Phương pháp tuyên truyền bằng thơ của Hồ Chí Minh

1
CHUYÊN MỤC  
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC  
PHƯƠNG PHÁP TUYÊN TRUYỀN BẰNG THƠ  
CỦA HỒ CHÍ MINH  
NGUYỄN THỊ NHÀN*  
Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là nhà tư tưởng lớn mà còn là bậc thầy trong  
tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng cách mạng. Phương pháp tuyên  
truyền bằng thơ  ủ   ồ  h   inh th  hi n s  sáng tạo và độ  đáo, phù hợp với  
hoàn cảnh, điều ki n Vi t Nam lúc bấy giờ. Phương pháp ấy đã góp phần rất lớn  
trong vi c tạo ra s  thành công cho cách mạng Vi t Nam. Bài viết tập trung khái  
quát quá trình tuyên truyền bằng thơ  ủa Hồ Chí Minh qua các thời kỳ cách  
mạng, qu  đó đ  thấy được s  sáng tạo và độ  đáo  ủ  phương pháp tuyên  
truyền này.  
Từ khóa: phƣơng pháp, tuyên truyền, thơ, cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên  
truyền bằng thơ  
Nhận bài ngày: 30/9/2019; đư  vào biên tập: 10/10/2019; phản bi n: 19/10/2019;  
duy t đăng: 15/3/2020  
1. DẪN NHẬP  
đến một góc độ rất đặc biệt đó  à  
phƣơng pháp tuyên truyền bằng thơ  
của Hồ Chí Minh.  
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chính trị,  
nhà tƣ tƣởng lỗi lạc, đồng thời  à nhà  
v n, nhà thơ cách mạng với phong  
cách v n thơ mới, mang đậm triết lý  
hành động. Những đóng góp của Hồ  
Chí Minh đối với nền v n học cách  
mạng Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên,  
trong bài viết này, ngƣời viết không đề  
cập đến toàn bộ sự nghiệp v n  
chƣơng của Hồ Chí Minh mà chỉ bàn  
Phƣơng pháp tuyên truyền của Hồ  
Chí Minh là sự tổng hợp những cách  
thức, biện pháp tuyên truyền; là khoa  
học và nghệ thuật tuyên truyền mà  
Ngƣời đã tiếp thu, kế thừa, vận dụng  
một cách sáng tạo học thuyết Mác -  
Lênin, tinh hoa v n hóa của dân tộc  
và nhân loại, để giác ngộ, giải thích,  
cổ vũ và động viên mọi tầng lớp nhân  
dân tham gia, ủng hộ sự nghiệp cách  
* Trƣờng Đại học Quy Nhơn.  
NGUYỄN THỊ NHÀN – PHƢƠNG PHÁP TUYÊN TRUYỀN BẰNG THƠ…  
2
mạng. Ngƣời khẳng định: “Tuyên hoàn cảnh rất đặc biệt và thƣờng gắn  
liền với những sự kiện trọng đại của  
cách mạng Việt Nam. Tập thơ Ngục  
trung nhật ký(1) là một ví dụ điển hình.  
truyền  à đem một việc gì nói cho dân  
hi u, dân nhớ, dân theo, dân làm” (Hồ  
Chí Minh, 2011: 776).  
Có thể nói, phƣơng pháp tuyên truyền  
bằng thơ đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh  
lựa chọn từ rất sớm và phƣơng pháp  
ấy đƣợc Ngƣời sử dụng xuyên suốt  
trong tiến trình cách mạng Việt Nam.  
Trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch  
Hồ Chí Minh là một nhà tuyên truyền  
giàu kinh nghiệm, Ngƣời đã vận dụng  
một số phƣơng pháp tuyên truyền  
(tuyên truyền thông qua sử dụng hệ  
thống thông tin đại chúng, sách báo,  
tranh ảnh; tuyên truyền thông qua các  
hoạt động v n hóa, v n nghệ, thể thao,  
tổ chức lễ hội truyền thống, báo cáo  
điển hình, học tập gƣơng ngƣời tốt,  
việc tốt…) một cách sáng tạo và hiệu  
quả, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp  
cách mạng. Một trong những phƣơng  
pháp tuyên truyền mà Ngƣời kế thừa  
trong truyền thống hàng nghìn n m  
lịch sử của dân tộc là lối tuyên truyền  
miệng thông qua những câu vè, ca  
dao để từ đó hình thành nên một  
phƣơng pháp tuyên truyền sáng tạo  
và độc đáo: tuyên truyền bằng thơ.  
Đây  à phƣơng pháp tuyên truyền phù  
hợp với một nƣớc An Nam thời thực  
dân Pháp thống trị với 95% ngƣời dân  
không biết chữ; đồng thời cũng thích  
hợp với đời sống v n hóa tinh thần  
thấm đ m âm hƣởng ca dao, dân ca  
của ngƣời Việt Nam. Phƣơng pháp  
tuyên truyền này thể hiện tầm nhìn  
bao quát và sâu sắc của Hồ Chí Minh  
về thực tiễn cách mạng Việt Nam.  
2. THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1930  
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu  
thế kỷ XX đứng trƣớc sự khủng hoảng,  
bế tắc trầm trọng về đƣờng lối cứu  
nƣớc. Tìm lối ra khỏi cuộc khủng  
hoảng ấy là yêu cầu bức thiết của  
cách mạng Việt Nam. Giữa  úc đó,  
anh thanh niên Nguyễn Tất Thành  
bƣớc  ên vũ đài chính trị. Nhằm đáp  
ứng công tác tuyên truyền mục tiêu,  
nhiệm vụ cách mạng, chỉ ra con  
đƣờng cứu nƣớc, giải phóng dân tộc,  
Nguyễn Ái Quốc đã dịch Bản yêu sách  
của nhân dân An Nam ra tiếng Việt  
theo thể thơ  ục bát để tuyên truyền  
cho đồng bào trong nƣớc dƣới nhan  
đề Vi t Nam yêu cầu ca. Từ một Bản  
yêu sách bằng tiếng Pháp, Nguyễn Ái  
Quốc đã thể hiện sự tài tình khi  
chuyển tải toàn bộ nội dung thành 56  
câu thơ theo thể lục bát truyền thống.  
Từ tác phẩm này, ngƣời dân trong  
nƣớc và cả thế giới lần đầu tiên biết  
đến cái tên Nguyễn Ái Quốc – một  
ngƣời Việt Nam yêu nƣớc dũng cảm,  
một chiến sĩ cách mạng kiên cƣờng.  
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không  
khi nào nhận mình  à “nhà thơ” hoặc  
có ch ng cũng chỉ  à “nhà thơ bất đắc  
dĩ”. Những bài thơ của Ngƣời luôn  
đƣợc sáng tác trong những điều kiện,  
“…  ột xin tha kẻ đồng bào,  
Vì  hưng  h nh trị mắc vào tù giam.  
Hai xin phép luật sửa sang,  
Người Tây người Vi t h i phương  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (261) 2020  
3
 ùng đồng.  
đến đƣợc với nhân dân An Nam.  
Những câu thơ dễ hiểu, giản dị, dung  
dị, gần gũi đối với tất cả mọi ngƣời  
góp phần giúp nhân dân ý thức về các  
quyền tự do, các quyền dân chủ tối  
thiểu, biết đến con đƣờng cách mạng  
vô sản.  
Những tò  đặc bi t bất công,  
Giám xin bỏ dứt rộng dung dân lành.  
Ba xin rộng phép học hành,  
Mở mang kỹ ngh , lập thành công  
thương.  
Bốn xin được phép hội hàng,  
Năm xin nghĩ ngợi nói bàn t  do.  
Sáu xin được phép lịch du,  
Bốn phương mặc sứ , năm  hâu mặc  
tình  
3. THỜI KỲ 1930 - 1945  
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam  
đƣợc thành lập (3/2/1930), cách mạng  
Việt Nam bƣớc sang giai đoạn mới:  
giai đoạn đấu tranh dƣới sự  ãnh đạo  
của Đảng. Nguyễn Ái Quốc có một dự  
định rất táo bạo là viết một tác phẩm  
v n học để giới thiệu nƣớc Nga Xô  
viết với nhân dân Việt Nam và yêu  
cầu các đồng chí ở Quốc tế Cộng sản  
giúp đỡ tƣ  iệu. Ban đầu, tác phẩm  
này có tiêu đề là Những kỷ ni m về  
cuộc du lịch của tôi. Nhƣng cuối cùng  
tiêu đề tác phẩm đƣợc Ngƣời sửa lại  
là Nhật ký chìm tàu(2).  
Bảy xin hiến pháp ban hành,  
Trăm đều phải có thần linh pháp  
quyền  
Tám xin được cử nghị viên,  
Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân…”  
(Hồ Chí Minh, 2011: 612).  
Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ  
Liên Xô về tới Quảng Châu (Trung  
Quốc) với tƣ cách  à đại biểu của  
Quốc tế Cộng sản để nắm tình hình,  
gây dựng phong trào và thành lập chi  
bộ Đảng Cộng sản Đông Dƣơng.  
Tháng 6/1925, Ngƣời thành lập Hội  
Việt Nam Cách mạng Thanh niên -  
tiền thân của Đảng Cộng sản Việt  
Nam. Cùng thời gian đó, Ngƣời xuất  
bản một số tác phẩm lý luận quan  
trọng nhƣ Bản án chế độ th c dân  
Pháp; Đường cách m nh, và trực tiếp  
dịch bản Quốc tế ca ra dạng thơ  ục  
bát để tuyên truyền về cách mạng vô  
sản. Điều đó đã minh chứng Nguyễn  
Ái Quốc luôn quan tâm và sử dụng  
phƣơng pháp tuyên truyền bằng thơ ở  
mọi lúc, mọi nơi.  
Điều đặc biệt trong tác phẩm này là  
mỗi chƣơng trong tất cả 24 chƣơng  
đều có từ 2 đến 4 câu thơ  ục bát khái  
quát ý chính. Một số câu thơ tiêu biểu  
trong Nhật ký chìm tàu thể hiện tƣ duy  
sáng tạo trong phƣơng pháp tuyên  
truyền của Ngƣời nhƣ:  
“Nước Nga có chuy n lạ đời.  
Biến người nô l  thành người t  do”.  
(Hồ Chí Minh, 2011: 843).  
Tác phẩm Nhật ký chìm tàu do  
Nguyễn Ái Quốc viết đã trực tiếp  
truyền lửa cho cao trào Xô viết Nghệ  
Chính phƣơng pháp tuyên truyền đặc Tĩnh. Thời điểm đó, các đồng chí  
biệt này đã  àm cho nội dung của Bản  
yêu sách, Quốc tế   … nhanh chóng  
đảng viên đã bí mật chuyền cho nhau  
đọc Nhật ký chìm tàu, xem đó nhƣ  à  
NGUYỄN THỊ NHÀN – PHƢƠNG PHÁP TUYÊN TRUYỀN BẰNG THƠ…  
4
tài liệu tham khảo chính (Trần Minh minh” (Hồ Chí Minh, 2011: 712).  
Siêu, 2011). Qua tác phẩm này,  
Những điều nêu trong bài thơ  ười  
Nguyễn Ái Quốc kêu gọi nhân dân  
chính sách của Vi t Minh đã góp phần  
Việt Nam, trong đó có nhân dân Nghệ  
tuyên truyền cho nhân dân thấy rõ sức  
An và Hà Tĩnh noi gƣơng nƣớc Nga  
mạnh của sự đoàn kết thống nhất. Từ  
Xô viết đứng lên chiến đấu, không  
đó nhân dân tự nguyện nghe, tin, theo  
ngại hi sinh, gian khổ để giành lại nền  
tổ chức hợp thành sức mạnh vô địch  
độc lập, xây dựng cuộc sống tự do,  
làm nên thắng lợi to lớn trong Cách  
ấm no, hạnh phúc dƣới sự  ãnh đạo  
mạng tháng Tám 1945.  
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thành  
N m 1942, tình hình cách mạng có  
công và sức lan tỏa của tác phẩm  
nhiều chuyển biến mới, Hồ Chí Minh  
chính một phần là ở phƣơng pháp  
tiếp tục chuyển tải đƣờng lối chủ  
tuyên truyền bằng thơ rất đặc sắc của  
trƣơng của Đảng, chính sách của Mặt  
Chủ tịch Hồ Chí Minh.  
trận qua cách tuyên truyền bằng thơ  
Ngay khi trở về nƣớc sau 30 n m bôn  
rất đặc sắc của mình, Ngƣời liên tục  
ba hải ngoại (28/1/1941), Hồ Chí Minh  
cho ra đời những vần thơ gần gũi,  
bắt tay ngay vào việc chỉ đạo, lãnh  
trong sáng và có sức lan tỏa sâu rộng  
đạo cách mạng Việt Nam. V n là  
trong phong trào quần chúng nhân  
phƣơng pháp tuyên truyền bằng thơ  
dân nhƣ: Mừng xuân 1942; Lịch sử  
bình dị, hiệu quả và phục vụ cho số  
nước ta; Ca sợi chỉ;  òn đá;  on  áo  
đông, Ngƣời đã sáng tác rất nhiều bài  
và tổ ong; Nhóm lử ;  hơi giăng; Trẻ  
thơ để động viên, cổ vũ, giác ngộ, vận  
chăn trâu; Bài    du k  h… Đặc biệt,  
động mọi thành phần, mọi đối tƣợng  
trong bài Lịch sử nước ta (2/1942), Hồ  
tham gia, ủng hộ Việt Minh với ngôn  
Chí Minh đã tài tình tóm tắt lịch sử  
từ dễ hiểu, dễ nhớ và đi sâu vào mọi  
hơn bốn nghìn n m dựng nƣớc và giữ  
đối tƣợng, tạo sức mạnh tuyên truyền.  
nƣớc của dân tộc bằng 128 câu thơ  
Điển hình nhƣ các bài: Dân cày; Phụ  
lục bát. Đất nƣớc đã có rất nhiều bộ  
nữ; Kêu gọi thiếu nhi; Công nhân; Bài  
lịch sử với những nhà sử học có uy tín  
   l nh;  ười chính sách của Vi t  
nhƣ Lê V n Hƣu, Ngô Sĩ Liên, Trần  
 inh… Đáng chú ý, ở bài  ười chính  
Trọng Kim, Đặng Xuân Bảng… nhƣng  
sách của Vi t Minh (1941), Hồ Chí  
vì sao Ngƣời lại phải viết Lịch sử  
Minh đã khéo  éo chuyển thể 10 chính  
nước ta? Đó  à để vận động nhân dân  
sách lớn của Việt Minh bằng 46 câu  
tham gia Việt Minh, tuyên truyền tinh  
thơ  ục bát. Bài thơ đƣợc Ngƣời kết  
thần yêu nƣớc bằng cách dễ nhớ cho  
lại nhƣ một tƣ tƣởng chỉ đạo trong  
đông đảo quần chúng nhân dân  úc đó  
phƣơng châm hoạt động của Mặt trận  
đa số là mù chữ. Với thể thơ  ục bát,  
Việt Minh:  
tất cả những sự kiện, thời đại, nhân  
“Khuyên  i nên nhớ chữ đồng,  
vật trong lịch sử Việt Nam từ thời  
Hồng Bàng đến n m 1941 đƣợc  
Đồng tình, đồng sứ , đồng lòng, đồng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (261) 2020  
5
Ngƣời viết đầy đủ, chi tiết. Điều đó đã Minh v n tranh thủ viết một số bài thơ  
làm cho hiệu quả tuyên truyền của tác mỗi khi có dịp hoặc khi tết đến, xuân  
phẩm đƣợc nhân lên gấp bội. Đặc về để tuyên truyền, cổ vũ, động viên  
biệt, phần cuối của Lịch sử nước ta, quần chúng nhân dân tích cực, h ng  
điểm lại các mốc son lịch sử của dân hái tham gia vào sự nghiệp cách  
tộc, Hồ Chí Minh đƣa ra một dự đoán mạng. Những bài thơ tiêu biểu của  
chính xác: “1945 - Việt Nam độc lập” Ngƣời theo từng n m cụ thể nhƣ sau:  
(Hồ Chí Minh, 2011: 712).  
 hú  năm mới, Cảnh khuya, Tặng các  
cụ du kích, Khen tặng hai cháu liên lạc  
trong bộ đội chiến khu II (1947); Thơ  
chúc tết Mậu Tý (1948); Chúc tết 1949,  
Đi thuyền trên sông Đáy (1949); Sáu  
mươi tuổi, Khuyên thanh niên (1950);  
Thơ  hú  tết Tân Mão (1951); Thơ  
chúc Tết Nhâm Thìn (1952); Thơ  
mừng tết Quý Tỵ, Gửi các cháu nhi  
đồng nhân dịp tết Trung thu 1953  
(1953); Thơ  hú  Tết Giáp Ngọ, Quân  
ta toàn thắng ở Đi n Biên Phủ (1954);  
Mở mang thủy lợi (1958); Tặng công  
 n nhân dân vũ tr ng, Trồng cây  
(1959); Thơ mừng năm mới, Đảng ta  
(1960); Thăm lại hang Pác Bó (1961);  
Chúc mừng năm mới (1964); Mừng  
xuân 1967 (1967); Mừng xuân 1968,  
Khen 11 cháu dân quân gái thành phố  
Huế, Nhị vật - Hai chớ (1968); Mừng  
xuân 1969 (1969).  
Cuối n m 1942, với tƣ cách  à đại  
biểu của Đồng minh, Hồ Chí Minh lên  
đƣờng sang Trung Quốc thì bị chính  
quyền Tƣởng Giới Thạch vô cớ bắt  
giam. Chính trong điều kiện bị giam  
cầm, ngƣời chiến sĩ cách mạng - nhà  
v n hóa Hồ Chí Minh đã cho ra đời  
tập thơ Ngục trung nhật ký với 134 bài  
thơ bằng chữ Hán, nhiều bài thơ trong  
đó có thể sánh ngang với thơ Đƣờng,  
thơ Tống. Với Ngục trung nhật ký, Hồ  
Chí Minh đã  ên án chế độ nhà tù hà  
khắc của chính quyền Tƣởng Giới  
Thạch và thể hiện tinh thần chịu đựng  
gian khổ, khắc phục khó kh n, tinh  
thần lạc quan cách mạng và tình cảm  
nhân đạo cộng sản chủ nghĩa cao đẹp.  
Đó là một tác phẩm v n học lớn của  
một chiến sĩ cộng sản vĩ đại. Giá trị  
tuyên truyền về ý chí kiên cƣờng, lạc  
quan của ngƣời tù cách mạng trong  
tập thơ Nhật ký trong tù đến nay v n  
còn nguyên vẹn.  
Những bài thơ trong giai đoạn này với  
những lời lẽ mộc mạc, giản dị, vừa  
mang màu sắc dân gian vừa mang  
màu sắc hiện đại, đặc biệt là những  
bài thơ chúc tết hàng n m của Hồ Chí  
Minh có sức truyền cảm vô cùng lớn  
 ao và mang ý nghĩa truyền lửa cho  
công cuộc cách mạng của dân tộc.  
4. THỜI KỲ 1945 - 1969  
Từ n m 1944 trở về sau, mặc dù phải  
tập trung cao độ vào việc trực tiếp chỉ  
đạo,  ãnh đạo cách mạng Việt Nam  
trong đấu tranh giành chính quyền  
cũng nhƣ thực hiện đồng thời hai Đáng chú ý trong giai đoạn này là bài  
nhiệm vụ chiến  ƣợc: kháng chiến và thơ Khuyên thanh niên đƣợc Ngƣời  
kiến quốc, nhƣng Chủ tịch Hồ Chí tặng một đơn vị thanh niên xung  
NGUYỄN THỊ NHÀN – PHƢƠNG PHÁP TUYÊN TRUYỀN BẰNG THƠ…  
6
phong trên đƣờng đi chiến dịch Biên “đại tổng kết về lý luận” v n đang  
giới (9/1950). Bài thơ này  à  ời của đƣợc các nhà khoa học tiếp tục  
Ngƣời đối với lớp lớp thế hệ thanh nghiên cứu và làm sáng tỏ. Đặc biệt  
niên Việt Nam:  
trong tác phẩm lớn này, Chủ tịch Hồ  
Chí Minh cũng khéo  éo sử dụng  
phƣơng pháp tuyên truyền đặc biệt  
bằng hai câu thơ nhƣ một lời nhắn  
nhủ, c n dặn toàn Đảng, toàn quân và  
toàn dân:  
“Không  ó vi c gì khó,  
Chỉ sợ lòng không bền,  
Đào núi và lấp bi n,  
Quyết chí ắt làm nên” .  
(Hồ Chí Minh, 2011: 633).  
“ òn non,  òn nướ ,  òn người,  
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây d ng hơn  
mười ngày n y”.  
Ngoài ra, có thể kể đến bài thơ Quân  
ta toàn thắng ở Đi n Biên Phủ, một  
bài thơ đƣợc Ngƣời viết xuất phát từ  
cảm xúc cao độ về chiến thắng Điện  
Biên Phủ vang dội của quân ta. Điểm  
đặc sắc của bài thơ này ở chỗ là lối kể  
chuyện đánh giặc và niềm vui chiến  
thắng đƣợc thể hiện qua bốn đoạn  
thơ với bút pháp khéo  éo để tuyên  
truyền cho chiến thắng “ ừng   y n m  
châu, chấn động địa cầu”, nhằm động  
viên quân và dân ta vững tin ở sự lớn  
mạnh của mình mà tiến lên xây dựng  
đất nƣớc.  
(Hồ Chí Minh, 2011: 782).  
5. KẾT LUẬN  
Khởi nguồn phƣơng pháp tuyên  
truyền bằng thơ với Vi t Nam yêu cầu  
ca (1919) và kết thúc tròn 50 n m  
sau cũng bằng phƣơng pháp ấy trong  
bản Di chúc thiêng  iêng (1969) đã  
minh chứng cho một phƣơng pháp  
tuyên truyền rất đặc biệt, rất dung dị,  
đời thƣờng nhƣng  ại vô cùng hiệu  
quả của Hồ Chí Minh. Điều đó thể  
hiện Ngƣời không những là lãnh tụ  
thiên tài, nhà tƣ tƣởng lớn mà còn là  
bậc thầy trong tuyên truyền, giác ngộ,  
vận động và tổ chức quần chúng  
cách mạng. Phƣơng pháp đó đã trở  
thành “diệu pháp tuyên truyền” mang  
phong cách của Hồ Chí Minh và cũng  
trở thành nền tảng tƣ tƣởng chỉ đạo  
toàn bộ hoạt động tuyên truyền cách  
mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam,  
tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc,  
góp phần quyết định đến mọi thắng lợi  
của cách mạng Việt Nam. Phƣơng  
pháp tuyên truyền bằng thơ của Hồ  
Chí Minh cần đƣợc nghiên cứu đầy đủ,  
nghiêm túc và vận dụng một cách  
Thế là quân t  đã toàn thắng  
Toàn thắng là vì rất cố gắng  
Chiến sĩ viết thư dâng  ụ Hồ:  
“Xin Bá  vui lòng mà nhận cho,  
Món quà chúc thọ sinh nhật Bác,  
Chúng cháu cố gắng đã sắm đượ ”.  
(Hồ Chí Minh, 2011: 647).  
Trƣớc khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính  
yêu từ biệt chúng ta để về với thế giới  
ngƣời hiền, Ngƣời đã dành rất nhiều  
thời gian (từ tháng 5/1965 đến tháng  
5/1969) và tâm sức viết bản Di chúc  
để lại cho toàn Đảng, toàn dân Việt  
Nam. Hơn 40 n m đã trôi qua, nhƣng  
giá trị của bản Di chúc - một tác phẩm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 5 (261) 2020  
7
sáng tạo vào công tác tuyên truyền mãi mãi về sau.  
của Đảng trong giai đoạn hiện nay và  
CHÚ THÍCH  
(1) Đây  à  à cuốn sổ đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi chép trong thời gian Ngƣời bị nhà cầm  
quyền địa phƣơng của Tƣởng Giới Thạch giam giữ tại các nhà lao, tỉnh Quảng Tây (Trung  
Quốc) từ tháng 8/1942 đến 9/1943. Ngục trung nhật ký phản ánh tâm hồn đại trí, đại nhân,  
đại dũng của ngƣời chiến sĩ cách mạng không chịu khuất phục trƣớc kẻ thù. Nét nổi bật dễ  
nhận thấy nhất trong toàn bộ tác phẩm là tinh thần yêu nƣớc, lạc quan cách mạng, biến  
những điều trông thấy, những cảnh khổ cực, đọa đày ở trong tù trở thành niềm tin, tinh thần  
vƣơn  ên khát khao đối với tự do, bình đẳng.  
(2) Nhật ký chìm tàu đƣợc viết bằng Quốc ngữ và Nôm, vào n m 1930 - khi phong trào Xô  
viết Nghệ Tĩnh ở quê hƣơng Bác vừa bị dập tắt. Ngƣời viết với mong muốn giữ vững lòng  
tin cho đồng bào, đồng chí trong nƣớc, sau một cơn khủng bố trắng, qua những trang kể về  
nƣớc Nga.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Hồ Chí Minh. 2011. Toàn tập, tập 1, 3, 5, 6, 12, 15. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
2. Trần Minh Siêu. 2011. “Tác phẩm Nhật ký chìm tàu truyền lửa cho cao trào Xô viết  
Nghệ Tĩnh”. Báo Nghệ An, số ra ngày 09/9/2011.  
pdf 7 trang yennguyen 18000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phương pháp tuyên truyền bằng thơ của Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphuong_phap_tuyen_truyen_bang_tho_cua_ho_chi_minh.pdf