Thiên nhiên trong truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn phê bình sinh thái

VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
THIÊN NHIÊN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC TỪ  
GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI  
Lê Thị Hồng Nhạn  
Trường THPT Phú Ngọc, Đồng Nai  
Ngày nhận bài: 11/06/2019, Ngày duyệt đăng: 07/09/2019  
Tóm tắt  
Theo Cheryll Glotfelty, phê bình sinh thái đầu tiên và đơn giản nhất là nghiên cứu  
mối quan hệ giữa văn học với môi trường tự nhiên. Phê bình sinh thái đề xuất lý thuyết  
“tự nhiên trung tâm luận”, phản biện lại quan niệm “con người trung tâm luận”. Từ góc  
nhìn Phê bình sinh thái, trong truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, thiên nhiên là nền tảng  
chủ đạo, là trung tâm của bức tranh cuộc sống. Ở đó, con người sống hòa vào tự nhiên.  
Qua truyện ngắn của ông, ta cũng thấy được sự chuyển biến của sinh thái tự nhiên, sự  
thay đổi trong quan hệ giữa con người với tự nhiên. Từ đó, tác giả cũng thể hiện thái độ  
không đồng tình trước sự tận diệt thiên nhiên trong quá trình khai thác.  
Từ khóa: Bình Nguyên Lộc, phê bình sinh thái, thiên nhiên.  
Nature in short stories of Binh Nguyen Loc from the ecocriticism viewpoints  
Abstract  
According to Glotfelty, the first and the simplest ecocriticism is the study of the  
relationship between literature and natural environment. The ecocriticism proposes the  
theory of “natural centralism”, but disagrees with the notion of “human center”. From  
the perspective of ecocriticism in Binh Nguyen Loc's short stories, nature is the  
mainstream and the center of the picture of life. In which, people live in harmony with  
nature. Through his short stories, the transformation of natural ecology, and the change  
in the relationship between man and nature is seen. Since then, disagreement with the  
destruction of the nature during the exploitation is stated.  
Keywords: Binh Nguyen Loc, ecocriticism, nature.  
1. Đặt vấn đề  
có cái nhìn khác đối với thiên nhiên, tuy  
chưa chuyển hết sang quan điểm sinh thái  
trung tâm luận như trong văn học sinh thái  
ở thế kỷ XXI, trong đó có Bình Nguyên  
Lộc. Truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc  
đã phản ánh khá rõ nét sự chuyển biến của  
sinh thái tự nhiên, từ việc khai khẩn đất  
mới để mưu sinh lập nghiệp, sự lấn sân của  
Nếu như trong văn học trung đại, thiên  
nhiên còn nhiều bí ẩn để con người bày tỏ  
lòng ngưỡng mộ và để trú ngụ tâm hồn  
mình thì đến thời hiện đại, với quan điểm  
con người trung tâm luận, thiên nhiên là  
đối tượng khai thác nhằm phục vụ cho  
cuộc sống. Tuy nhiên, không ít nhà văn đã  
89  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
đô thị vào sinh thái tự nhiên, đến sự  
chuyển biến trong quan hệ giữa con người  
với thiên nhiên như ý thức trân trọng, giữ  
gìn tự nhiên, hay phản ánh việc con người  
trở về với môi trường tự nhiên. Đây là một  
vấn đề còn mới mẻ khi nghiên cứu về nhà  
văn Bình Nguyên Lộc. Trước đó, đã từng  
có những nhà nghiên cứu về Bình Nguyên  
Lộc như Nguyễn Văn Đông (2005) với  
công trình Văn hóa và con người Nam Bộ  
trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc; tác  
giả Lê Thị Thu Hiền (2010) với Truyện  
ngắn Ký thác của Bình Nguyên Lộc dưới  
góc nhìn văn hóa, tác giả Nguyễn Thị Thu  
Trang (2010) với công trình Con người và  
Văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của  
Bình Nguyên Lộc… Từ việc thống kê và  
nghiên cứu các công trình đi trước, chúng  
tôi chưa thấy có công trình nào nghiên cứu  
truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc dưới  
góc nhìn phê bình sinh thái. Cho nên, việc  
nghiên cứu để có cái nhìn toàn diện và đầy  
đủ hơn về truyện ngắn của Bình Nguyên  
Lộc từ góc nhìn phê bình sinh thái và rất  
cần thiết. Bài viết được triển khai theo  
hướng tìm những dấu ấn sinh thái trong  
truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, để thấy  
những đóng góp của một nhà văn lớn với  
những tư tưởng đi trước thời đại trong nền  
văn học đô thị miền Nam một thời bị quên  
lãng. Qua đó, bài viết muốn góp phần cảnh  
tỉnh con người về bảo về môi trường sinh  
thái của đất nước chịu nhiều ảnh hưởng  
của biến đổi khí hậu như Việt Nam.  
khái niệm khác nhau về phê bình sinh thái  
nhưng phần lớn các học giả trên thế giới và  
Việt Nam đều thừa nhận định nghĩa của  
Cheryll Glotfety cho rằng: “Phê bình sinh  
thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn  
học và môi trường tự nhiên” (Nguyễn Thị  
Tịnh Thy, 2017: 9). Phê bình sinh thái lấy  
chủ nghĩa sinh thái làm trung tâm, nhấn  
mạnh sự bình đẳng giữa con người với tự  
nhiên. Phê bình sinh thái manh nha vào  
những năm 70 của thế kỷ XX ở phương  
Tây. Để phát triển phê bình sinh thái phải  
kể đến Hội nghiên cứu về Môi trường  
(ASLE), hình thành vào 1992 ở Hoa Kỳ;  
các nhà nghiên cứu như Kroeber (1994)  
với cuốn chuyên luận Phê bình sinh thái;  
Cheryll Glotlty, Harold Fromm hay Karen  
Thornber, … với nhiều bài viết có tính  
định hướng quan trọng trong phê bình sinh  
thái làm cho phê bình sinh thái dần trở  
thành một khuynh hướng được giới nghiên  
cứu khắp năm châu quan tâm. Ở Việt  
Nam, văn học sinh thái là một tiềm năng  
mà nghiên cứu phê bình sinh thái là một  
hướng nghiên cứu cấp thiết nhưng còn mới  
mẽ. Nhưng không phải tác phẩm văn học  
nào viết về tự nhiên cũng là tác phẩm văn  
học sinh thái và cũng không phải từ khi có  
khái niệm văn học sinh thái thì tác phẩm  
văn học sinh thái mới ra đời, điều quan  
trong và ý thức sinh thái của tác giả được  
thể hiện qua tác phẩm của mình.  
2.2. Nhà văn Bình Nguyên Lộc  
Bình Nguyên Lộc (1914 – 1987), là  
nhà văn lớn của Nam Bộ, tên thật là Tô  
Văn Tuấn, quê ở làng Tân Uyên, tổng  
Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hòa, (nay  
thuộc thị trấn Tân Uyên, tỉnh Bình  
Dương). Ông sống trong gia đình nông lâm  
nghiệp. Từ nhỏ, ông học trường làng, rồi  
học ở Sài Gòn, sau đó về làm việc ở Thủ  
2. Khái lược về phê bình sinh thái  
và nhà văn Bình Nguyên Lộc  
2.1. Phê bình sinh thái  
Thuật ngữ sinh thái học là một khoa  
học về “mối quan hệ giữa sinh vật (tự  
nhiên và con người) với môi trường sống”  
(Viện Ngôn ngữ học, 2002: 10). Có nhiều  
90  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
Dầu Một rồi vào Sài Gòn viết văn. Năm  
1942, Bình Nguyên Lộc bắt đầu tham gia  
hoạt động văn nghệ. Ngoài hai tập truyện  
đầu tay Hương gió Đồng Nai, Phù Sa đều  
bị thất lạc do chiến tranh, ông còn để lại  
nhiều tác phẩm có giá trị khác như những  
tập truyện ngắn Ký thác, Nhốt gió, Thầm  
lặng, Mưa thu nhớ tằm…và nhiều tiểu  
thuyết trong đó có Đò dọc, được nhận Giải  
thưởng Văn chương với tiểu thuyết vào  
năm 1959 và giải nhất Văn chương toàn  
quốc vào năm 1960. Ngoài ra, ông còn làm  
báo, làm nhà xuất bản… Sau ngày đất  
nước thông nhất 1975, ông ngừng cầm bút  
vì bệnh nặng, sau đó được gia đình bảo  
lãnh qua nước ngoài chữa bệnh, tại Hoa  
Kỳ năm 1985 và hai năm sau ông mất tại  
California, Hoa Kỳ, thọ 74 tuổi.  
người đã tác động vào hệ sinh thái tự  
nhiên, làm chúng có sự chuyển biến sâu  
sắc như săn bắt động vật, chặt phá cây  
rừng, khai khẩn đất rừng để làm nhà, để  
trồng trọt, để lập nên những khu công  
nghiệp,… làm thay đổi sinh thái tự nhiên.  
3.1. Khai khẩn đất mới để mưu sinh  
lập nghiệp  
Đọc truyện ngắn của Bình Nguyên  
Lộc, người đọc thấy được hình ảnh những  
người di dân khai hoang mở cõi. Truyện  
Rừng mắm viết về gia đình thằng Cộc từ  
Sa Đéc xuống vùng U Minh để khai phá  
đất rừng trồng tràm, trồng lúa, với mong  
muốn lập ấp lập xóm. Việc đầu tiên của  
khai khẩn đất hoang là đốt rừng để trồng  
lúa, lập vườn. Ông nội và tía thằng Cộc đốt  
rừng tràm từ ngoài bờ rạch, gió thổi vô  
rừng làm đám cháy càng to và diện tích  
khai khẩn ngày càng nhiều. Cứ thế rừng sẽ  
lùi dần để dành chỗ cho người dân mở  
rộng đất canh tác, rồi lập xóm lập làng.  
Đây là quá trình chuyển biến của sinh thái  
tự nhiên sang sinh thái nông nghiệp trong  
một nước thuần nông như Việt Nam. Con  
người tác động vào tự nhiên ngày càng  
mạnh mẽ để tìm chốn an cư lạc nghiệp  
cũng như hành trình sinh tồn của loài vật  
trong chuỗi thức ăn của chúng. Trong  
truyện Bà mọi hú, lưu dân cũng tìm đến  
quả núi nhỏ bé mang tên núi Bà Mọi để  
khai hoang lập nghiệp. Người ta khai phá  
rừng quanh hòn núi nhỏ, “lấn lần vào rừng  
bằng cách đốn cây” và vì thế “rừng già bị  
gặm ngày một, chậm mà chắc chắn, mãi  
đến một ngày kia thì vòng vây bị xiết chặt  
quanh hòn núi” (Nguyễn Q. Thắng, 2012:  
313). Khi bị bà Mọi cản trở, chặn nước từ  
trên cao, lưu dân đã đốt phần chóp núi còn  
lại, để mở rộng đất canh tác và tiêu diệt bà  
Mọi. Đây cũng có thể xem là một cuộc  
3. Những chuyển biến của sinh thái tự  
nhiêntrongtruyệnngắncủaBìnhNguyênLộc  
Trong sinh thái học, sự sinh trưởng và  
phát triển của sinh vật chịu sự tác động của  
nhiều nhân tố sinh thái trong đó có 3 nhân  
tố chính, đó là nhóm nhân tố vô sinh  
(Abiotic factor) gồm khí hậu, đất, nước,  
địa hình, nhóm nhân tố hữu sinh (Biotic  
factor), gồm thực vật, động vật, vi sinh vật  
và nhóm nhân tố con người (Man factor)  
gồm tất cả các hoạt động của xã hội loài  
người làm biến đổi tự nhiên (Nguyễn Thị  
Ngọc Ẩn, 2001: 19). Vậy nên, khi nói đến  
sự chuyển biến của sinh thái tự nhiên trong  
truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, phải  
nói đến sự thay đổi về đất đai khí hậu, rồi  
đến các loại sinh vật dưới sự tác động của  
con người. Hơn thế, môi trường tự nhiên  
không phải là một thực thể bất biến mà  
luôn tác động qua lại giữa các thực thể  
trong quần xã sinh vật, trong đó con người  
là một sinh vật tiến bộ hơn cả. Trong quá  
trình cải tạo cuộc sống của mình, con  
91  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
xâm lấn và tác động của con người làm  
mất cân bằng sinh thái. Trong truyện Mẹ  
tôi tái giá, cuộc phá rừng lại được đề cập ở  
một khía cạnh khác, đó là phá rừng trồng  
cao su. Tây Xi – lăng – ba đã cho người  
chặt phá hàng trăm mẫu đất để trồng cao  
su nhưng gặp phải sự chống phá ngầm của  
nhưng người dân yêu núi rừng như anh  
Mín. Nhưng cuối cùng, Mín phải bỏ đi như  
một sự thua cuộc khi lão Tây Xi – lăng –  
ba “quả quyết mộ phu phá trên sáu mươi  
mẫu rừng” để trồng cao su, khi mà “rừng  
me của dân làng bỗng dưng bị trầy vi trốc  
vảy, bị lột da, cắt tóc đến trần truồng như  
nhộng sau hơn một tháng ngược đãi do  
một toán phu đông hàng trăm người”  
(Nguyễn Q. Thắng, 2002: 477). Trong quá  
trình khai hoang lập nghiệp, con người tác  
động vào tự nhiên ngày càng mạnh mẽ như  
việc săn bắt thú vật như bắt Ô Heo trong  
Rừng mắm, hứng cá trong tác phẩm Bám  
níu. Điều này đã phản ánh sự thay đổi tự  
nhiên trong quá trình chuyển biến của xã  
hội về quan hệ sinh tồn của muôn loài.  
người sống và người chết được phân định  
rõ ràng. Chết là về với đất mẹ, về với thiên  
nhiên, nên khi chết, người ta được chôn cất  
ở bãi tha ma, nơi núi đồi hoang lạnh và  
vắng người qua lại. Về tâm linh, người  
sống luôn tôn trọng sự yên tỉnh của người  
chết, vì chết là đến nơi an nghỉ, ở đó không  
có ganh đua, không bon chen hay lừa dối.  
Vậy mà, Bình Nguyên Lộc đã nhìn thấy sự  
thay đổi ngay cả cách người ta dịch chuyển  
chỗ ở. Người sống vì nghèo khó, vì thiếu  
đất ở, đã phải di cư vào nơi đất thánh, đất  
cấm: “Ban đầu vài người mạo hiểm cất  
nhà ngay trên ranh đất thánh. Thấy không  
ai nói gì, một số người khác lách qua khỏi  
mấy cái nhà vừa cất lên, để vô trong mà  
xây cất” (Nguyễn Q. Thắng, 2012: 41).  
Trong truyện Người đẹp ven sông, tấm  
biển quảng cáo thuốc đánh răng Perlon đã  
làm thay đổi cuộc đời của anh tư Được,  
người làm phu trên một chiếc phà máy ở  
bến Hậu Giang Cần Thơ. Sự quyến rũ của  
nàng trong tấm biển quảng cáo như là sự  
quyến rủ của phồn hoa đô hội. Khi nền  
công nghiệp đang lấn sân vào Việt Nam,  
và cuộc sống khó khăn ở miền quê đã làm  
dòng di cư ào ạt lên đô thành làm sinh thái  
tự nhiên vùng miền cũng bắt đầu chuyển  
dịch. Sức quyến rũ của nó mạnh như một  
cô gái xinh đẹp có hàm răng trắng muốt,  
có đôi mắt biết nói và nụ cười khả ái. Biết  
đó là ảo mộng nhưng “ảo mộng giúp tươi  
đẹp phần nào cuộc đời tăm tối và phẳng lì  
của anh tư Được”. Người ta nghĩ về đô  
thành cũng mãnh liệt như khi mơ về một  
cô gái đẹp. Sài thành là một giấc mơ của  
biết bao con người ở miền quê nghèo này:  
“Từ thành phố lạ ấy vọng xuống từ lâu một  
tiếng gọi xa xôi, nó mời mọc chàng, nó rủ  
rê chàng, nó quyến dụ chàng bằng hình  
bóng người đẹp đánh răng” (Nguyễn Q.  
3.2. Sự lấn sân của đô thị ảnh hưởng  
đến sinh thái tự nhiên  
Môi trường sống thay đổi kéo theo sự  
thay đổi sinh thái tự nhiên. Mở đầu truyện  
Ba con cáo, Bình Nguyên Lộc đã chọn  
điểm nhìn mới mẻ và độc đáo, đó là từ bãi  
tha ma, thế giới của người chết để nói về  
người sống. Không gian ở chốn mồ hoang  
mả lạnh làm cho người đọc lợm người.  
Không miêu tả chiến tranh chết chóc, Bình  
Nguyên Lộc chọn những cây thánh giá sắp  
thành hàng đông đúc, những cánh tay dang  
ra để chực bắt người để thấy được những  
khó khăn như đang bủa vây lấy đời sống  
con người, để vì thế cuộc xâm lấn đất ở  
của người sống bắt đầu. Trong sinh thái tự  
nhiên, có sinh thì có tử, ranh giới giữa  
92  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
Thắng, 2002: 143), Tuy nhiên, không phải  
ước vọng nào cũng thành hiện thực, giấc  
mơ nào cũng mãi đẹp, cái còn lại là cả sự  
đổ vỡ. Đô thành vốn tráng lệ, hào hoa kia  
đã đi sâu ảnh hưởng đến cuộc sống của  
người dân quê, đây là lời cảnh báo của tác  
giả và càng về sau, nó càng đúng hơn.  
Trong truyện Ma ném đá, thằng Ngọt cũng  
đã nói ra suy nghĩ của mình về việc cứ hễ  
cô Hén về làng là có ít nhất một cô gái ở  
làng đi theo tiếng gọi thị thành. Vậy nên,  
Ngọt đã giả ma ném đá để cho Hén bỏ lên  
Sài Gòn, không kịp quyến rũ vợ chưa cưới  
của anh. Sự chuyển dịch dân cư này làm  
cho ai cũng phải lo lắng bởi vì “Tiếng gọi  
của thị thành réo rắt lắm, và gái quê,  
những cô gái nghèo khổ, cực nhọc, cô nào  
cũng có mộng ra thành thị cho sung sướng  
tấm thân” (Nguyễn Q. Thắng, 2012: 382).  
Cả người lớn cũng nhìn thấy “sự hao hớt  
dân làng” bởi những chuyến di dân này.  
Như vậy, với tài quan sát tỉ mỉ và phân tích  
giải thích kỹ càng, Bình Nguyên Lộc đã  
nhìn ra được những thay đổi sinh thái tự  
nhiên khi công cuộc đô thị hóa ngày một  
mạnh mẻ hơn, qua đó gửi gắm suy nghĩ  
của mình trước thời cuộc.  
Lộc, con người đã sống chan hòa vào thiên  
nhiên, xem thiên nhiên như là người mẹ  
không thể thiếu để khai thác, để tìm nguồn  
sống trong những ngày khai hoang lập địa.  
Người dân vào rừng khai khẩn đất hoang  
để lập ấp lập làng và xem thiên nhiên là  
nguồn sống bất tận. Trong truyện Không  
một tiếng vang, người dân bắt cá dưới sông  
để bán: “Cá sát đánh hơi hèm đổ xô vào  
giỏ cần xế rồi anh bắn tung người lên khỏi  
mặt nước” (Nguyễn Q. Thắng, 2002: 107),  
hay xúc cát ở những cồn nổi, cồn chìm  
dưới lòng sông để kiếm sống. Truyện Bà  
Mọi hú, Rừng mắm… cũng cho thấy thiên  
nhiên bạt ngàn rừng núi và mênh mông  
sông nước như là nguồn sống bất tận mà  
con người khai thác để sinh tồn.  
Sống và dựa vào thiên nhiên, tiêu thụ  
thiên nhiên, tác giả đã xem thiên nhiên là  
một phần tử trong chuỗi thức ăn của các  
sinh vật trong thế giới tự nhiên. Tuy nhiên,  
trong truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc,  
ta thấy được ý thức trân trọng, giữ gìn tự  
nhiên được thể hiện qua tình cảm và thái  
độ của tác giả ẩn chứa trong tác phẩm. Sự  
xót xa của dân làng khi chứng kiến cảnh  
người dân khai hoang phải đốt cả ngọn núi  
để xua đuổi, vây bắt bà Mọi khi bà ngăn họ  
phá rừng trong truyện Bà Mọi hú. Tác giả  
đã thốt lên: “Tranh sống! Trời ơi! Tranh  
sống ác liệt thay! - Một ông lão lẩm bẩm  
như vậy rồi nước mắt chan hòa”. Họ xót  
xa trước tiếng hú tuyệt vọng của của một  
tộc người sơn cước. Cách tác giả miêu tả  
tiếng hấp hối của bà Mọi, cũng như của  
cánh rừng trước khi bị hủy diệt: “Tiếng hú  
vang rền từng hồi, hấp hối, rồi lại nấc lên  
và rốt cuộc chết dần, tắt hẳn, trong ngọn  
lửa cao ngất trời đã bò lên tới đỉnh” đã  
phần nào nói lên tấm lòng của tác giả đối  
với tự nhiên, nghe “se thắt lòng lại, quặn  
4. Sự chuyển biến trong quan hệ  
giữa con người với thiên nhiên  
Con người và thiên nhiên là hai thực  
thể luôn gắn bó, hòa quyện với nhau trong  
mối quan hệ phức tạp. Trước khi sinh thái  
học ra đời, nhân loại vẫn cho rằng con  
người là trung tâm của vũ trụ, tự nhiên là  
khách thể để gửi gắm tâm tư tình cảm của  
con người. Nhưng trong văn Bình Nguyên  
Lộc, ta thấy có sự chuyển dịch trong cách  
nhìn nhận mang ý thức sinh thái khá rõ.  
4.1. Ý thức trân trọng, gìn giữ môi  
trường tự nhiên  
Trong truyện ngắn của Bình Nguyên  
93  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
đau một niềm bất nhẫn” (Nguyễn Q.  
Thắng, 2012: 315).  
tiếng về sự khai thác tận diệt của người  
dân và bày tỏ thái độ không đồng tình của  
mình. Phải chi họ biết dừng lại, thì nguồn  
thức ăn kia sẽ mãi dồi dào cho họ khai  
thác. Hay khi ông trưởng thôn, lão  
Nghiệm, cùng hai người nữa vào rừng tát  
vũng Mẹ Con, ông ta đã đứng nơi vũng đó  
thật lâu, vì “không nỡ để chân xuống đó  
mà phá đám sự yên ổn của loài thủy tộc ẩn  
dật này, mà làm vẩn đục khối nước trong  
leo lẻo mà đạp gãy bao nhiêu thủy thảo  
đẹp như cây cảnh non bộ của nhà giàu”  
(Nguyễn Q. Thắng, 2012: 369). Đây là tấm  
lòng của tác giả trong việc giữ gìn sinh thái  
tự nhiên. Theo quan điểm “nhân loại trung  
tâm luận”, con người luôn đấu tranh để  
chinh phục tự nhiên, xem tự nhiên như là  
tất yếu phải phục vụ con người. Vì vậy,  
trong quá trình khai thác tự nhiên, con  
người luôn đặt lợi ích của mình lên trên  
hết, làm sao càng phá được nhiều rừng,  
chiếm được nhiều đất càng tốt, làm sao để  
đánh được nhiều cá, xúc được nhiều cát  
dưới lòng sông càng tốt. Với sự khai thác  
đó, con người đã vô tình làm lệch chuỗi  
thức ăn, phá vỡ cân bằng sinh thái nguyên  
sinh, ảnh hưởng đến sự hài hòa của sinh  
thái tự nhiên.  
Truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc  
phản ánh quá trình con người tác động vào  
tự nhiên và xem đó là điều cần thiết để con  
người định cư và sinh sống trong buổi đầu  
khai hoang lập địa. Nhưng người đọc còn  
thấy được thái độ trân trọng môi trường tự  
nhiên hay sự xót thương thiên nhiên trước  
sự khai thác tận diệt. Đó chính là cảm quan  
sinh thái, ý thức sinh thái của tác giả.  
4.2. Con người trở về với môi trường  
tự nhiên  
Sau tất cả, thiên nhiên vẫn là nơi trú  
ngụ của tâm hồn con người. Trở về tự  
Biết trọng thiên nhiên, biết thương tự  
nhiên, đó chính là ý thức trân trọng tự  
nhiên của con người. Trong truyện Mẹ tôi  
tái giá, qua nhân vật Mín, tác giả bày tỏ sự  
phản đối của mình trong việc chặt phá  
rừng xanh để trồng rừng cao su, mặc dù đó  
cũng là rừng, nhưng không phải rừng tự  
nhiên. Mín cũng như những người dân  
khác đã âm thầm phá kế hoạch của tên tây  
Xi – lăng – ba là phá rừng trồng cao su  
hàng loạt nên đã nấu nước sôi bằng cồn, để  
tưới lên những cây cao su mới trồng. Vì  
hơn ai hết, “họ sống nhờ rừng thì họ xem  
rừng như bà mẹ đã nuôi dưỡng họ, và  
quyết bảo vệ rừng sâu” (Nguyễn Q.  
Thắng, 2002: 469), vậy nên Mín và cả dân  
làng hai bên bờ sông không ai bảo nhau  
mà cùng hành động y như nhau. Đó chính  
là sự phản ứng lại của con người trước sự  
chiếm hữu thiên nhiên, của một bộ phận  
tận diệt thiên nhiên. Tác giả đã nhìn thấy  
những khó khăn trong việc ngăn chặn xu  
hướng tàn phá thiên nhiên này, nên cuối  
tác phẩm, nhân vật Mín đã bỏ rừng mà đi.  
Bởi vì, số đông mọi người lúc bấy giờ đều  
nghĩ “luật trời là đàn bà còn trẻ phải tái  
giá”. Mín không tìm được tiếng nói chung,  
hay chính tác giả không đồng tình với việc  
phá rừng hàng loạt: “Rồi Mín ra đi, lòng  
chết lạnh”. Trong truyện Bám víu, Bình  
Nguyên Lộc đã viết về việc hứng cá của bà  
con làng quê để mưu cầu sự sống: “Dân  
quê miền Đông họ nghèo, không có tiền  
mua thịt, mà cá dưới sông bị họ hủy diệt  
bừa bãi thế này, hàng trăm triệu con mỗi  
năm, hủy diệt hồi chúng còn là mầm non  
thôi nên chi rồi họ lại phải nhịn thèm, vì  
đâu còn cá để mà câu?” (Nguyễn Q.  
Thắng, 2012: 367). Qua đó, tác giả đã lên  
94  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
nhiên là trở về với đất mẹ, với quê hương,  
nơi tâm hồn con người cảm thấy thanh  
thản và thoải mái hơn cả. Trong truyện  
ngắn của Bình Nguyên Lộc, ta gặp không  
ít chi tiết ra đi và trở về. Con người sau  
những va vấp trong cuộc sống mưu sinh,  
trước những khó khăn không thể giải quyết  
được, đã bỏ làng bỏ xóm để ra đi và tìm về  
với thiên nhiên, bởi vì thiên nhiên luôn mở  
rộng để đón nhận và cứu rỗi tâm hồn họ.  
Bùi An Khương, trong truyện Thèm người,  
vì nối lại tình xưa với Mỹ, người tình cũ  
giờ đã bị chồng phụ, đã bị cha mẹ truất hết  
gia tài. Anh ta luôn sống trong thù ghét vợ  
nên đã dẫn vợ vào bìa rừng để trả thù. Khi  
đứng trước tội ác, đứng trước thú tính của  
mình, Khương rơi vào hoảng loạn, tâm hồn  
tổn thương và điên cuồng không có lối  
thoát, chàng đã chọn cách bỏ lại tất cả.  
Khương đã tìm đến rừng sâu để giải tỏa  
nỗi niềm khi bế tắc, “Khương chạy như  
điên trong rừng cho đến trưa, không biết  
đau vì gai cào rách thịt”. Chính rừng sâu,  
hay thiên nhiên đã giúp con người bình  
tâm mà suy xét lại mọi việc, “chàng quyết  
định trốn luôn, không phải vì sợ sự trừng  
phạt của pháp luật loài người, mà vì chàng  
muốn xa lánh cái xã hội mà nơi đó chàng  
chưa bao giờ gặp hạnh phúc” (Nguyễn Q.  
Thắng, 2002: 362). Nhưng sau nhiều tháng  
sống trong rừng sâu, chàng nhận ra rằng:  
“Không, không thể nào trốn cái xã hội loài  
người được”, vậy nên chàng đã tìm cách  
trở về với đồng loại. Hay trong truyện  
Rung cây dừa, thầy giáo Lâu, vì thất vọng  
về tình yêu, tình người, đã bỏ ra đảo hoang  
để sống, như người tiền sử. Con người khó  
khăn trong cuộc sống, không thể tiếp tục  
sống, mà là bế tắc cùng đường, họ về với  
thiên nhiên, mong tìm được sự yên bình  
trong tâm hồn. Thế nhưng, lại một lần nữa,  
tác giả lại cho con người phải trở về đúng  
với cuộc sống tự nhiên của mỗi người như  
lúc ban đầu. Sau hai mấy năm trời, trải qua  
một trận ốm thập tử nhất sinh, thầy Lâu đã  
nhận ra rằng “tiếng vang của loài người,  
của xã hội văn minh lại kêu réo như tiếng  
còi tàu thỉnh du” (Nguyễn Q. Thắng,  
2012: 146), và rồi thầy cũng trở về nơi bắt  
đầu cuộc sống của mình.  
Như vậy, con người bắt nguồn từ  
những nguyên thủy, những hồn nhiên xưa  
cũ, vì thế, lúc gặp khó khăn đau khổ trong  
cuộc đời, thiên nhiên lại hiện ra như một  
cánh tay mẹ che chở bảo bọc lấy con  
người, cứu rỗi linh hồn họ, ấp iu họ trong  
một thời gian dài như xoa dịu và chữa lành  
vết thương. Sau khi lành lặn vết thương,  
thiên nhiên lại trả con người về cuộc sống  
tự nhiên, như vốn nó là vậy. Qua truyện  
ngắn, Bình Nguyên Lộc đã để cho thiên  
nhiên tràn ngập và hòa quyện vào từng tác  
phẩm, gắn bó mật thiết với đời sống con  
người. Thiên nhiên trở thành trung tâm của  
bức tranh cuộc sống.  
5. Kết luận  
Từ quan niệm “nhân loại trung tâm  
luận” đến quan niệm “sinh thái trung tâm  
luận” là một bước tiến dài của nhân loại  
trong quá trình đấu tranh bảo vệ môi  
trường. Khủng hoảng môi trường toàn cầu  
đã làm cho con người đứng trước những  
nguy cơ sinh thái mà trước hết là sinh thái  
tự nhiên. Phê bình sinh thái là một môn  
khoa học liên ngành, là một khuynh hướng  
phê bình mới được du nhập vào Việt Nam.  
Chủ thể của phê bình sinh thái là văn học  
trong mối quan hệ với môi trường sống.  
Nghiên cứu vấn đề Thiên nhiên trong  
truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc từ góc  
nhìn phê bình sinh thái, chúng tôi dùng lý  
thuyết phê bình sinh thái để đọc lại truyện  
95  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
ngắn Bình Nguyên Lộc nhằm thấy dấu ấn  
sinh thái trong những tác phẩm ra đời từ  
thời mà lý thuyết phê bình sinh thái chưa  
phổ biến. Đó là những chuyển biến của  
sinh thái tự nhiên như khai khẩn đất mới  
để mưu sinh lập nghiệp, sự lấn sân của đô  
thị ảnh hưởng đến sinh thái tự nhiên. Đó  
còn là những chuyển biến trong quan hệ  
giữa con người với tự nhiên như ý thức  
trân trọng môi trường tự nhiên, hay con  
người trở về với thiên nhiên. Bài nghiên  
cứu này ngoài việc giúp khẳng định giá trị  
của truyện ngắn Bình Nguyên Lộc còn  
giúp thấy được những suy tư trăn trở của  
tác giả khi cuộc sống hiện đại đang xâm  
nhập vào một đất nước nông nghiệp như  
Việt Nam.  
Với việc chỉ ra dấu ấn sinh thái tự  
nhiên trong truyện ngắn của Bình Nguyên  
Lộc, bài viết đã giúp người đọc có thêm  
một hướng nghiên cứu mới khi tiếp cận  
văn học, hướng nghiên cứu lấy sinh thái  
làm trung tâm. Từ đó, hướng con người  
đến một cuộc sống hài hòa với môi sinh,  
tôn trọng thiên nhiên như một sinh mệnh  
sống bên cạnh con người. Bài viết còn  
muốn gửi gắm thông điệp về ý thức bảo vệ  
môi trường, sinh thái trong xã hội hiện đại,  
khi mà môi trường sống đang bị đe dọa  
ngày một nghiêm trọng.  
Tài liệu tham khảo  
Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2001). Sinh thái học  
và môi trường. Tp. Hồ Chí Minh, Nxb  
Nông nghiệp.  
Nguyễn Văn Đông (2005). Con người và văn  
hóa Nam Bộ trong tác phẩm của Bình  
Nguyên Lộc. Luận văn Thạc sĩ, Trường  
Đại học KHXH và NV, Tp. Hồ Chí Minh.  
Nguyễn Q. Thắng (Tuyển chọn và giới thiệu)  
(2002). Tuyển tập Bình Nguyên Lộc. Tp.  
Hồ Chí Minh, Nxb Văn học.  
Nguyễn Q. Thắng (2012). Bình Nguyên Lộc  
truyện ngắn. Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ.  
Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017). Rừng khô suối  
cạn, biển độc…, và văn chương. Hà Nội,  
Nxb Khoa học Xã hội.  
Bùi Thanh Truyền (chủ biên) (2018). Phê bình  
sinh thái với văn xuôi Nam Bộ. Tp. Hồ  
Chí Minh, Nxb Văn hóa Văn nghệ.  
Viện Ngôn ngữ học (2002). Từ điển Tiếng Việt  
phổ thông. Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Tp. Hồ  
Chí Minh.  
96  
pdf 8 trang yennguyen 17160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thiên nhiên trong truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn phê bình sinh thái", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthien_nhien_trong_truyen_ngan_cua_binh_nguyen_loc_tu_goc_nhi.pdf