Ngôn luận chính trị trong pháp luật Hoa Kỳ

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
NGÔN LUẬN CHÍNH TRỊ  
TRONG PHÁP LUẬT HOA KỲ  
Lã Khánh Tùng*  
* TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Quyền tự do ngôn luận bảo vệ các truyền thông, biểu đạt của cá nhân  
bằng các hình thức, phương tiện khác nhau về mọi chủ đề công hay tư,  
trong mọi lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, hay chính trị. Tại nhiều  
quốc gia, bao gồm Hoa Kỳ, tự do ngôn luận trong lĩnh vực chính trị được  
đề cao hơn các lĩnh vực khác, do quan niệm rằng, tự do này là thiết yếu  
để bảo vệ dân chủ, quyền của người dân giám sát chính quyền, cũng như  
chống lại sự tham nhũng, bất bình đẳng trong các sinh hoạt chính trị.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích một số nguyên tắc nền tảng  
của tự do ngôn luận và quy định về ngôn luận chính trị, là sự giao thoa  
giữa tự do ngôn luận và tự do ứng cử, tranh cử trong các cuộc bầu cử,  
theo Hiến pháp và pháp luật Hoa Kỳ.  
Từ khóa: Tự do ngôn luận, ngôn  
luận chính trị, pháp luật về bầu  
cử, án lệ, Tòa án tối cao Hoa Kỳ.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 12/11/2020  
: 19/12/2020  
: 21/12/2020  
Article Infomation:  
Abstract:  
In different manners, the right to freedom of speech protects the  
communication and expressions of individuals on all public or private  
topics, in all aspects such as economics, society, culture, or politics. In  
a number of countries, including the United States, freedom of speech  
in the political aspect is given greater prominence than in other aspects,  
due to the notion that the freedom of speech is essential to protect the  
democracy, the rights of the people in monitoring the government, as  
well as to fight against corruption and inequality in political performance.  
Under the scope of this article, the author provides an analysis of the  
fundamental principles of speech freedom and the regulations on  
political speech, which are the intersection between freedom of speech  
and freedom to self-election, competitive election according to the  
Constitution and the laws of the United States.  
Keywords: Freedom of speech,  
political speech, election law,  
caselaw, the US Supreme Court.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 12 Nov. 2020  
: 19 Dec. 2020  
: 21 Dec. 2020  
Approved  
1. Lịch sử và một số nguyên tắc nền tảng  
của tự do ngôn luận  
Dưới chế độ thực dân Anh, tư tưởng  
tự do của các nhà văn, triết gia Anh như  
John Milton (1608 -1674)1, Jonh Stuart Mill  
(1806 - 1873)2, cùng với những quan điểm  
1.1. Mấy nét lịch sử  
1. Tác giả của “Areopagitica” (xuất bản năm 1644), trong thời kỳ Nội chiến Anh, bảo vệ tự do ngôn luận,  
xuất bản.  
2. Tác giả của “Bàn về tự do” (On Liberty), xuất bản năm 1859. Xem thêm: Jonh Stuart Mill, Bàn về tự do,  
Nguyễn Văn Trọng dịch, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Tri thức, 2013.  
43  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
của William Blackstone (1723 - 1780)3 đã có  
ảnh hưởng lớn tại lục địa Hoa Kỳ. Tuy nhiên,  
nguyên tắc tự do ngôn luận của người Anh  
lại hiếm khi được áp dụng đối với người dân  
thuộc địa, nhất là với những ngôn luận phản  
kháng lại mẫu quốc và hoàng gia Anh4.  
lên nhiều cuộc tranh luận về chính sách đối  
ngoại, quốc phòng của quốc gia và quyền tự  
do ngôn luận của người dân. Luật Gián điệp  
(Espionage Act, 1917) và Luật Chống kêu  
gọi lật đổ (Sedition Act, 1918) với các điều  
khoản cấm phản đối tham chiến, cấm cản  
trở việc tuyển mộ hoặc đăng ký quân dịch,  
đã bị khởi kiện ra tòa vì bị cho là đi ngược  
lại quyền tự do ngôn luận mà Tu chính án  
thứ I bảo vệ.  
Ba vụ án Schenck kiện Hoa Kỳ6, Debs  
kiện Hoa Kỳ7, và Abrams kiện Hoa Kỳ8,  
được Tòa án tối cao liên bang đưa ra phán  
quyết trong cùng năm 1919, đã trở thành  
những cột mốc quan trọng của tranh tụng  
về tự do ngôn luận. Trong hai vụ án đầu,  
toàn bộ 9 thẩm phán của Tòa án đồng thuận  
đứng về phía chính quyền, cho rằng việc  
kết án Schenk và Debs là đúng đắn, và việc  
phát tờ rơi phản đối chiến tranh tạo ra “một  
mối nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu”. Tuy  
nhiên, đến vụ án thứ ba, Oliver Wendell  
Holmes Jr. (1841 - 1935, thẩm phán giai  
đoạn 1902 đến 1932) đưa ra quan điểm bất  
đồng với đa số, cho rằng “chỉ những ngôn  
luận có nguy cơ dẫn đến những điều xấu xa  
Ở giai đoạn sau đó, mặc dù Tu chính án  
thứ I (1791)5 của Hiến pháp Hoa Kỳ (1787)  
bảo vệ quyền tự do ngôn luận và báo chí, bên  
cạnh quyền tự do tôn giáo, hội họp và khiếu  
kiện, đã có tuổi đời gần 230 năm, quyền này  
được hiện thực hóa khá muộn. Trong thời kỳ  
đầu của nền cộng hòa, đã có những đạo luật  
ngăn chặn ngôn luận một cách khắc nghiệt,  
chẳng hạn như Luật Chống kêu gọi lật đổ  
(Sedition Act, 1798) cho phép trục xuất, phạt  
tiền hoặc bỏ tù bất kỳ ai đe dọa hoặc xuất  
bản “những nội dung sai sự thật, gây tai tiếng  
hoặc ác ý” chống lại chính quyền.  
Đến đầu thế kỷ XX, các tòa án Hoa  
Kỳ hầu như chưa bao giờ thảo luận về tự  
do ngôn luận. Cho đến khi Hoa Kỳ quyết  
định tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ  
I (từ tháng 4 năm 1917), sự phản đối của  
nhiều tầng lớp trong xã hội, nhất là những  
người theo khuynh hướng cánh tả, làm dấy  
3. Luật gia, chính trị gia Anh, có tác phẩm nổi tiếng nhất là “Các Bình luận về luật của nước Anh”  
(Commentaries on the Laws of England). Trong đó, Blackstone nhận định: “Quyền tự do báo chí thực sự là  
điều cần thiết đối với bản chất của một nhà nước tự do, điều này bao gồm việc không đặt ra những hạn chế  
trước đối với các ấn phẩm và không có quyền tự do chỉ trích về các vấn đề hình sự khi được xuất bản. Mọi  
người tự do chắc chắn có quyền bày tỏ tình cảm mà anh ta muốn trước công chúng: cấm điều này, tức là phá  
hủy quyền tự do báo chí; nhưng nếu anh ta xuất bản những gì không đúng đắn, sai trái hoặc bất hợp pháp, anh  
ta phải nhận hậu quả của sự táo bạo của chính mình”.  
4. Năm 1735, trong vụ án hình sự xét xử John Peter Zenger (Hoàng gia kiện Zenger), bị cáo là chủ tòa báo, đã  
có bài viết phê phán thống đốc hoàng gia New York, đã được tuyên vô tội khi bồi thẩm đoàn từ chối áp dụng  
luật về phỉ báng, nói xấu chính quyền (seditious libel law). Vụ này cũng được coi là một cột mốc của tự do  
báo chí.  
5. Tu chính án (điều sửa đổi) thứ I (1791) quy định như sau: “Quốc hội không được làm luật liên quan đến việc  
thiết lập bất cứ tôn giáo nào, hoặc ngăn cản việc thực hành tự do tôn giáo; hoặc giới hạn tự do ngôn luận, báo  
chí; hoặc quyền của người dân hội họp ôn hòa, hoặc khiếu nại về việc làm của chính phủ”.  
6. Stephen A.Smith, Schenck v. United States and Abrams v. Unites States, trong sách Richard A. Parker, “Free  
SpeechonTrial:CommunicationPerspectivesonLandmarkSupremeCourtDecisions”, Nxb. ĐạihọcAlabama,  
2003, tr. 20 - 26.  
7. Stephen A.Smith, Tài liệu đã dẫn, tr. 24.  
8. Stephen A.Smith, Tài liệu đã dẫn, tr. 26 - 32.  
44  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
ngay lập tức (immediate evil) mới có thể bị  
giới hạn”, trong khi truyền đơn chống chiến  
tranh mà Abrams và những người Nga phát  
tán không gây ra “nguy hại ngay lập tức”  
nào cho Hoa Kỳ. Holmes, dường như có sự  
thức tỉnh trước những quan tâm, mong đợi  
của công chúng, cũng cho rằng “nên hướng  
đến những điều tốt đẹp nhất bằng việc trao  
đổi tự do các tư tưởng”. Quan điểm cấp tiến  
của Holmes trong vụ này được sự ủng hộ  
của một đồng nghiệp trong Tòa án tối cao là  
Louis Dembitz Brandeis (1856 - 1941, thẩm  
phán giai đoạn 1916 đến 1939). Trong một  
vụ án khác, Brandeis cho rằng “khi cần thảo  
luận để chỉ ra sự sai lầm hay nhầm lẫn…,  
việc cần làm là có nhiều ngôn luận hơn, chứ  
không phải buộc người ta câm nín”9.  
Thứ nhất, có sự phân biệt giữa các luật  
dựa vào nội dung (content - based) và luật  
trung lập về nội dung (content - neutral).  
Xuất phát từ sự quan ngại rằng, chính quyền  
sẽ nhắm đến một số thông điệp cụ thể và  
kiểm soát tư tưởng về một chủ đề bằng cách  
giới hạn ngôn luận, tòa án đòi hỏi chính  
quyền phải trung lập khi ban hành các luật  
điều chỉnh ngôn luận. Sự trung lập cả về  
quan điểm và chủ đề. Sẽ là quan điểm không  
trung lập nếu một đạo luật hay quy định ủng  
hộ một ý thức hệ, một quan điểm cụ thể,  
trong khi chống lại quan điểm khác. Chẳng  
hạn, việc cho phép các biểu ngữ phản đối  
việc phá thai, trong khi lại cấm biểu ngữ ủng  
hộ việc phá thai là bất hợp hiến. Sự giám sát  
chặt chẽ (strict crutiny) sẽ được áp dụng đối  
với các luật, hạn chế căn cứ vào nội dung.  
Cùng với thời gian, những quan điểm  
về “thị trường tự do của tư tưởng”, “nhiều  
ngôn luận hơn thay vì hạn chế” của các thẩm  
phán ủng hộ tự do như Holmes Jr. , Brandeis,  
Brennan … đã trở thành chủ lưu trong các lập  
luận của Tòa án tối cao Hoa Kỳ. Cùng với sự  
phát triển đa dạng của các phương tiện truyền  
thông hiện đại (truyền hình cáp, internet…),  
pháp luật đã được cập nhật để theo kịp các đòi  
hỏi của xã hội. Bên cạnh đó, nhiều loại tranh  
chấp liên quan đến các phương tiện hiện đại  
đã là một động lực hình thành nên nhiều phán  
quyết mới, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cấp  
liên bang và tiểu bang10.  
Thứ hai, sẽ là trái với Hiến pháp nếu  
luật mơ hồ, thiếu rõ ràng hoặc quá rộng.  
Luật sẽ bị coi là mơ hồ, thiếu rõ ràng nếu  
một người có nhận thức bình thường không  
thể phân biệt được rằng ngôn luận nào là bị  
cấm và ngôn luận nào là được phép. Tòa án  
tối cao liên bang nhận định “các tiêu chuẩn  
về tính mơ hồ của luật bị giới hạn nghiêm  
trong lĩnh vực tự do ngôn luận,…vì các tự  
do trong Tu chính án thứ I cần không gian  
để thở nếu muốn sinh tồn, chính quyền chỉ  
có thể quy định trong lĩnh vực này với sự cụ  
thể hẹp”11. Luật sẽ bị coi là quá rộng nếu nó  
điều chỉnh nhiều ngôn luận hơn phạm vi mà  
Hiến pháp cho phép. Như trong vụ Board of  
Airport Commissioners of Los Angeles kiện  
Jews for Jesus, Inc.(1987)12, tòa án kết luận  
rằng, việc cấm tuyên truyền chính trị, phân  
phát tài liệu ở sân bay là quá rộng.  
1.2. Một số nguyên tắc nền tảng  
Nhìn chung, để xem xét tính hợp hiến  
của lập pháp, hành pháp khi can thiệp vào  
ngôn luận, một số nguyên tắc, học thuyết  
sau đây thường được các tòa án áp dụng:  
9. Vụ Whitney kiện California (1927).  
10. Ví dụ như tập đoàn Turner của ông trùm truyền thông Ted Turner đã có hai vụ kiện lên đến Tòa án Tối cao  
Hoa Kỳ vào năm 1994 và 1997.  
11. Vụ NAACP kiện Button (1963).  
12. Erwin Chemerinsky, Constitutional Law: Principles and Policies, Third edition, Nxb. Aspen, 2006, tr. 948.  
Trong vụ này, Tòa án tối cao không cho rằng các quy định là mơ hồ, mà ngược lại, nhận thấy quy định rõ ràng  
trong việc cấm các hoạt động ngôn luận theo Tu chính án thứ I, nên quy định đó rõ là “quá rộng”. Xem thêm:  
45  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Thứ ba, ngôn luận chỉ bị cấm nếu gây  
ra mối đe dọa rõ ràng và trực tiếp, những  
quan ngại thiếu căn cứ không đủ để giới  
hạn ngôn luận. Trong vụ Brandenburg kiện  
Ohio (1969)13, Tòa án tối cao đã nhất trí  
rằng, Luật hình sự (Criminal Syndicalism  
Act) của bang Ohio vi phạm tự do của  
Brandenburg. Mặc dù anh này có đe dọa  
rằng, nếu chính quyền không bảo vệ sự  
thống trị của người da trắng thì “việc trả thù  
có thể xảy ra”. Tòa cho rằng, lời kêu gọi  
mơ hồ và khó có khả năng xảy ra, từ đây,  
kiểm định Brandenburg (Brandenburg Test)  
ra đời, thay thế cho kiểm định xu hướng xấu  
(Bad Tendency Test, ra đời từ án lệ Whitney  
kiện California, 1927)14. Kiểm định  
Brandenburg, hay còn được gọi là “kiểm  
định hành vi trái pháp luật sắp xảy ra”, đòi  
hỏi phải đáp ứng 2 yêu cầu nếu muốn cấm  
một ngôn luận: 1) Ngôn luận phải “hướng  
đến kích động hoặc sinh ra hành vi trái pháp  
luật sắp xảy ra” (imminentlawless action);  
2) Ngôn luận phải “có nhiều khả năng  
kích động hoặc sinh ra hành vi”. Trong vụ  
án trên, Tòa án cũng nhận định rằng, có  
những ngôn luận, dù gây tổn thương, bất  
bình, hoặc không được nhiều người ủng hộ,  
nhưng cũng không thể bị tùy tiện cấm cản.  
là bất hợp hiến. Tòa án tối cao đã phán quyết  
rằng, “các giới hạn trước đối với ngôn luận  
và xuất bản là nguy hiểm nhất và khó tha  
thứ nhất đối với các quyền trong Tu chính  
án thứ I”15. Trong vụ New York Times Co.  
kiện Hoa Kỳ (1971), còn được gọi là vụ Hồ  
sơ Lầu Năm Góc. Chính quyền Tổng thống  
Nixon đã cố gắng ngăn chặn việc công bố  
những tài liệu được đóng dấu “tối mật”, do  
một Nhóm công tác trong Bộ Quốc phòng  
biên soạn, phân tích về ba thập niên can  
dự vào Việt Nam. Thế nhưng, với tỷ lệ đa  
số 6 - 3, Tòa án tối cao đã nhận định rằng,  
chính quyền không thể cấm xuất bản các tài  
liệu này, chính quyền đã không thể chứng  
minh việc xuất bản gây ra những nguy hại  
rõ ràng, hiện hữu và nghiêm trọng đối với  
quốc gia. Thẩm phán W. Douglas viết: “Sự  
bí mật trong chính quyền căn bản là ngược  
với dân chủ… Tranh luận và thảo luận công  
khai các vấn đề công cộng là thiết yếu cho  
sự mạnh khỏe của quốc gia”, luôn cần có  
các tranh luận “không giới hạn, mạnh mẽ và  
công khai”, ngay cả khi việc tiết lộ bí mật  
“có thể có một ảnh hưởng nghiêm trọng”16.  
Thứ năm, các hành vi mang tính biểu  
tượng cũng được bảo vệ bởi quyền tự do  
ngôn luận ở những mức độ khác nhau.  
Trong vụ Hoa Kỳ kiện O’Brien (1968)17,  
Tòa án tối cao Hoa Kỳ phán quyết rằng,  
việc luật hình sự cấm đốt thẻ quân dịch  
là không vi phạm tự do biểu đạt. Mặc dù  
Thứ tư, các giới hạn trước (prior  
restraints), như việc kiểm duyệt hay các  
quyết định hành chính, tư pháp cấm cản  
ngôn luận trước khi ngôn luận được biểu đạt  
Burt Neuborne, Tổng quan đạo luật về quyền, trong sách “Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ”, Alan B.  
Morrison (Chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, 2007, tr. 146.  
13. Richard A. Parker, Brandenburg v. Ohio, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on Trial: Communication  
14. Richard A. Parker, Tài liệu đã dẫn, tr. 152.  
15. Vụ Nebraska Press Association kiện Stuart (1976). Trước đó, trong vụ Near kiện Minnesota (1931), Tòa  
án tối cao Hoa Kỳ lần đầu tiên kết luận rằng sự hạn chế trước đối với việc xuất bản là vi phạm quyền tự do báo  
chí được bảo vệ theo Tu chính án thứ I.  
16. Geoffrey R. Stone, Louis M. Seidman, Cass R. Sunstein, Mark V. Tushnet, và Pamela S. Karlan, Constitutional  
Law, Sixth edition, Nxb. Wolters Kluwer, tr. 1096.  
17. Donald A. Fishman, United States v. O’Brien, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on Trial:  
Communication Perspectives on Landmark Supreme Court Decisions”, Nxb. Đại học Alabama, 2003, tr. 130 - 138.  
46  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
công nhận hành vi đốt thẻ là một thông điệp  
phản đối chiến tranh Việt Nam, nhưng Tòa  
án cho rằng, quy định của Luật Nghĩa vụ  
quân sự là chính đáng vì lợi ích của quốc  
gia, và không phải là trấn áp ngôn luận. Tuy  
nhiên, đến vụ đốt cờ (Texas kiện Johnson,  
1989)18, đa số thẩm phán Tòa án tối cao (tỷ  
lệ 5 - 4) cho rằng, luật cấm xúc phạm lá cờ  
là đi ngược với Hiến pháp, vì hành vi đốt  
một lá cờ Hoa Kỳ - là một hành vi mang  
tính truyền thông (a communicative act) -  
được bảo vệ bởi Tu chính án thứ I.  
nguyên. Cạnh đó, học thuyết “những biện  
pháp ít hạn chế nhất” cũng được sử dụng  
đối với quyền tự do ngôn luận, làm giảm  
thiểu những ảnh hưởng, hạn chế đối với  
quyền này20. Những ngôn luận không được  
Tu chính án thứ I bảo vệ bao gồm việc xúi  
giục phạm pháp, quảng cáo gian dối và  
những biểu đạt tục tĩu21.  
Trên đây là một số nguyên tắc, học  
thuyết (hay còn được gọi là phương pháp  
luận)22 cơ bản liên quan đến tự do ngôn  
luận đã được phát triển, áp dụng trong  
khoảng một thế kỷ qua tại Hoa Kỳ. Các  
nguyên tắc này, cũng như nhiều án lệ, lập  
luận của Tòa án tối cao Hoa Kỳ, đã có ảnh  
hưởng rộng khắp trên thế giới trong những  
thập niên qua.  
Thứ sáu, có sự cân đối giữa các lợi  
ích, cân bằng giữa quyền tự do ngôn luận  
với nhiều quyền tự do và lợi ích quan  
trọng khác. Cho dù được đề cao, quyền  
tự do ngôn luận có thể phải chịu những  
giới hạn khi có sự xung đột với những  
lợi ích thực sự “thuyết phục”. Trong  
vụ Clark kiện Community for Creative  
Non-Violence (1982)19, tòa án đã kết luận  
rằng mặc dù người biểu tình có quyền biểu  
đạt bằng nhiều cách khác nhau, nhưng nếu  
bằng cách ngủ lại trong các lều ở Công  
viên Lafayette trước mặt Nhà Trắng (để  
kêu gọi chính quyền quan tâm đến vấn  
đề của người vô gia cư) là xung đột với  
lợi ích của chính quyền trong việc duy trì  
công viên sạch đẹp, lệnh cấm đã được giữ  
2. Ngôn luận chính trị và những giới hạn  
2.1. Phạm vi và vai trò của ngôn luận  
chính trị  
Ngôn luận chính trị tại Hoa Kỳ, thường  
được hiểu là những biểu đạt, truyền thông  
liên quan đến chính quyền hay chính trị23.  
Ngôn luận này có thể là những phát biểu,  
giao tiếp, tranh luận giữa các ứng cử viên,  
quảng cáo chính trị trên báo chí, truyền  
hình, biểu tình hay phát ngôn về chính sách,  
hoặc hướng đến những thay đổi trong lĩnh  
vực chính trị.  
18. David J.Vergobbi, Texas v. Johnson, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on Trial: Communication  
19. Geoffrey R. Stone, Louis M. Seidman, Cass R. Sunstein, Mark V. Tushnet, và Pamela S. Karlan, Constitutional  
Law, Sixth edition, Nxb. Wolters Kluwer, tr.1271.  
20. Burt Neuborne, Tổng quan đạo luật về quyền, trong sách “Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ”, Alan  
B. Morrison (Chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, 2007, tr.140-141. Xem thêm về các học thuyết trong lĩnh vực  
ngôn luận trình bày trong sách này.  
21. Trong vụ Miller kiện California (1973), liên quan đến người bị kết án vì quảng cáo các ấn phẩm khiêu dâm  
qua đường bưu điện, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ sửa đổi định nghĩa của mình về sự tục tĩu (obscenity) từ “hoàn  
toàn không có giá trị cứu chuộc xã hội” thành “thiếu giá trị văn học, nghệ thuật, chính trị hoặc khoa học” một  
cách nghiêm trọng.  
22. Erwin Chemerinsky gọi đây là các phương pháp luận về tự do ngôn luận (free speech methodology): Erwin  
Chemerinsky, Constitutional Law: Principles and Policies, Third edition, Nxb. Aspen, 2006, tr. 932 - 968.  
23. Michael Richard Dimino, Political speech, trong sách “Encyclopedia of the Supreme Court”, David Schultz  
(Biên tập), Nxb. Facts on File, 2005, tr. 348.  
47  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Việc bảo đảm cho các cuộc tranh luận  
công khai về chính sách công đã được công  
nhận là động lực chính dẫn đến sự ra đời  
của Tu chính án thứ I. Nhiều loại ngôn luận  
chính trị được tòa án bảo vệ, bao gồm các  
cuộc tranh luận về chính sách, quyền của  
ứng cử viên tiến hành chiến dịch vận động,  
quyền của công dân phổ biến các tài liệu  
chính trị với sự ẩn danh. Nhiều án lệ có sự  
ưu tiên cho quyền tự do tranh luận, ngay cả  
trong thời điểm chiến tranh.  
phản hồi tốt hơn trước nguyện vọng của  
người dân và để các đổi thay đó có thể đạt  
được bằng các phương tiện hợp pháp, một  
cơ hội cần thiết cho sự an toàn của nền cộng  
hòa, là một nguyên tắc cơ bản của hệ thống  
hiến pháp”27. Trong vụ Công ty New York  
Times kiện Sullivan (1964)28, Tòa án tối cao  
đã khảo cứu lại lịch sử của tự do ngôn luận,  
từ những nhận định của James Madison,  
và đã phán quyết rằng, mặc dù tờ báo New  
York Times có đăng sai một số chi tiết (như  
về việc cảnh sát bao vây trường đại học),  
các lỗi đó là nhỏ, không gây hại và cần  
được khoan thứ29.  
Nhìn chung, khi áp dụng học thuyết  
“phân loại”24, tương đối dễ phân biệt ngôn  
luận chính trị với ngôn luận về thương mại  
(quảng cáo bán hàng) hay về khoa học (bài  
nghiên cứu). Ngôn luận về chính trị sẽ được  
sự bảo vệ cao hơn là ngôn luận về kinh  
doanh, thương mại. Những giới hạn đối với  
ngôn luận chính trị sẽ bị xem xét, đánh giá  
theo tiêu chí nghiêm ngặt (strict scrutiny),  
trong khi giới hạn với biểu đạt trong các  
lĩnh vực khác chỉ chịu sự đánh giá ít chặt  
chẽ hơn25.  
Tuy nhiên, bên cạnh đó, như tại mọi  
quốc gia, luôn có những giá trị, lợi ích quan  
trọng đòi hỏi sự cân bằng, cho phép giới  
hạn tự do biểu đạt, kể cả ngôn luận chính  
trị. Một trong những hoạt động quan trọng  
đó là tổ chức các cuộc bầu cử, phương thức  
ủy quyền, giám sát thiết yếu trong các nền  
dân chủ.  
Do vai trò đặc biệt và sự phổ biến của  
ngôn luận và truyền thông, đã có sự giao  
thoa giữa quyền tự do ngôn luận với nhiều  
quyền tự do khác, như tự do tôn giáo (đã có  
án lệ về từ chối chào cờ vì lý do niềm tin  
tôn giáo), hay tự do lập hội (án lệ về không  
chịu tiết lộ danh sách thành viên của tổ chức  
xã hội).  
Trong các ngôn luận chính trị, quyền  
phê phán chính quyền, công chức nhà nước  
đặc biệt được đề cao. Công chức luôn phải  
chịu sự giám sát của nhân dân, vì “công  
chức, hiện nay và trước đây, là tài sản của  
26  
công chúng” . Tu chính án thứ I có vai  
trò bảo vệ việc trao đổi tư tưởng, thông tin  
nhằm mang lại những đổi thay về chính trị  
và xã hội, và “việc duy trì cơ hội cho tự  
do thảo luận chính trị làm cho chính quyền  
2.2. Ngôn luận chính trị trong tranh  
cử và những giới hạn  
24. Burt Neuborne, Tài liệu đã dẫn, tr. 141-143.  
25. Michael Richard Dimino, Tài liệu đã dẫn.  
26. Nhận định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong vụ Beauharnais kiện Illinois (1952).  
27. Nhận định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong vụ Stromberg kiện California (1931), Tòa đã kết luận rằng một  
đạo luật năm 1919 của bang California cấm cờ đỏ là vi hiến vì vi phạm Tu chính án thứ I và thứ XIV. Lập luận  
này được dẫn lại trong vụ Công ty New York Times kiện Sullivan (1964).  
28. Nicholas F. Burnett, New York Times v. Sullivan, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on  
Trial: Communication Perspectives on Landmark Supreme Court Decisions”, Nxb. Đại học Alabama, 2003,  
tr. 116-124.  
29. Nicholas F. Burnett, Tài liệu đã dẫn, tr. 121. Xem thêm: Anthony Lewis, Make No Law: The Sullivan Case  
and the First Amendment, Nxb. Vintage, 1992.  
48  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Pháp luật về bầu cử của Hoa Kỳ gồm  
nhiều nguồn khác nhau, bên cạnh các tập  
quán và án lệ, một nguồn quan trọng là các  
đạo luật như Luật Chiến dịch bầu cử liên  
FECA, 1971, được sửa đổi nhiều lần), Luật  
Cải cách chiến dịch bầu cử lưỡng đảng  
(Bipartisan Campaign Reform Act - BCRA,  
2002, còn được gọi là McCain - Feingold  
Act, theo tên của hai thượng nghị sĩ có sáng  
kiến lập pháp, sửa đổi FECA). Pháp luật về  
bầu cử có các nội dung về quyền bỏ phiếu,  
bảo đảm sự tiếp cận của các cử tri dễ bị tổn  
thương (người khuyết tật, người có khó  
khăn về ngôn ngữ), đóng góp tài chính, vận  
động bầu cử, chống gian lận bầu cử…  
quảng cáo ngoài trời, gửi thư hàng loạt,  
điện thoại, hoặc bất kỳ hình thức quảng  
cáo chính trị nào khác31. Luật này cũng  
định nghĩa “truyền thông tác động bầu cử”  
(“electioneering communication”) là bất kỳ  
truyền thông phát thanh, truyền hình nào  
mà đề cập đến một ứng cử viên tranh cử  
cho một vị trí cấp liên bang, được thực hiện  
trong vòng 60 ngày trước ngày tổng tuyển  
cử, hoặc là 30 ngày trước bầu cử sơ bộ,  
hoặc hội nghị của một đảng chính trị để đề  
cử một ứng cử viên32.  
Để bảo đảm đảm sự bình đẳng trong  
tranh cử, Luật Viễn thông, điện thoại và  
radio (Chương 5, Tiêu đề 47 của Bộ Tổng  
luật Hoa Kỳ) yêu cầu các cơ quan truyền  
thông dành cơ hội bình đẳng cho tất cả  
các ứng cử viên trong việc sử dụng đài  
phát sóng, không có quyền kiểm duyệt  
đối với nội dung phát sóng của các ứng  
cử viên, thu phí mức ngang nhau cho tất  
cả các ứng cử viên… Về nội dung, ứng cử  
viên không được trực tiếp nhắc đến các  
ứng cử viên khác tranh cử cho cùng một  
vị trí, ở phần cuối của nội dung phát sóng  
cần xuất hiện hình ảnh của ứng cử viên,  
xác nhận của ứng cử viên đã chấp nhận  
nội dung phát sóng và ủy ban chi trả cho  
phát sóng…33  
Mặc dù, tự do ngôn luận được bảo vệ  
rộng rãi như nêu trên, trong Luật Chiến dịch  
bầu cử liên bang và nhiều đạo luật khác liên  
quan đến bầu cử, có khá nhiều giới hạn đối  
với ngôn luận chính trị30. Phần nào do cơ  
quan lập pháp, cũng như tư pháp, thấy cần  
bảo đảm tính khách quan, ngăn chặn tham  
nhũng trong bầu cử và bảo đảm bình đẳng  
trong tranh cử đã được cân bằng với tự do  
ngôn luận. Nhiều loại ngôn luận đã bị hạn  
chế với các quy định khác nhau.  
Luật Chiến dịch bầu cử liên bang xác  
định truyền thông chính trị có thể là bằng  
bất kỳ phương tiện nào, gồm truyền hình  
cáp hoặc vệ tinh, báo, tạp chí, phương tiện  
Ở mức độ nghiêm khắc, Luật Hình  
sự (Chương 18, Tiêu đề 2 của Bộ Tổng  
30. Trong Bộ Tổng luật Hoa Kỳ (Code of Laws of the United States of America, hay United States Code), bao  
gồm 53 lĩnh vực (Tiêu đề/ Title), một số lĩnh vực liên quan được thảo luận ở đây gồm: Bỏ phiếu và bầu cử  
(Tiêu đề 52), Tội phạm và Tố tụng hình sự (Tiêu đề 18), Luật thuế thu nhập (Tiêu đề 26), Tư pháp và tố tụng  
tư pháp (Tiêu đề 28), Viễn thông, điện thoại và radio (Tiêu đề 47).  
31. Federal Election Commission, Federal Election Campaign Laws, Second Edition, February 2019, tr. 10.  
32. Federal Election Commission, Tài liệu đã dẫn, tr. 30-31. Tuy nhiên, Luật này không coi là “truyền thông  
tác động bầu cử” đối với: truyền thông xuất hiện trong một câu chuyện tin tức, bình luận hoặc bài xã luận được  
phổ biến qua đài phát thanh, truyền hình, trừ khi các cơ quan truyền thông đó được sở hữu hoặc kiểm soát bởi  
một đảng phái chính trị, ủy ban chính trị hoặc ứng cử viên nào; truyền thông tạo thành một cuộc tranh luận  
giữa các ứng cử viên.  
33. Federal Election Commission, Tài liệu đã dẫn, tr. 169 - 171. Tuy nhiên, Luật khẳng định những quy định  
trên không áp dụng với việc xuất hiện bởi một ứng cử viên trên các bản tin, phỏng vấn tin tức, phim tài liệu tin  
tức chân thực, hoặc đưa tin tại chỗ về các sự kiện tin tức xác thực.  
49  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
luật Hoa Kỳ) cấm các ứng cử viên: trực  
tiếp hay gián tiếp hứa hẹn bổ nhiệm, hoặc  
dùng ảnh hưởng để ủng hộ việc bổ nhiệm  
bất kỳ người nào vào vị trí công hay tư  
nhằm đổi lấy sự ủng hộ mình (Điều 599);  
trực tiếp hay gián tiếp hứa hẹn tuyển dụng,  
giao kết hợp đồng hoặc những lợi ích khác  
để đổi lấy sự ủng hộ hay phản đối ứng cử  
viên, đảng chính trị (Điều 600); dọa tước  
đoạt, sa thải ai đó khỏi vị trí, công việc,  
hay hưởng lợi từ một chương trình cấp  
liên bang hay tiểu bang để ép họ quyên  
góp ủng hộ (Điều 601);34 vận động quyên  
góp đối với một số đối tượng (như người  
nhận trợ cấp), tại một số địa điểm như văn  
phòng, tòa nhà cơ quan công quyền (Điều  
604, 607)35… Với nguyên tắc bộ máy  
hành chính đứng ngoài sinh hoạt chính trị  
đảng phái, luật hình sự cũng cấm ép buộc,  
dọa nạt, chỉ đạo trong hoạt động chính trị,  
kể cả của lãnh đạo cơ quan công quyền  
đối với nhân viên (Điều 610)36.  
tranh cử, Tòa án đã kết nối quyền tự do  
biểu đạt, ngôn luận với lĩnh vực tài chính  
trong bầu cử.  
Theo Luật Bầu cử (Chương 301,  
Tiêu đề 52 của Bộ Tổng luật Hoa Kỳ),  
Ủy ban Bầu cử liên bang (FEC) có trách  
nhiệm giám sát nhiều quy định liên quan,  
bao gồm giới hạn mức tiền mà cá nhân, tổ  
chức có thể quyền góp trong bầu cử.  
Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã lập luận  
rằng, đóng góp tài chính là biểu đạt sự  
ủng hộ đối với một ứng cử viên, cũng  
như sự gắn kết với một đảng chính trị,  
nhưng để ngăn chặn tham nhũng, việc  
chính quyền đặt ra giới hạn mà cá nhân  
có thể đóng góp ủng hộ một ứng cử viên  
là có thể biện minh được. Bởi lẽ, việc vận  
động bầu cử tiêu tốn rất nhiều tiền bạc,  
các ứng cử viên phải phụ thuộc vào sự  
đóng góp từ nhiều nguồn, điều này làm  
phát sinh nguy cơ có những người tài trợ  
để gây ảnh hưởng, đổi lấy những lợi ích  
chính trị trong tương lai38. Mặt khác, Tòa  
án công nhận rằng, truyền thông vận động  
bầu cử (in tờ rơi, quảng cáo trên truyền  
hình…) tiêu tốn nhiều tiền; trong khi đó,  
chính quyền khó có thể lấy lý do chống  
tham nhũng để biện minh cho việc giới  
Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã nhận định  
rằng, muốn các cuộc bầu cử công bằng  
và trung thực cần có nhiều quy định kỹ  
lưỡng, cũng như cần có trật tự đi kèm với  
tiến trình dân chủ, tránh sự hỗn loạn37.  
Điều thú vị là cùng với việc pháp luật đặt  
ra những giới hạn đối với ngôn luận trong  
34. Federal Election Commission, Tài liệu đã dẫn, tr.122-123.  
35. Federal Election Commission, Tài liệu đã dẫn, tr.124-125.  
36. Điều 610 Luật hình sự và tố tụng hình sự (Tiêu đề 18) quy định rằng: “Sẽ là bất hợp pháp nếu bất kỳ người  
nào đe dọa, dọa nạt, chỉ đạo, hoặc ép buộc, hoặc cố gắng đe dọa, dọa nạt, chỉ đạo, hoặc ép buộc bất kỳ nhân  
viên nào của Chính phủ Liên bang … tham gia hoặc không tham gia vào bất kỳ hoạt động chính trị nào, bao  
gồm, nhưng không giới hạn, bỏ phiếu hoặc từ chối bỏ phiếu cho bất kỳ ứng cử viên nào, thực hiện hoặc từ chối  
đóng góp chính trị, làm việc hoặc từ chối làm việc thay mặt cho bất kỳ ứng cử viên nào. Bất kỳ người nào vi  
phạm nội dung này sẽ bị phạt theo tiêu đề này hoặc bị phạt tù không quá ba năm, hoặc cả hai”. Federal Election  
Commission,Tài liệu đã dẫn, tr.126.  
37. Michael Richard Dimino, Tài liệu đã dẫn.  
38. Karen O’Connor, Larry J. Sabato, American Government, Nxb. Pearson Longman, 2006, tr. 525-529.  
Cũng theo đó, các loại nguồn đóng góp chính trị cho một chiến dịch vận động của ứng cử viên có thể bao gồm:  
đóng góp cá nhân, đóng góp của các Ủy ban Hành động chính trị (PAC), đóng góp của đảng chính trị, đóng  
góp của cá nhân ứng cử viên và gia đình họ, quỹ công, các khoản chi độc lập.  
50  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
hạn chi tiêu (expenditure)39. Do đó, trong  
vụ Buckley kiện Valeo (1976)40, Tòa án tối  
cao đã kết luận rằng, Luật Chiến dịch bầu  
cử quy định giới hạn đối với đóng góp  
bầu cử thì không vi hiến, nhưng quy định  
về giới hạn chi tiêu bầu cử lại là trái với  
Tu chính án thứ I41.  
tranh dành ghế ứng viên của Đảng Dân  
chủ cho vị trí Tổng thống, một tổ chức phi  
chính phủ là Citizens United (Công dân  
Đoàn kết) đã sản xuất, phát hành bộ phim  
tài liệu với nội dung phê phán Hillary.  
Trước khi phát hành, tổ chức này đã khởi  
kiện ra tòa án, cho rằng việc Luật Cải cách  
chiến dịch bầu cử lưỡng đảng (2002) cấm  
“truyền thông tác động bầu cử” là vi phạm  
Tu chính án thứ I, nhằm ngăn chặn Ủy ban  
Bầu cử áp dụng quy định này đối với bộ  
phim của mình. Trong một phán quyết sát  
sao, theo tỷ lệ 5 - 4, Tòa án kết luận rằng  
giới hạn đối với chi tiêu của các tổ chức và  
công đoàn là vi phạm tự do ngôn luận45.  
Vì tiêu tiền là điều cần thiết để phổ biến  
ngôn luận, như đã được thiết lập trong vụ  
Buckley kiện Valeo, việc hạn chế khả năng  
chi tiêu tiền của một tổ chức là vi hiến vì  
nó hạn chế khả năng các thành viên liên kết  
hiệu quả và phát biểu về các vấn đề chính  
trị. Phán quyết này cho phép các tổ chức,  
công đoàn chi tiêu không giới hạn vào việc  
vận động chính trị. Chi tiêu này còn được  
gọi là “tiền mềm”, khoản tiền không được  
quyên góp trực tiếp mà gián tiếp ủng hộ  
chiến dịch của một ứng cử viên.  
Chi tiêu gián tiếp cho quảng cáo chính  
trị được tranh luận trong vụ McConnell kiện  
Ủy ban Bầu cử liên bang (2003)42. Thượng  
nghị sĩ Mitch McConnell (đảng Cộng hòa,  
bang Kentucky) đã kiện Luật Cải cách chiến  
dịch bầu cử lưỡng đảng (2002) vi phạm Tu  
chính án thứ I, vì cấm các tổ chức, công đoàn  
công khai vận động ủng hộ hoặc chống lại  
một ứng cử viên ngay trước kỳ bầu cử, hành  
động mà Luật gọi là “truyền thông tác động  
bầu cử”, như đã nêu trên. Đa số thẩm phán  
của Tòa án tối cao Hoa Kỳ cho rằng, ngoại  
trừ hai điểm tương đối nhỏ, toàn bộ đạo luật  
là phù hợp với Hiến pháp, kể cả việc cấm chi  
tiêu độc lập của các tổ chức xã hội cho vận  
động, quảng cáo chính trị trong thời gian sát  
trước các cuộc bầu cử43.  
Tuy nhiên, chỉ 7 năm sau, một phần  
của phán quyết trên đã bị chính Tòa án tối  
cao Hoa Kỳ lật ngược lại trong vụ Citizens  
United kiện Ủy ban Bầu cử liên bang  
(FEC) (2010)44. Vào năm 2008, khi Barack  
Obama và Hillary Clinton đang vận động  
Trong vụ kiện năm 2010 nêu trên, Tòa  
án tối cao cũng kết luận rằng, quyền tự do  
ngôn luận cũng áp dụng cho các tổ chức;  
39. Craig R.Smith, Buckley v. Valeo, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on Trial: Communication  
40. Craig R.Smith, Tài liệu đã dẫn.  
41. Lập luận chống lại hạn chế chi tiêu bầu cử này đã được áp dụng đối với tranh cử ở cấp tiểu bang, theo phán  
quyết của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ trong vụ Nixon kiện Shrink Missouri Government PAC (2000).  
42. Geoffrey R. Stone, Louis M. Seidman, Cass R. Sunstein, Mark V. Tushnet, và Pamela S. Karlan, Constitutional  
Law, Sixth edition, Nxb. Wolters Kluwer, tr. 1365 -1370.  
43. Geoffrey R. Stone, Tài liệu đã dẫn.  
44. Jame Bopp, Jr, Joseph E. La Rue, và Elizabeth M. Kosel, The Game Changer: Citizens United’s Impact  
on Campaign Finance Law in General and Corporate Political Speech in Particular, trong Tạp chí “First  
Amendment Law Review”, Vol. 9, 2011, tr. 316-319.  
45. Jame Bopp, Jr, Joseph E. La Rue, và Elizabeth M. Kosel, Tài liệu đã dẫn, tr. 319. Xem thêm về ảnh hưởng  
của phán quyết trong vụ này đối với vận động tranh cử tại Hoa Kỳ: Lê Thị Thu (Chủ biên), Phân cực chính trị  
ở Mỹ hiện nay: Tình hình, nguyên nhân và tác động, Nxb. Khoa học xã hội, tr. 230-232.  
51  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
nói cách khác, các pháp nhân cũng có  
quyền phát ngôn chính trị như cá nhân46.  
Nhận định này phủ nhận một số án lệ trước  
đây47, khi đó, Tòa án lo ngại về việc các tổ  
chức, doanh nghiệp có thể gây ảnh hưởng  
tiêu cực, làm mất công bằng trong các  
cuộc bầu cử.  
phản đối48. Tại Việt Nam, án lệ đã được  
công nhận, nghiên cứu và giảng dạy trong  
các cơ sở đào tạo luật học. Án lệ cũng  
được coi là “sự bổ sung tuyệt vời cho  
luật thành văn”, khi luật thành văn chưa  
thể “bao phủ hết các quan hệ xã hội đa  
dạng và thay đổi từng ngày”49. Bên cạnh  
đó, trong bối cảnh chúng ta đang tích cực  
tham khảo và “tiếp thu có chọn lọc những  
thành tựu khoa học pháp lý tiên tiến”50, án  
lệ về các quyền tự do, bao gồm tự do ngôn  
luận, của các nước (bao gồm Hoa Kỳ) cần  
tiếp tục được tập hợp, biên dịch và nghiên  
cứu hệ thống hơn.  
3. Nhận xét  
Có thể nói rằng, tự do ngôn luận, đặc  
biệt là ngôn luận trong lĩnh vực chính trị,  
đã được Tu chính án thứ I của Hiến pháp  
và hệ thống pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ khá  
mạnh mẽ trong khoảng một thế kỷ qua.  
Bên cạnh đó, để bảo đảm cho các cuộc bầu  
cử được công bằng và trật tự, quyền ngôn  
luận đã chịu những giới hạn đáng kể. Từ  
những phân tích về quyền tự do ngôn luận  
chính trị ở Hoa Kỳ, có thể rút ra hai nhận  
xét sau đây:  
Thứ hai, quy định giới hạn ngôn luận  
trong tranh cử nhằm bảo đảm sự bình  
đẳng, giảm thiểu tham nhũng và sự hỗn  
loạn, một cách khá chi tiết trong luật bầu  
cử của Hoa Kỳ là những kinh nghiệm hay  
để tham khảo. Mặc dù quốc gia này có hệ  
thống bầu cử khá đặc biệt, các quy định  
hướng đến cân bằng giữa bảo đảm tự do  
ngôn luận với minh bạch, bình đẳng trong  
bầu cử cũng gợi ra nhiều khía cạnh cho các  
quốc gia tham khảo khi hoàn thiện pháp  
Thứ nhất, khi bảo vệ quyền tự do  
ngôn luận chính trị, các bản án của Tòa án  
tối cao Hoa Kỳ để lại nhiều ấn tượng về  
sự đa dạng, uyên bác và linh hoạt. Người  
đọc còn thấy được vai trò, quan điểm  
và lập luận của từng cá nhân thẩm phán  
trong các bản án, dù là lý lẽ tán đồng hay  
luật về bầu cử của mình  
46. Amy J. Sepinwall, Citizens United and the Ineluctable Question of Corporate Citizenship, trong Tạp chí  
“Connecticut Law Review”, Volume 44, February 2012, Number 3, tr. 577 - 578.  
47. Như trong vụ Austin kiện Michigan Chamber of Commerce (1990), Tòa án Tối cao ủng hộ Luật Tài  
chính chiến dịch bầu cử Michigan, cấm các tổ chức dùng tiền ngân sách để chi tiêu độc lập vào việc ủng  
hộ hoặc phản đối các ứng cử viên, và không vi phạm Tu chính án thứ I và thứ XIV. Tòa án duy trì giới hạn  
đối với ngôn luận của tổ chức, cho rằng “sự giàu có của các tổ chức có thể tác động không công bằng đến  
bầu cử”. Tuy nhiên, luật của bang Michigan vẫn cho phép ủng hộ tài chính cho chiến dịch bầu cử từ một  
quỹ tách riêng.  
48. Xem thêm sự phát triển tư tưởng, quan điểm, lập luận về ngôn luận của các thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa  
Kỳ (gồm Oliver W.Holmes, George Sutherland, Hugo L.Black, John Marshall Harlan, William J.Brennan…),  
trong sách Helen J. Knowles, Steven B. Lichtman (Biên tập), Judging Free Speech: First Amendment  
Jurisprudence of US Supreme Court Justices, Nxb. Palgrave Macmillan US, 2015.  
49. Nguyễn Trí Tuệ (Chủ biên), Giáo trình Án lệ và thực tiễn xét xử, Nxb. Đại học Quốc gia, 2019, tr. 44.  
50. Nguyễn Hòa Bình, Xây dựng Tòa án nhân dân xứng đáng là biểu tượng của công lý, lẽ phải và niềm  
tin, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2019, tr. 148. Trong bài giảng của mình về cải cách tư pháp tại lớp  
bồi dưỡng cho cán bộ quy hoạch, tháng 8/2019, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã đề cập đến việc  
tham khảo, nghiên cứu kinh nghiệm các nước về tổ chức bộ máy, về chính sách hình sự, cơ chế hoạt động  
tư pháp, các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của tòa án. Xem: Nguyễn Hòa Bình, Tài liệu đã  
dẫn, tr. 148-156.  
52  
pdf 10 trang yennguyen 13880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ngôn luận chính trị trong pháp luật Hoa Kỳ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfngon_luan_chinh_tri_trong_phap_luat_hoa_ky.pdf