ, từ cái này suy tới cái khác,  
gặp vật phẩm đề, phong vận tự nhiên không do  
đẽo gọt, há không phải là đã nắm được nguyên  
thanh đó sao?” (Đỗ Văn Hỷ, 1993: 58).  
Ngô Thì Nhậm là nhà nho, cuối đời theo  
Phật, Lão và còn được tôn xưng là “Trúc Lâm  
đệ tứ Tổ”, vì vậy quan niệm của ông về văn  
chương cũng mang nét Thiền-Lão. Trong bài  
“Viết cho ông em thứ hai nói chuyện về văn”,  
ông đã trích dẫn thơ của Trần Tử, khẳng định  
những câu thơ của Trần Tử gần với thuyết Lão  
Trang và cho rằng những người như Trần Tử có  
thể kết bạn. Từ đó, Ngô Thì Nhậm luận về tài,  
trí và nhận định: “Nếu biết tìm đến bản chất tinh  
túy thì những cái phù hoa không cần bỏ mà nó  
tự bỏ; những cái sai ngoa không cần cắt mà nó  
tự cắt, có thể trở về với thực tế thuần chất và giữ  
được nguyên vẹn bản chất của ta” (Nguyễn  
Minh Tấn, 1981: 71). Quan niệm văn chương  
của Ngô Thì Nhậm mang màu sắc vô vi, Tự  
Mịch đắc thôn khê địa nhất triền,  
Nhàn lai ngô diệc lạc ngô thiên.  
(Ngụ hứng, bài 4)  
(Tìm được một miếng đất ở cạnh con khe  
trong làng,  
Khi thanh nhàn ta cũng vui với tính tự nhiên  
của ta)  
Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chữ “nhàn”  
không đơn thuần là sự nhàn rỗi, mà là triết lý  
sống. Đó là phong cách sống an tịnh, siêu thoát,  
không vướng công danh, không lụy những điều  
tầm thường, thế tục. Chữ “nhàn” trong thơ  
Nguyễn Bỉnh Khiêm thường đi với chữ “tự tại”,  
thể hiện thái độ sống vô vi, thuận theo quy luật  
Tự nhiên của Bạch Vân cư sĩ.  
Sau Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ khoảng cuối thế  
kỷ XVI, về mặt tư tưởng, văn học Việt Nam, ảnh  
hưởng của Nho giáo trong văn học bắt đầu suy  
giảm. Đến đầu thể kỷ XVIII, tư tưởng Thiền-  
Lão lại chiếm ưu thế. Giai đoạn này, Thiền-Lão  
“không đơn thuần chỉ là cánh rừng để nghỉ ngơi  
của kẻ sĩ hành đạo như trước kia, mà nó trở  
thành cách nghĩ xuyên suốt những đánh giá về  
cuộc đời, tạo thành nhân sinh quan của các nhà  
nho tài tử” (Lê Giang, 2001: 104). Lý luận, phê  
bình văn học cổ điển Việt Nam giai đoạn này  
phát triển cả số lượng lẫn chất lượng, trong đó  
quan niệm sùng thượng Tự nhiên theo tư tưởng  
Thiền-Lão đã được phát biểu một cách tường  
minh. Theo chúng tôi thống kê, chỉ tính từ thế  
kỷ XVIII đến hết thời kỳ cổ điển đã có hơn hai  
mươi tác giả phát biểu quan niệm về sùng  
49  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
nhiên của Thiền-Lão.  
nơi bài phú và bài kí của tôi...” (Phan Trọng  
Thưởng và cộng sự, 2007: 273).  
Bùi Dương Lịch cho rằng thơ có nguồn gốc  
từ Đạo, Đạo là mẹ của vạn vật, đặc tính của Đạo  
là thuần phác, xuất phát từ cái tâm trong sáng.  
Thơ là biểu hiện của cái tình, tình tới thì biểu  
hiện thành thơ. Thơ xuất phát từ Tự nhiên nên  
có cái ý nghĩa bao quát, sâu sắc. Cho nên: “Tình  
tới thì bút tới, nên cái hứng phiêu bồng chơi vơi  
bên trăng sao và cắp ngang vũ trụ, thấp thoáng  
nơi ngoài tình, không thể một bài một câu có thể  
thu lượm được, cái mà Trang Chu gọi “nếu có  
cái chân tế mà không nắm được manh nha của  
nó, e rằng đó chẳng phải là sự hồn toàn của cái  
thần chăng?” (Đỗ Văn Hỷ, 1993: 33).  
Bùi Huy Bích khuyên người làm thơ nên  
theo Đạo, chứ không nên đua lạ tranh khéo khi  
làm thơ. Ông cho rằng chính vì thơ biểu hiện  
Đạo, Tự nhiên nên khi làm thơ không cần kỳ lạ,  
hoa mỹ: “Tác giả nên đi tìm vần thơ của cái Đạo  
cùng tột, chứ đua tranh kỳ lạ ở tứ hoa mà làm  
gì?” (Cảm tác khi sưu tập Thi sao) (Đỗ Văn Hỷ,  
1993: 66).  
Nguyễn Đức Đạt cho rằng văn chương quý ở  
chỗ Tự nhiên, không gì đẹp rực rỡ và sâu sắc  
như vạn vật trong trời đất, mà những thứ do con  
người cố gắng tạo ra chẳng thể nào sánh kịp:  
““Có người hỏi: “Văn qúy ở chỗ nào?” Ông trả  
lời “Quý ở tự nhiên. Hoa mùa xuân chẳng gấm  
lụa nào sánh kịp, chín vực sâu không sự đào  
khoét nào có thể so bì”” (Nam Sơn tùng thoại)  
(Phan Trọng Thưởng và cộng sự, 2007: 277).  
Cao Xuân Dục, trong Bài tựa tập Liên đàn  
kê thi thoại, đã quan niệm văn chương không chỉ  
là cửa ngõ của muôn vật, trái tim của trời đất,  
mà văn chương còn chính là Đạo, Đạo ở đây  
được hiểu theo nghĩa của Thiền-Lão. Đạo tức là  
Tự nhiên là chân tánh:“Thơ là tổ của quân đức,  
là tông của trăm phúc, chẳng những là cửa ngõ  
của muôn vật, trái tim của trời đất, mà còn là  
cái Một của Đạo” (Phan Trọng Thưởng và cộng  
sự, 2007: 292).  
Như đã đề cập ở phần trên Tự nhiên không  
chỉ là Đạo, Tự nhiên còn là quy luật. Bên cạnh  
quan niệm Văn chương - Tự nhiên - Đạo, một  
số tác giả còn bộc lộ quan niệm: Văn chương -  
quy luật Tự nhiên.  
Ngô Thì Chí và Vũ Duy Thanh thì quan niệm  
quan hệ văn chương, Tự nhiên, Đạo ở khía cạnh  
chân tánh.  
Trong bài Nối tiếp bài phú Thiên Thai, Ngô  
Thì Chí cho rằng văn chương chính là món quà  
của tạo hóa, vì vậy ta cần biết trân trọng và giữ  
gìn nguồn gốc Tự nhiên ấy bằng cách giữ gìn  
cái chân tính của mình. Ông quan niệm tu thân,  
rèn văn phải lấy Tự nhiên làm trọng, phải lấy  
chân thực, bỏ hư tạp, có như vậy bản thân mới  
giữ được chân tính, thơ văn mới đạt Tự nhiên.  
Vũ Duy Thanh, trong mộng được gặp Đào  
Tiềm, nhận được lời khuyên của Đào Tiềm nên  
sống hồn nhiên và tìm về chân tánh thì có thể  
hiểu được văn chương. Những lời Vũ Duy  
Thanh nghe được trong mộng cho thấy Tự nhiên  
thật đáng quý, vi diệu. Tự nhiên thể hiện ở sự  
thanh thản, hồn nhiên, chân tánh: “Lòng dục của  
con người không bờ bến, nhưng đúng với hòa  
điệu của tự nhiên thì ít lắm, ông thanh thản mà  
sống, thì vật nào có thể làm phiền được; thế gian  
đa sự, cảnh thực mịt mờ, ông hãy hồn nhiên mà  
sống, thì mình sao chẳng là tiên? Ông hãy tìm  
nó nơi thâm tâm của ông vậy, đâu phải câu chấp  
Phạm Nguyễn Du ca ngợi cảnh giới thơ Bình  
đạm gắn với Tự nhiên, từ đó ông quan niệm làm  
thơ phải theo lẽ Tự nhiên: “chuyên chú vào sự  
tỏa sáng, tự nhiên mà thành văn vẻ, rất bình  
đạm mà sinh lý thú” (Phan Trọng Thưởng và  
cộng sự, 2007: 174).  
Nguyễn Quýnh, trong bài tựa Tây Hồ mạn  
hứng của Ninh Tốn, qua việc đề cao hứng thơ và  
xem đó như là quy luật tất yếu của Tự nhiên:  
“Người như sóng biển, chữ như nước, hứng thì  
như gió. Gió thổi tới sông biển, cho nên nước lay  
động làm thành gợn, thành sóng, thành ba đào.  
Hứng chạm vào người ta cho nên chữ nổi dậy,  
không nên nín được mà sinh ra ở trong lòng,  
ngâm vịnh ở ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên  
giấy mực” (Nguyễn Minh Tấn, 1981: 103).  
Cao Bá Quát cũng quan niệm đề cao Tự  
nhiên, giản phác trong sáng tác thơ. Theo ông,  
tứ thơ cần thanh thoát, tao nhã: “Văn nhã tức  
ngô sư” (Văn tao nhã là thầy của ta). Vì thế, theo  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
Cao Bá Quát, hứng thơ đến bất chợt, không thể  
có sự gượng ép, là quy luật của Tự nhiên, như  
cơn mưa đến giục làm thơ (Ưng thị vũ thôi thi).  
Trong bài thơ Đúng là mưa giục thơ, cơn mưa  
chính là nguồn cảm hứng xúc tác cho thi nhân  
viết thành thơ. Tác giả hình dung hạt mưa như  
vó ngựa phi, từng hình ảnh, âm thanh của Tự  
nhiên như bầu trời, tiếng gió, tiếng sấm sét như  
tạo nên cảm hứng, chất liệu ngôn từ, nhịp điệu  
cho thơ.  
Vũ Duy Thanh cũng cho rằng vạn vật, mọi  
hiện tượng Tự nhiên thuở ban đầu vốn chất  
phác, hồn toàn. Cho nên thi nhân làm thơ cứ  
theo quy luật ấy mà làm, không cần phải thay  
đổi: “Tạo vật từ buổi đầu vốn thuần nhất và  
chân thực trên bày dưới đặt, cái lý ấy tự trình  
bày” (Đỗ Văn Hỷ, 1993: 76).  
- Văn chương - Tự nhiên không gọt giũa  
Mở đầu Toàn Việt thi lục, Lê Quý Đôn cho  
rằng làm văn không nên gọt giũa, vì gọt giũa làm  
hại đến văn chương: “Thơ của các bậc danh sĩ  
xưa nay rất tinh, rất thực, hợp thể, cái đó đủ rõ.  
Nếu chọn nắn nót, ưa nói lạ, gò gẫm từng chữ,  
từng câu, thơ làm ra sẽ kém” (Nguyễn Minh  
Tấn, 1981: 88). Văn chương của ông cũng vậy,  
không đẽo gọt cầu kỳ như Phan Huy Chú nhận  
xét. Phan Huy Chú đã dùng những hình ảnh rất  
sinh động, tươi đẹp và rực rỡ của tự nhiên như  
tiếng “chim ríu rít”, “hoa mùa xuân tươi nở  
đúng kỳ” để nói lên phong cách Tự nhiên của  
Lê Quý Đôn. Từ đó khen ngợi phong cách thanh  
tao, không đẽo gọt cầu kỳ: “Tôi từng thử bàn về  
điều này: Việc trước thuật của Lê Công như  
sông dài bể rộng, đầy tràn, tít tắp, không nơi  
nào không đến thế mà sự kỳ diệu của những lời  
ngâm vịnh của ông lại cũng như chim [ríu rít]  
mùa xuân, hoa [tươi nở] đúng kỳ; âm điệu hay,  
phong cách thanh tao đâu phải là cái nhờ đẽo  
gọt cầu kỳ mà có thể có được...” (Phan Trọng  
Thưởng và cộng sự, 2007: 190).  
Tập thơ này có tới một trăm vài chục bài. Tôi  
thường ngạc nhiên về việc đó, nhưng đọc hết tập  
tôi thấy sáo trời vang lên, ý tới thì bút tới, mà  
cũng không thấy cái dấu vết đẽo gọt chạm trổ...”  
(Phan Trọng Thưởng và cộng sự, 2007: 226).  
Ngô Thì Nhậm quan niệm việc làm văn  
chương cũng là việc nói theo quy luật biến đổi  
của vạn vật, cái hay của tác phẩm văn chương là  
ở sự mộc mạc, chất phác. Không gắng sức, gọt  
giũa nhưng thực chất là: “Tuy đẽo gọt nhưng  
không thấy dấu. Người làm văn quý ở mực  
thước, thanh nhã, hồn nhiên; biết nắm lấy cái  
thực làm cốt tử, rồi dùng đẹp đẽ trang sức thêm.  
Làm thơ cũng phải như thế” (Phan Trọng  
Thưởng và cộng sự, 2007: 142).  
Trong Thơ gửi Quảng Đông du tử Liêu Luận  
Anh, Nguyễn Văn Siêu ví việc làm thơ như  
trồng cây. Nếu thuận theo Tự nhiên thì cây phát  
triển, vươn cao, mạnh mẽ; còn đi ngược lẽ Tự  
nhiên thì cây sẽ tàn tạ,... Tương tự, việc sáng tác  
thơ cũng cần tránh việc khoa trương, lời hoa mỹ  
mà thiếu chân thực: “Bởi vì cái tô sức ở bên  
ngoài thì bên trong tàn tạ, cái vun đắp ở bên  
trong, thì bên ngoài tốt tươi". Và “lời càng khéo  
thì càng mất điều chân thực (chân), ý càng kỳ  
thì càng rơi xuống hư hao” (Nguyễn Minh Tấn,  
1981: 129).  
Ngô Thì Sỹ xuất thân là nhà nho, cuối đời  
theo Phật, chuộng Đạo, chủ trương tam giáo  
đồng nguyên, vì vậy, quan niệm văn chương của  
ông cũng mang sắc thái Thiền-Lão. Ông đề cao  
Tự nhiên trong sáng tác văn học, ông cho rằng,  
làm thơ là phải “nói theo sự biến đổi của vạn  
vật?” tức là thuận theo quy luật Tự nhiên. Ngôn  
từ cũng nên tránh đẽo gọt cầu kỳ, sáng tác cần  
xuất phát từ cảm hứng Tự nhiên và chân thực.  
4. Kết luận  
Trong lý luận, phê bình văn học cổ điển  
Trung Quốc và Việt Nam, sùng thượng Tự  
nhiên là một trong những khuynh hướng tư  
tưởng nổi bật. Ở Trung Quốc, khuynh hướng  
này có lịch sử hơn 2000 năm và ảnh hưởng khá  
sâu rộng trong văn học cổ Trung Quốc và các  
nước nước Đông Á. Đối với Việt Nam, khuynh  
hướng này khởi phát trong thời Lý - Trần chủ  
yếu biểu hiện qua sáng tác với những mệnh đề:  
Khi đọc về tập thơ của Nhữ Sơn Ngô Tử  
(Ngô Nhân Tĩnh), Nguyễn Địch Cát cho rằng  
thơ của Nhữ Sơn Ngô Tử có phong cách Tự  
nhiên, là tiếng nói của “Thiên lại”, bởi không có  
dấu vết ca sự cầu kỳ, đẽo gọt: “Nhân cách của  
Nhữ Sơn Ngô Tử là ưa tự nhiên thích rãnh việc.  
51  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
Tường Bách (dịch) (2001). Đạo của Vật lý,  
Một sự khám phá mới về sự tương đồng giữa  
Vật lý hiện đại và Đạo học phương Đông. Tái  
bản lần 3. Tp. HCM, Nxb Trẻ.  
Tự nhiên - bản thể; Tự nhiên - đạt Đạo; Tự nhiên  
- vô vi; Tự nhiên - an nhiên, tự tại; Tự nhiên -  
tùy duyên; Tự nhiên - con người hợp nhất. Sau  
thời Lý - Trần, đặc biệt đến đầu thế kỷ XVIII,  
sùng thượng Tự nhiên được các tác giả tự ý thức,  
thể hiện qua những lời phát biểu trực tiếp trên  
các phương diện của Tự nhiên: Văn chương -  
Tự nhiên - Đạo, Văn chương - Tự nhiên không  
gọt giũa.  
Về mặt tư tưởng, Tự nhiên trong văn học cổ  
điển Việt Nam mang dấu ấn của tư tưởng Thiền-  
Lão và có sự ảnh hưởng từ quan niệm Tự nhiên  
trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc.  
Tuy nhiên, trong lý luận, phê bình và trong thực  
tiễn sáng tác, sùng thượng đã có sự dung hợp  
tam giáo, đã được Việt hóa. Vì vậy, quan niệm  
Tự nhiên của Việt Nam trở nên gần gũi, bình dị,  
nhưng cũng rất huyền diệu.  
Trên phương diện lý luận, phê bình, quan  
niệm sùng thượng Tự nhiên của Việt Nam có  
nhiều điểm tương đồng với quan niệm văn học  
Trung Quốc. Cả hai đều xem Tự nhiên là phẩm  
chất của văn chương, văn chương phải biểu hiện  
cái Tự nhiên, tức là Đạo, văn chương là cái đức  
của Đạo. Sáng tác văn chương phải theo quy luật  
của Tự nhiên, chú trọng tính Tự nhiên và hành  
động vô vi trong quá trình sáng tác. Điều đó  
đồng nghĩa với sự phản đối cầu kỳ, gọt giũa  
trong văn chương.  
Nguyễn Duy Cần (2013). Trang Tử Nam hoa kinh,  
tập 1. Tp. HCM, Nxb Trẻ.  
Dương Ngọc Dũng (1999). Dẫn nhập tư tưởng lý luận  
văn học Trung Quốc. Hà Nội, Nxb Văn học.  
Trần Thanh Đạm, Phạm Thị Hảo (2007). Lưu Hiệp  
Văn tâm điêu long. Hà Nội, Nxb Văn học.  
Lê Giang (2001). Ý thức văn học cổ trung đại Việt  
Nam. Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc  
gia Tp. HCM.  
Lê Giang (2005). Tư tưởng lý luận văn học Trung  
Quốc - Lịch sử và tư liệu. Đề tài nghiên cứu  
khoa học cấp trường, Trường Đại học Khoa  
học xã hội và Nhân văn Tp. HCM.  
Đỗ Văn Hỷ (1993). Người xưa bàn về văn chương.  
Hà Nội, Nxb Khoa học Xã hội.  
Khoa Ngữ văn và Báo chí (2006). Một số vấn đề về lý  
luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc. Kỷ yếu  
Hội nghị khoa học “Cái nhìn mới về lý luận,  
phê bình văn học cổ Trung Quốc”, Trường Đại  
học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp. HCM.  
Viên Mai (-). Tùy viên thi thoại. Trương Đình Chi  
(dịch) (2002). Nxb Văn nghệ Tp. HCM.  
Nguyễn Tôn Nhan (1998). Từ điển văn học cổ điển  
Trung Quốc. Nxb Văn nghệ Tp. HCM.  
Dương Phong (tuyển chọn) (2014). Thơ thời Lý –  
Trần. Hà Nội, Nxb Văn học.  
Nguyễn Minh Tấn (chủ biên) (1981). Từ trong di  
sản... Hà Nội, Nxb Tác phẩm mới.  
Trong thực tiễn sáng tác, quan niệm đề cao  
Tự nhiên đã trở thành khuynh hướng nghệ thuật  
xuyên suốt trong văn học cổ điển Trung Quốc  
và Việt Nam. Nếu quan niệm “Văn dĩ tải đạo”,  
“Thi dĩ ngôn chí” của Nho giáo là để các nhà  
văn, nhà thơ biểu hiện ra bên ngoài nhằm kinh  
bang tế thế, thì quan niệm sùng thượng Tự nhiên  
của Thiền-Lão chủ yếu là sự biểu hiện bên trong  
để di dưỡng tính tình, giữ gìn sự thanh sạch của  
tâm hồn, cao hơn là để thể hiện sự thấu triệt chân  
lý cuộc đời và hướng đến sự giác ngộ, đạt Đạo.  
Lê Đắc Tường (2019). Khuynh hướng Thiền – Lão  
trong quan niệm văn học Việt Nam giai đoạn  
hậu kỳ trung đại. Tạp chí Nghiên cứu Văn  
học, số 2.  
Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần  
Nho Thìn (sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu)  
(2007). Mười thế kỷ bàn luận về văn chương.  
Hà Nội, Nxb Giáo dục.  
Lê Quang Trường (2009). Lý Thương Ẩn - Lan trong  
rừng vắng. Nxb Văn nghệ Tp. HCM.  
Viện Văn học (1977). Thơ văn Lý - Trần, tập 1. Nxb  
Khoa học xã hội.  
Viện Văn học (1989). Thơ văn Lý - Trần, tập 2,  
quyển thượng. Nxb Khoa học xã hội.  
Chung Vinh (-). Thi phẩm tập bình. Nguyễn Đình  
Phức, Lê Quang Trường (tuyển dịch) (2008).  
Nxb Văn nghệ Tp. HCM.  
Tài liệu tham khảo  
Capra, F. (1975). The Tao of Physics: An  
Exploration of the Parallels Between Modern  
Physics and Eastern Mysticism. Nguyễn  
52  
pdf 12 trang yennguyen 16140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phạm trù tự nhiên trong lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc và Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfpham_tru_tu_nhien_trong_ly_luan_phe_binh_van_hoc_co_trung_qu.pdf