Ngôn luận chính trị trong pháp luật Hoa Kỳ
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
NGÔN LUẬN CHÍNH TRỊ
TRONG PHÁP LUẬT HOA KỲ
Lã Khánh Tùng*
* TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Quyền tự do ngôn luận bảo vệ các truyền thông, biểu đạt của cá nhân
bằng các hình thức, phương tiện khác nhau về mọi chủ đề công hay tư,
trong mọi lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, hay chính trị. Tại nhiều
quốc gia, bao gồm Hoa Kỳ, tự do ngôn luận trong lĩnh vực chính trị được
đề cao hơn các lĩnh vực khác, do quan niệm rằng, tự do này là thiết yếu
để bảo vệ dân chủ, quyền của người dân giám sát chính quyền, cũng như
chống lại sự tham nhũng, bất bình đẳng trong các sinh hoạt chính trị.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích một số nguyên tắc nền tảng
của tự do ngôn luận và quy định về ngôn luận chính trị, là sự giao thoa
giữa tự do ngôn luận và tự do ứng cử, tranh cử trong các cuộc bầu cử,
theo Hiến pháp và pháp luật Hoa Kỳ.
Từ khóa: Tự do ngôn luận, ngôn
luận chính trị, pháp luật về bầu
cử, án lệ, Tòa án tối cao Hoa Kỳ.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 12/11/2020
: 19/12/2020
: 21/12/2020
Article Infomation:
Abstract:
In different manners, the right to freedom of speech protects the
communication and expressions of individuals on all public or private
topics, in all aspects such as economics, society, culture, or politics. In
a number of countries, including the United States, freedom of speech
in the political aspect is given greater prominence than in other aspects,
due to the notion that the freedom of speech is essential to protect the
democracy, the rights of the people in monitoring the government, as
well as to fight against corruption and inequality in political performance.
Under the scope of this article, the author provides an analysis of the
fundamental principles of speech freedom and the regulations on
political speech, which are the intersection between freedom of speech
and freedom to self-election, competitive election according to the
Constitution and the laws of the United States.
Keywords: Freedom of speech,
political speech, election law,
caselaw, the US Supreme Court.
Article History:
Received
Edited
: 12 Nov. 2020
: 19 Dec. 2020
: 21 Dec. 2020
Approved
1. Lịch sử và một số nguyên tắc nền tảng
của tự do ngôn luận
Dưới chế độ thực dân Anh, tư tưởng
tự do của các nhà văn, triết gia Anh như
John Milton (1608 -1674)1, Jonh Stuart Mill
(1806 - 1873)2, cùng với những quan điểm
1.1. Mấy nét lịch sử
1. Tác giả của “Areopagitica” (xuất bản năm 1644), trong thời kỳ Nội chiến Anh, bảo vệ tự do ngôn luận,
xuất bản.
2. Tác giả của “Bàn về tự do” (On Liberty), xuất bản năm 1859. Xem thêm: Jonh Stuart Mill, Bàn về tự do,
Nguyễn Văn Trọng dịch, Tái bản lần thứ 4, Nxb. Tri thức, 2013.
43
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
của William Blackstone (1723 - 1780)3 đã có
ảnh hưởng lớn tại lục địa Hoa Kỳ. Tuy nhiên,
nguyên tắc tự do ngôn luận của người Anh
lại hiếm khi được áp dụng đối với người dân
thuộc địa, nhất là với những ngôn luận phản
kháng lại mẫu quốc và hoàng gia Anh4.
lên nhiều cuộc tranh luận về chính sách đối
ngoại, quốc phòng của quốc gia và quyền tự
do ngôn luận của người dân. Luật Gián điệp
(Espionage Act, 1917) và Luật Chống kêu
gọi lật đổ (Sedition Act, 1918) với các điều
khoản cấm phản đối tham chiến, cấm cản
trở việc tuyển mộ hoặc đăng ký quân dịch,
đã bị khởi kiện ra tòa vì bị cho là đi ngược
lại quyền tự do ngôn luận mà Tu chính án
thứ I bảo vệ.
Ba vụ án Schenck kiện Hoa Kỳ6, Debs
kiện Hoa Kỳ7, và Abrams kiện Hoa Kỳ8,
được Tòa án tối cao liên bang đưa ra phán
quyết trong cùng năm 1919, đã trở thành
những cột mốc quan trọng của tranh tụng
về tự do ngôn luận. Trong hai vụ án đầu,
toàn bộ 9 thẩm phán của Tòa án đồng thuận
đứng về phía chính quyền, cho rằng việc
kết án Schenk và Debs là đúng đắn, và việc
phát tờ rơi phản đối chiến tranh tạo ra “một
mối nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu”. Tuy
nhiên, đến vụ án thứ ba, Oliver Wendell
Holmes Jr. (1841 - 1935, thẩm phán giai
đoạn 1902 đến 1932) đưa ra quan điểm bất
đồng với đa số, cho rằng “chỉ những ngôn
luận có nguy cơ dẫn đến những điều xấu xa
Ở giai đoạn sau đó, mặc dù Tu chính án
thứ I (1791)5 của Hiến pháp Hoa Kỳ (1787)
bảo vệ quyền tự do ngôn luận và báo chí, bên
cạnh quyền tự do tôn giáo, hội họp và khiếu
kiện, đã có tuổi đời gần 230 năm, quyền này
được hiện thực hóa khá muộn. Trong thời kỳ
đầu của nền cộng hòa, đã có những đạo luật
ngăn chặn ngôn luận một cách khắc nghiệt,
chẳng hạn như Luật Chống kêu gọi lật đổ
(Sedition Act, 1798) cho phép trục xuất, phạt
tiền hoặc bỏ tù bất kỳ ai đe dọa hoặc xuất
bản “những nội dung sai sự thật, gây tai tiếng
hoặc ác ý” chống lại chính quyền.
Đến đầu thế kỷ XX, các tòa án Hoa
Kỳ hầu như chưa bao giờ thảo luận về tự
do ngôn luận. Cho đến khi Hoa Kỳ quyết
định tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ
I (từ tháng 4 năm 1917), sự phản đối của
nhiều tầng lớp trong xã hội, nhất là những
người theo khuynh hướng cánh tả, làm dấy
3. Luật gia, chính trị gia Anh, có tác phẩm nổi tiếng nhất là “Các Bình luận về luật của nước Anh”
(Commentaries on the Laws of England). Trong đó, Blackstone nhận định: “Quyền tự do báo chí thực sự là
điều cần thiết đối với bản chất của một nhà nước tự do, điều này bao gồm việc không đặt ra những hạn chế
trước đối với các ấn phẩm và không có quyền tự do chỉ trích về các vấn đề hình sự khi được xuất bản. Mọi
người tự do chắc chắn có quyền bày tỏ tình cảm mà anh ta muốn trước công chúng: cấm điều này, tức là phá
hủy quyền tự do báo chí; nhưng nếu anh ta xuất bản những gì không đúng đắn, sai trái hoặc bất hợp pháp, anh
ta phải nhận hậu quả của sự táo bạo của chính mình”.
4. Năm 1735, trong vụ án hình sự xét xử John Peter Zenger (Hoàng gia kiện Zenger), bị cáo là chủ tòa báo, đã
có bài viết phê phán thống đốc hoàng gia New York, đã được tuyên vô tội khi bồi thẩm đoàn từ chối áp dụng
luật về phỉ báng, nói xấu chính quyền (seditious libel law). Vụ này cũng được coi là một cột mốc của tự do
báo chí.
5. Tu chính án (điều sửa đổi) thứ I (1791) quy định như sau: “Quốc hội không được làm luật liên quan đến việc
thiết lập bất cứ tôn giáo nào, hoặc ngăn cản việc thực hành tự do tôn giáo; hoặc giới hạn tự do ngôn luận, báo
chí; hoặc quyền của người dân hội họp ôn hòa, hoặc khiếu nại về việc làm của chính phủ”.
6. Stephen A.Smith, Schenck v. United States and Abrams v. Unites States, trong sách Richard A. Parker, “Free
2003, tr. 20 - 26.
7. Stephen A.Smith, Tài liệu đã dẫn, tr. 24.
8. Stephen A.Smith, Tài liệu đã dẫn, tr. 26 - 32.
44
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
ngay lập tức (immediate evil) mới có thể bị
giới hạn”, trong khi truyền đơn chống chiến
tranh mà Abrams và những người Nga phát
tán không gây ra “nguy hại ngay lập tức”
nào cho Hoa Kỳ. Holmes, dường như có sự
thức tỉnh trước những quan tâm, mong đợi
của công chúng, cũng cho rằng “nên hướng
đến những điều tốt đẹp nhất bằng việc trao
đổi tự do các tư tưởng”. Quan điểm cấp tiến
của Holmes trong vụ này được sự ủng hộ
của một đồng nghiệp trong Tòa án tối cao là
Louis Dembitz Brandeis (1856 - 1941, thẩm
phán giai đoạn 1916 đến 1939). Trong một
vụ án khác, Brandeis cho rằng “khi cần thảo
luận để chỉ ra sự sai lầm hay nhầm lẫn…,
việc cần làm là có nhiều ngôn luận hơn, chứ
không phải buộc người ta câm nín”9.
Thứ nhất, có sự phân biệt giữa các luật
dựa vào nội dung (content - based) và luật
trung lập về nội dung (content - neutral).
Xuất phát từ sự quan ngại rằng, chính quyền
sẽ nhắm đến một số thông điệp cụ thể và
kiểm soát tư tưởng về một chủ đề bằng cách
giới hạn ngôn luận, tòa án đòi hỏi chính
quyền phải trung lập khi ban hành các luật
điều chỉnh ngôn luận. Sự trung lập cả về
quan điểm và chủ đề. Sẽ là quan điểm không
trung lập nếu một đạo luật hay quy định ủng
hộ một ý thức hệ, một quan điểm cụ thể,
trong khi chống lại quan điểm khác. Chẳng
hạn, việc cho phép các biểu ngữ phản đối
việc phá thai, trong khi lại cấm biểu ngữ ủng
hộ việc phá thai là bất hợp hiến. Sự giám sát
chặt chẽ (strict crutiny) sẽ được áp dụng đối
với các luật, hạn chế căn cứ vào nội dung.
Cùng với thời gian, những quan điểm
về “thị trường tự do của tư tưởng”, “nhiều
ngôn luận hơn thay vì hạn chế” của các thẩm
phán ủng hộ tự do như Holmes Jr. , Brandeis,
Brennan … đã trở thành chủ lưu trong các lập
luận của Tòa án tối cao Hoa Kỳ. Cùng với sự
phát triển đa dạng của các phương tiện truyền
thông hiện đại (truyền hình cáp, internet…),
pháp luật đã được cập nhật để theo kịp các đòi
hỏi của xã hội. Bên cạnh đó, nhiều loại tranh
chấp liên quan đến các phương tiện hiện đại
đã là một động lực hình thành nên nhiều phán
quyết mới, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cấp
liên bang và tiểu bang10.
Thứ hai, sẽ là trái với Hiến pháp nếu
luật mơ hồ, thiếu rõ ràng hoặc quá rộng.
Luật sẽ bị coi là mơ hồ, thiếu rõ ràng nếu
một người có nhận thức bình thường không
thể phân biệt được rằng ngôn luận nào là bị
cấm và ngôn luận nào là được phép. Tòa án
tối cao liên bang nhận định “các tiêu chuẩn
về tính mơ hồ của luật bị giới hạn nghiêm
trong lĩnh vực tự do ngôn luận,…vì các tự
do trong Tu chính án thứ I cần không gian
để thở nếu muốn sinh tồn, chính quyền chỉ
có thể quy định trong lĩnh vực này với sự cụ
thể hẹp”11. Luật sẽ bị coi là quá rộng nếu nó
điều chỉnh nhiều ngôn luận hơn phạm vi mà
Hiến pháp cho phép. Như trong vụ Board of
Airport Commissioners of Los Angeles kiện
Jews for Jesus, Inc.(1987)12, tòa án kết luận
rằng, việc cấm tuyên truyền chính trị, phân
phát tài liệu ở sân bay là quá rộng.
1.2. Một số nguyên tắc nền tảng
Nhìn chung, để xem xét tính hợp hiến
của lập pháp, hành pháp khi can thiệp vào
ngôn luận, một số nguyên tắc, học thuyết
sau đây thường được các tòa án áp dụng:
9. Vụ Whitney kiện California (1927).
10. Ví dụ như tập đoàn Turner của ông trùm truyền thông Ted Turner đã có hai vụ kiện lên đến Tòa án Tối cao
Hoa Kỳ vào năm 1994 và 1997.
11. Vụ NAACP kiện Button (1963).
12. Erwin Chemerinsky, Constitutional Law: Principles and Policies, Third edition, Nxb. Aspen, 2006, tr. 948.
Trong vụ này, Tòa án tối cao không cho rằng các quy định là mơ hồ, mà ngược lại, nhận thấy quy định rõ ràng
trong việc cấm các hoạt động ngôn luận theo Tu chính án thứ I, nên quy định đó rõ là “quá rộng”. Xem thêm:
45
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Thứ ba, ngôn luận chỉ bị cấm nếu gây
ra mối đe dọa rõ ràng và trực tiếp, những
quan ngại thiếu căn cứ không đủ để giới
hạn ngôn luận. Trong vụ Brandenburg kiện
Ohio (1969)13, Tòa án tối cao đã nhất trí
rằng, Luật hình sự (Criminal Syndicalism
Act) của bang Ohio vi phạm tự do của
Brandenburg. Mặc dù anh này có đe dọa
rằng, nếu chính quyền không bảo vệ sự
thống trị của người da trắng thì “việc trả thù
có thể xảy ra”. Tòa cho rằng, lời kêu gọi
mơ hồ và khó có khả năng xảy ra, từ đây,
kiểm định Brandenburg (Brandenburg Test)
ra đời, thay thế cho kiểm định xu hướng xấu
(Bad Tendency Test, ra đời từ án lệ Whitney
kiện California, 1927)14. Kiểm định
Brandenburg, hay còn được gọi là “kiểm
định hành vi trái pháp luật sắp xảy ra”, đòi
hỏi phải đáp ứng 2 yêu cầu nếu muốn cấm
một ngôn luận: 1) Ngôn luận phải “hướng
đến kích động hoặc sinh ra hành vi trái pháp
luật sắp xảy ra” (imminentlawless action);
2) Ngôn luận phải “có nhiều khả năng
kích động hoặc sinh ra hành vi”. Trong vụ
án trên, Tòa án cũng nhận định rằng, có
những ngôn luận, dù gây tổn thương, bất
bình, hoặc không được nhiều người ủng hộ,
nhưng cũng không thể bị tùy tiện cấm cản.
là bất hợp hiến. Tòa án tối cao đã phán quyết
rằng, “các giới hạn trước đối với ngôn luận
và xuất bản là nguy hiểm nhất và khó tha
thứ nhất đối với các quyền trong Tu chính
án thứ I”15. Trong vụ New York Times Co.
kiện Hoa Kỳ (1971), còn được gọi là vụ Hồ
sơ Lầu Năm Góc. Chính quyền Tổng thống
Nixon đã cố gắng ngăn chặn việc công bố
những tài liệu được đóng dấu “tối mật”, do
một Nhóm công tác trong Bộ Quốc phòng
biên soạn, phân tích về ba thập niên can
dự vào Việt Nam. Thế nhưng, với tỷ lệ đa
số 6 - 3, Tòa án tối cao đã nhận định rằng,
chính quyền không thể cấm xuất bản các tài
liệu này, chính quyền đã không thể chứng
minh việc xuất bản gây ra những nguy hại
rõ ràng, hiện hữu và nghiêm trọng đối với
quốc gia. Thẩm phán W. Douglas viết: “Sự
bí mật trong chính quyền căn bản là ngược
với dân chủ… Tranh luận và thảo luận công
khai các vấn đề công cộng là thiết yếu cho
sự mạnh khỏe của quốc gia”, luôn cần có
các tranh luận “không giới hạn, mạnh mẽ và
công khai”, ngay cả khi việc tiết lộ bí mật
“có thể có một ảnh hưởng nghiêm trọng”16.
Thứ năm, các hành vi mang tính biểu
tượng cũng được bảo vệ bởi quyền tự do
ngôn luận ở những mức độ khác nhau.
Trong vụ Hoa Kỳ kiện O’Brien (1968)17,
Tòa án tối cao Hoa Kỳ phán quyết rằng,
việc luật hình sự cấm đốt thẻ quân dịch
là không vi phạm tự do biểu đạt. Mặc dù
Thứ tư, các giới hạn trước (prior
restraints), như việc kiểm duyệt hay các
quyết định hành chính, tư pháp cấm cản
ngôn luận trước khi ngôn luận được biểu đạt
Burt Neuborne, Tổng quan đạo luật về quyền, trong sách “Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ”, Alan B.
Morrison (Chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, 2007, tr. 146.
13. Richard A. Parker, Brandenburg v. Ohio, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on Trial: Communication
14. Richard A. Parker, Tài liệu đã dẫn, tr. 152.
15. Vụ Nebraska Press Association kiện Stuart (1976). Trước đó, trong vụ Near kiện Minnesota (1931), Tòa
án tối cao Hoa Kỳ lần đầu tiên kết luận rằng sự hạn chế trước đối với việc xuất bản là vi phạm quyền tự do báo
chí được bảo vệ theo Tu chính án thứ I.
16. Geoffrey R. Stone, Louis M. Seidman, Cass R. Sunstein, Mark V. Tushnet, và Pamela S. Karlan, Constitutional
Law, Sixth edition, Nxb. Wolters Kluwer, tr. 1096.
17. Donald A. Fishman, United States v. O’Brien, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on Trial:
Communication Perspectives on Landmark Supreme Court Decisions”, Nxb. Đại học Alabama, 2003, tr. 130 - 138.
46
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
công nhận hành vi đốt thẻ là một thông điệp
phản đối chiến tranh Việt Nam, nhưng Tòa
án cho rằng, quy định của Luật Nghĩa vụ
quân sự là chính đáng vì lợi ích của quốc
gia, và không phải là trấn áp ngôn luận. Tuy
nhiên, đến vụ đốt cờ (Texas kiện Johnson,
1989)18, đa số thẩm phán Tòa án tối cao (tỷ
lệ 5 - 4) cho rằng, luật cấm xúc phạm lá cờ
là đi ngược với Hiến pháp, vì hành vi đốt
một lá cờ Hoa Kỳ - là một hành vi mang
tính truyền thông (a communicative act) -
được bảo vệ bởi Tu chính án thứ I.
nguyên. Cạnh đó, học thuyết “những biện
pháp ít hạn chế nhất” cũng được sử dụng
đối với quyền tự do ngôn luận, làm giảm
thiểu những ảnh hưởng, hạn chế đối với
quyền này20. Những ngôn luận không được
Tu chính án thứ I bảo vệ bao gồm việc xúi
giục phạm pháp, quảng cáo gian dối và
những biểu đạt tục tĩu21.
Trên đây là một số nguyên tắc, học
thuyết (hay còn được gọi là phương pháp
luận)22 cơ bản liên quan đến tự do ngôn
luận đã được phát triển, áp dụng trong
khoảng một thế kỷ qua tại Hoa Kỳ. Các
nguyên tắc này, cũng như nhiều án lệ, lập
luận của Tòa án tối cao Hoa Kỳ, đã có ảnh
hưởng rộng khắp trên thế giới trong những
thập niên qua.
Thứ sáu, có sự cân đối giữa các lợi
ích, cân bằng giữa quyền tự do ngôn luận
với nhiều quyền tự do và lợi ích quan
trọng khác. Cho dù được đề cao, quyền
tự do ngôn luận có thể phải chịu những
giới hạn khi có sự xung đột với những
lợi ích thực sự “thuyết phục”. Trong
vụ Clark kiện Community for Creative
Non-Violence (1982)19, tòa án đã kết luận
rằng mặc dù người biểu tình có quyền biểu
đạt bằng nhiều cách khác nhau, nhưng nếu
bằng cách ngủ lại trong các lều ở Công
viên Lafayette trước mặt Nhà Trắng (để
kêu gọi chính quyền quan tâm đến vấn
đề của người vô gia cư) là xung đột với
lợi ích của chính quyền trong việc duy trì
công viên sạch đẹp, lệnh cấm đã được giữ
2. Ngôn luận chính trị và những giới hạn
2.1. Phạm vi và vai trò của ngôn luận
chính trị
Ngôn luận chính trị tại Hoa Kỳ, thường
được hiểu là những biểu đạt, truyền thông
liên quan đến chính quyền hay chính trị23.
Ngôn luận này có thể là những phát biểu,
giao tiếp, tranh luận giữa các ứng cử viên,
quảng cáo chính trị trên báo chí, truyền
hình, biểu tình hay phát ngôn về chính sách,
hoặc hướng đến những thay đổi trong lĩnh
vực chính trị.
18. David J.Vergobbi, Texas v. Johnson, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on Trial: Communication
19. Geoffrey R. Stone, Louis M. Seidman, Cass R. Sunstein, Mark V. Tushnet, và Pamela S. Karlan, Constitutional
Law, Sixth edition, Nxb. Wolters Kluwer, tr.1271.
20. Burt Neuborne, Tổng quan đạo luật về quyền, trong sách “Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ”, Alan
B. Morrison (Chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, 2007, tr.140-141. Xem thêm về các học thuyết trong lĩnh vực
ngôn luận trình bày trong sách này.
21. Trong vụ Miller kiện California (1973), liên quan đến người bị kết án vì quảng cáo các ấn phẩm khiêu dâm
qua đường bưu điện, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ sửa đổi định nghĩa của mình về sự tục tĩu (obscenity) từ “hoàn
toàn không có giá trị cứu chuộc xã hội” thành “thiếu giá trị văn học, nghệ thuật, chính trị hoặc khoa học” một
cách nghiêm trọng.
22. Erwin Chemerinsky gọi đây là các phương pháp luận về tự do ngôn luận (free speech methodology): Erwin
Chemerinsky, Constitutional Law: Principles and Policies, Third edition, Nxb. Aspen, 2006, tr. 932 - 968.
23. Michael Richard Dimino, Political speech, trong sách “Encyclopedia of the Supreme Court”, David Schultz
(Biên tập), Nxb. Facts on File, 2005, tr. 348.
47
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Việc bảo đảm cho các cuộc tranh luận
công khai về chính sách công đã được công
nhận là động lực chính dẫn đến sự ra đời
của Tu chính án thứ I. Nhiều loại ngôn luận
chính trị được tòa án bảo vệ, bao gồm các
cuộc tranh luận về chính sách, quyền của
ứng cử viên tiến hành chiến dịch vận động,
quyền của công dân phổ biến các tài liệu
chính trị với sự ẩn danh. Nhiều án lệ có sự
ưu tiên cho quyền tự do tranh luận, ngay cả
trong thời điểm chiến tranh.
phản hồi tốt hơn trước nguyện vọng của
người dân và để các đổi thay đó có thể đạt
được bằng các phương tiện hợp pháp, một
cơ hội cần thiết cho sự an toàn của nền cộng
hòa, là một nguyên tắc cơ bản của hệ thống
hiến pháp”27. Trong vụ Công ty New York
Times kiện Sullivan (1964)28, Tòa án tối cao
đã khảo cứu lại lịch sử của tự do ngôn luận,
từ những nhận định của James Madison,
và đã phán quyết rằng, mặc dù tờ báo New
York Times có đăng sai một số chi tiết (như
về việc cảnh sát bao vây trường đại học),
các lỗi đó là nhỏ, không gây hại và cần
được khoan thứ29.
Nhìn chung, khi áp dụng học thuyết
“phân loại”24, tương đối dễ phân biệt ngôn
luận chính trị với ngôn luận về thương mại
(quảng cáo bán hàng) hay về khoa học (bài
nghiên cứu). Ngôn luận về chính trị sẽ được
sự bảo vệ cao hơn là ngôn luận về kinh
doanh, thương mại. Những giới hạn đối với
ngôn luận chính trị sẽ bị xem xét, đánh giá
theo tiêu chí nghiêm ngặt (strict scrutiny),
trong khi giới hạn với biểu đạt trong các
lĩnh vực khác chỉ chịu sự đánh giá ít chặt
chẽ hơn25.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, như tại mọi
quốc gia, luôn có những giá trị, lợi ích quan
trọng đòi hỏi sự cân bằng, cho phép giới
hạn tự do biểu đạt, kể cả ngôn luận chính
trị. Một trong những hoạt động quan trọng
đó là tổ chức các cuộc bầu cử, phương thức
ủy quyền, giám sát thiết yếu trong các nền
dân chủ.
Do vai trò đặc biệt và sự phổ biến của
ngôn luận và truyền thông, đã có sự giao
thoa giữa quyền tự do ngôn luận với nhiều
quyền tự do khác, như tự do tôn giáo (đã có
án lệ về từ chối chào cờ vì lý do niềm tin
tôn giáo), hay tự do lập hội (án lệ về không
chịu tiết lộ danh sách thành viên của tổ chức
xã hội).
Trong các ngôn luận chính trị, quyền
phê phán chính quyền, công chức nhà nước
đặc biệt được đề cao. Công chức luôn phải
chịu sự giám sát của nhân dân, vì “công
chức, hiện nay và trước đây, là tài sản của
26
công chúng” . Tu chính án thứ I có vai
trò bảo vệ việc trao đổi tư tưởng, thông tin
nhằm mang lại những đổi thay về chính trị
và xã hội, và “việc duy trì cơ hội cho tự
do thảo luận chính trị làm cho chính quyền
2.2. Ngôn luận chính trị trong tranh
cử và những giới hạn
24. Burt Neuborne, Tài liệu đã dẫn, tr. 141-143.
25. Michael Richard Dimino, Tài liệu đã dẫn.
26. Nhận định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong vụ Beauharnais kiện Illinois (1952).
27. Nhận định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong vụ Stromberg kiện California (1931), Tòa đã kết luận rằng một
đạo luật năm 1919 của bang California cấm cờ đỏ là vi hiến vì vi phạm Tu chính án thứ I và thứ XIV. Lập luận
này được dẫn lại trong vụ Công ty New York Times kiện Sullivan (1964).
28. Nicholas F. Burnett, New York Times v. Sullivan, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on
tr. 116-124.
29. Nicholas F. Burnett, Tài liệu đã dẫn, tr. 121. Xem thêm: Anthony Lewis, Make No Law: The Sullivan Case
and the First Amendment, Nxb. Vintage, 1992.
48
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Pháp luật về bầu cử của Hoa Kỳ gồm
nhiều nguồn khác nhau, bên cạnh các tập
quán và án lệ, một nguồn quan trọng là các
đạo luật như Luật Chiến dịch bầu cử liên
FECA, 1971, được sửa đổi nhiều lần), Luật
Cải cách chiến dịch bầu cử lưỡng đảng
(Bipartisan Campaign Reform Act - BCRA,
2002, còn được gọi là McCain - Feingold
Act, theo tên của hai thượng nghị sĩ có sáng
kiến lập pháp, sửa đổi FECA). Pháp luật về
bầu cử có các nội dung về quyền bỏ phiếu,
bảo đảm sự tiếp cận của các cử tri dễ bị tổn
thương (người khuyết tật, người có khó
khăn về ngôn ngữ), đóng góp tài chính, vận
động bầu cử, chống gian lận bầu cử…
quảng cáo ngoài trời, gửi thư hàng loạt,
điện thoại, hoặc bất kỳ hình thức quảng
cáo chính trị nào khác31. Luật này cũng
định nghĩa “truyền thông tác động bầu cử”
(“electioneering communication”) là bất kỳ
truyền thông phát thanh, truyền hình nào
mà đề cập đến một ứng cử viên tranh cử
cho một vị trí cấp liên bang, được thực hiện
trong vòng 60 ngày trước ngày tổng tuyển
cử, hoặc là 30 ngày trước bầu cử sơ bộ,
hoặc hội nghị của một đảng chính trị để đề
cử một ứng cử viên32.
Để bảo đảm đảm sự bình đẳng trong
tranh cử, Luật Viễn thông, điện thoại và
radio (Chương 5, Tiêu đề 47 của Bộ Tổng
luật Hoa Kỳ) yêu cầu các cơ quan truyền
thông dành cơ hội bình đẳng cho tất cả
các ứng cử viên trong việc sử dụng đài
phát sóng, không có quyền kiểm duyệt
đối với nội dung phát sóng của các ứng
cử viên, thu phí mức ngang nhau cho tất
cả các ứng cử viên… Về nội dung, ứng cử
viên không được trực tiếp nhắc đến các
ứng cử viên khác tranh cử cho cùng một
vị trí, ở phần cuối của nội dung phát sóng
cần xuất hiện hình ảnh của ứng cử viên,
xác nhận của ứng cử viên đã chấp nhận
nội dung phát sóng và ủy ban chi trả cho
phát sóng…33
Mặc dù, tự do ngôn luận được bảo vệ
rộng rãi như nêu trên, trong Luật Chiến dịch
bầu cử liên bang và nhiều đạo luật khác liên
quan đến bầu cử, có khá nhiều giới hạn đối
với ngôn luận chính trị30. Phần nào do cơ
quan lập pháp, cũng như tư pháp, thấy cần
bảo đảm tính khách quan, ngăn chặn tham
nhũng trong bầu cử và bảo đảm bình đẳng
trong tranh cử đã được cân bằng với tự do
ngôn luận. Nhiều loại ngôn luận đã bị hạn
chế với các quy định khác nhau.
Luật Chiến dịch bầu cử liên bang xác
định truyền thông chính trị có thể là bằng
bất kỳ phương tiện nào, gồm truyền hình
cáp hoặc vệ tinh, báo, tạp chí, phương tiện
Ở mức độ nghiêm khắc, Luật Hình
sự (Chương 18, Tiêu đề 2 của Bộ Tổng
30. Trong Bộ Tổng luật Hoa Kỳ (Code of Laws of the United States of America, hay United States Code), bao
gồm 53 lĩnh vực (Tiêu đề/ Title), một số lĩnh vực liên quan được thảo luận ở đây gồm: Bỏ phiếu và bầu cử
(Tiêu đề 52), Tội phạm và Tố tụng hình sự (Tiêu đề 18), Luật thuế thu nhập (Tiêu đề 26), Tư pháp và tố tụng
tư pháp (Tiêu đề 28), Viễn thông, điện thoại và radio (Tiêu đề 47).
31. Federal Election Commission, Federal Election Campaign Laws, Second Edition, February 2019, tr. 10.
32. Federal Election Commission, Tài liệu đã dẫn, tr. 30-31. Tuy nhiên, Luật này không coi là “truyền thông
tác động bầu cử” đối với: truyền thông xuất hiện trong một câu chuyện tin tức, bình luận hoặc bài xã luận được
phổ biến qua đài phát thanh, truyền hình, trừ khi các cơ quan truyền thông đó được sở hữu hoặc kiểm soát bởi
một đảng phái chính trị, ủy ban chính trị hoặc ứng cử viên nào; truyền thông tạo thành một cuộc tranh luận
giữa các ứng cử viên.
33. Federal Election Commission, Tài liệu đã dẫn, tr. 169 - 171. Tuy nhiên, Luật khẳng định những quy định
trên không áp dụng với việc xuất hiện bởi một ứng cử viên trên các bản tin, phỏng vấn tin tức, phim tài liệu tin
tức chân thực, hoặc đưa tin tại chỗ về các sự kiện tin tức xác thực.
49
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
luật Hoa Kỳ) cấm các ứng cử viên: trực
tiếp hay gián tiếp hứa hẹn bổ nhiệm, hoặc
dùng ảnh hưởng để ủng hộ việc bổ nhiệm
bất kỳ người nào vào vị trí công hay tư
nhằm đổi lấy sự ủng hộ mình (Điều 599);
trực tiếp hay gián tiếp hứa hẹn tuyển dụng,
giao kết hợp đồng hoặc những lợi ích khác
để đổi lấy sự ủng hộ hay phản đối ứng cử
viên, đảng chính trị (Điều 600); dọa tước
đoạt, sa thải ai đó khỏi vị trí, công việc,
hay hưởng lợi từ một chương trình cấp
liên bang hay tiểu bang để ép họ quyên
góp ủng hộ (Điều 601);34 vận động quyên
góp đối với một số đối tượng (như người
nhận trợ cấp), tại một số địa điểm như văn
phòng, tòa nhà cơ quan công quyền (Điều
604, 607)35… Với nguyên tắc bộ máy
hành chính đứng ngoài sinh hoạt chính trị
đảng phái, luật hình sự cũng cấm ép buộc,
dọa nạt, chỉ đạo trong hoạt động chính trị,
kể cả của lãnh đạo cơ quan công quyền
đối với nhân viên (Điều 610)36.
tranh cử, Tòa án đã kết nối quyền tự do
biểu đạt, ngôn luận với lĩnh vực tài chính
trong bầu cử.
Theo Luật Bầu cử (Chương 301,
Tiêu đề 52 của Bộ Tổng luật Hoa Kỳ),
Ủy ban Bầu cử liên bang (FEC) có trách
nhiệm giám sát nhiều quy định liên quan,
bao gồm giới hạn mức tiền mà cá nhân, tổ
chức có thể quyền góp trong bầu cử.
Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã lập luận
rằng, đóng góp tài chính là biểu đạt sự
ủng hộ đối với một ứng cử viên, cũng
như sự gắn kết với một đảng chính trị,
nhưng để ngăn chặn tham nhũng, việc
chính quyền đặt ra giới hạn mà cá nhân
có thể đóng góp ủng hộ một ứng cử viên
là có thể biện minh được. Bởi lẽ, việc vận
động bầu cử tiêu tốn rất nhiều tiền bạc,
các ứng cử viên phải phụ thuộc vào sự
đóng góp từ nhiều nguồn, điều này làm
phát sinh nguy cơ có những người tài trợ
để gây ảnh hưởng, đổi lấy những lợi ích
chính trị trong tương lai38. Mặt khác, Tòa
án công nhận rằng, truyền thông vận động
bầu cử (in tờ rơi, quảng cáo trên truyền
hình…) tiêu tốn nhiều tiền; trong khi đó,
chính quyền khó có thể lấy lý do chống
tham nhũng để biện minh cho việc giới
Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã nhận định
rằng, muốn các cuộc bầu cử công bằng
và trung thực cần có nhiều quy định kỹ
lưỡng, cũng như cần có trật tự đi kèm với
tiến trình dân chủ, tránh sự hỗn loạn37.
Điều thú vị là cùng với việc pháp luật đặt
ra những giới hạn đối với ngôn luận trong
34. Federal Election Commission, Tài liệu đã dẫn, tr.122-123.
35. Federal Election Commission, Tài liệu đã dẫn, tr.124-125.
36. Điều 610 Luật hình sự và tố tụng hình sự (Tiêu đề 18) quy định rằng: “Sẽ là bất hợp pháp nếu bất kỳ người
nào đe dọa, dọa nạt, chỉ đạo, hoặc ép buộc, hoặc cố gắng đe dọa, dọa nạt, chỉ đạo, hoặc ép buộc bất kỳ nhân
viên nào của Chính phủ Liên bang … tham gia hoặc không tham gia vào bất kỳ hoạt động chính trị nào, bao
gồm, nhưng không giới hạn, bỏ phiếu hoặc từ chối bỏ phiếu cho bất kỳ ứng cử viên nào, thực hiện hoặc từ chối
đóng góp chính trị, làm việc hoặc từ chối làm việc thay mặt cho bất kỳ ứng cử viên nào. Bất kỳ người nào vi
phạm nội dung này sẽ bị phạt theo tiêu đề này hoặc bị phạt tù không quá ba năm, hoặc cả hai”. Federal Election
Commission,Tài liệu đã dẫn, tr.126.
37. Michael Richard Dimino, Tài liệu đã dẫn.
38. Karen O’Connor, Larry J. Sabato, American Government, Nxb. Pearson Longman, 2006, tr. 525-529.
Cũng theo đó, các loại nguồn đóng góp chính trị cho một chiến dịch vận động của ứng cử viên có thể bao gồm:
đóng góp cá nhân, đóng góp của các Ủy ban Hành động chính trị (PAC), đóng góp của đảng chính trị, đóng
góp của cá nhân ứng cử viên và gia đình họ, quỹ công, các khoản chi độc lập.
50
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
hạn chi tiêu (expenditure)39. Do đó, trong
vụ Buckley kiện Valeo (1976)40, Tòa án tối
cao đã kết luận rằng, Luật Chiến dịch bầu
cử quy định giới hạn đối với đóng góp
bầu cử thì không vi hiến, nhưng quy định
về giới hạn chi tiêu bầu cử lại là trái với
Tu chính án thứ I41.
tranh dành ghế ứng viên của Đảng Dân
chủ cho vị trí Tổng thống, một tổ chức phi
chính phủ là Citizens United (Công dân
Đoàn kết) đã sản xuất, phát hành bộ phim
tài liệu với nội dung phê phán Hillary.
Trước khi phát hành, tổ chức này đã khởi
kiện ra tòa án, cho rằng việc Luật Cải cách
chiến dịch bầu cử lưỡng đảng (2002) cấm
“truyền thông tác động bầu cử” là vi phạm
Tu chính án thứ I, nhằm ngăn chặn Ủy ban
Bầu cử áp dụng quy định này đối với bộ
phim của mình. Trong một phán quyết sát
sao, theo tỷ lệ 5 - 4, Tòa án kết luận rằng
giới hạn đối với chi tiêu của các tổ chức và
công đoàn là vi phạm tự do ngôn luận45.
Vì tiêu tiền là điều cần thiết để phổ biến
ngôn luận, như đã được thiết lập trong vụ
Buckley kiện Valeo, việc hạn chế khả năng
chi tiêu tiền của một tổ chức là vi hiến vì
nó hạn chế khả năng các thành viên liên kết
hiệu quả và phát biểu về các vấn đề chính
trị. Phán quyết này cho phép các tổ chức,
công đoàn chi tiêu không giới hạn vào việc
vận động chính trị. Chi tiêu này còn được
gọi là “tiền mềm”, khoản tiền không được
quyên góp trực tiếp mà gián tiếp ủng hộ
chiến dịch của một ứng cử viên.
Chi tiêu gián tiếp cho quảng cáo chính
trị được tranh luận trong vụ McConnell kiện
Ủy ban Bầu cử liên bang (2003)42. Thượng
dịch bầu cử lưỡng đảng (2002) vi phạm Tu
chính án thứ I, vì cấm các tổ chức, công đoàn
công khai vận động ủng hộ hoặc chống lại
một ứng cử viên ngay trước kỳ bầu cử, hành
động mà Luật gọi là “truyền thông tác động
bầu cử”, như đã nêu trên. Đa số thẩm phán
của Tòa án tối cao Hoa Kỳ cho rằng, ngoại
trừ hai điểm tương đối nhỏ, toàn bộ đạo luật
là phù hợp với Hiến pháp, kể cả việc cấm chi
tiêu độc lập của các tổ chức xã hội cho vận
động, quảng cáo chính trị trong thời gian sát
trước các cuộc bầu cử43.
Tuy nhiên, chỉ 7 năm sau, một phần
của phán quyết trên đã bị chính Tòa án tối
cao Hoa Kỳ lật ngược lại trong vụ Citizens
United kiện Ủy ban Bầu cử liên bang
(FEC) (2010)44. Vào năm 2008, khi Barack
Obama và Hillary Clinton đang vận động
Trong vụ kiện năm 2010 nêu trên, Tòa
án tối cao cũng kết luận rằng, quyền tự do
ngôn luận cũng áp dụng cho các tổ chức;
39. Craig R.Smith, Buckley v. Valeo, trong sách Richard A. Parker, “Free Speech on Trial: Communication
40. Craig R.Smith, Tài liệu đã dẫn.
41. Lập luận chống lại hạn chế chi tiêu bầu cử này đã được áp dụng đối với tranh cử ở cấp tiểu bang, theo phán
quyết của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ trong vụ Nixon kiện Shrink Missouri Government PAC (2000).
42. Geoffrey R. Stone, Louis M. Seidman, Cass R. Sunstein, Mark V. Tushnet, và Pamela S. Karlan, Constitutional
Law, Sixth edition, Nxb. Wolters Kluwer, tr. 1365 -1370.
43. Geoffrey R. Stone, Tài liệu đã dẫn.
44. Jame Bopp, Jr, Joseph E. La Rue, và Elizabeth M. Kosel, The Game Changer: Citizens United’s Impact
on Campaign Finance Law in General and Corporate Political Speech in Particular, trong Tạp chí “First
Amendment Law Review”, Vol. 9, 2011, tr. 316-319.
45. Jame Bopp, Jr, Joseph E. La Rue, và Elizabeth M. Kosel, Tài liệu đã dẫn, tr. 319. Xem thêm về ảnh hưởng
của phán quyết trong vụ này đối với vận động tranh cử tại Hoa Kỳ: Lê Thị Thu (Chủ biên), Phân cực chính trị
ở Mỹ hiện nay: Tình hình, nguyên nhân và tác động, Nxb. Khoa học xã hội, tr. 230-232.
51
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
nói cách khác, các pháp nhân cũng có
quyền phát ngôn chính trị như cá nhân46.
Nhận định này phủ nhận một số án lệ trước
đây47, khi đó, Tòa án lo ngại về việc các tổ
chức, doanh nghiệp có thể gây ảnh hưởng
tiêu cực, làm mất công bằng trong các
cuộc bầu cử.
phản đối48. Tại Việt Nam, án lệ đã được
công nhận, nghiên cứu và giảng dạy trong
các cơ sở đào tạo luật học. Án lệ cũng
được coi là “sự bổ sung tuyệt vời cho
luật thành văn”, khi luật thành văn chưa
thể “bao phủ hết các quan hệ xã hội đa
dạng và thay đổi từng ngày”49. Bên cạnh
đó, trong bối cảnh chúng ta đang tích cực
tham khảo và “tiếp thu có chọn lọc những
thành tựu khoa học pháp lý tiên tiến”50, án
lệ về các quyền tự do, bao gồm tự do ngôn
luận, của các nước (bao gồm Hoa Kỳ) cần
tiếp tục được tập hợp, biên dịch và nghiên
cứu hệ thống hơn.
3. Nhận xét
Có thể nói rằng, tự do ngôn luận, đặc
biệt là ngôn luận trong lĩnh vực chính trị,
đã được Tu chính án thứ I của Hiến pháp
và hệ thống pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ khá
mạnh mẽ trong khoảng một thế kỷ qua.
Bên cạnh đó, để bảo đảm cho các cuộc bầu
cử được công bằng và trật tự, quyền ngôn
luận đã chịu những giới hạn đáng kể. Từ
những phân tích về quyền tự do ngôn luận
chính trị ở Hoa Kỳ, có thể rút ra hai nhận
xét sau đây:
Thứ hai, quy định giới hạn ngôn luận
trong tranh cử nhằm bảo đảm sự bình
đẳng, giảm thiểu tham nhũng và sự hỗn
loạn, một cách khá chi tiết trong luật bầu
cử của Hoa Kỳ là những kinh nghiệm hay
để tham khảo. Mặc dù quốc gia này có hệ
thống bầu cử khá đặc biệt, các quy định
hướng đến cân bằng giữa bảo đảm tự do
ngôn luận với minh bạch, bình đẳng trong
bầu cử cũng gợi ra nhiều khía cạnh cho các
quốc gia tham khảo khi hoàn thiện pháp
Thứ nhất, khi bảo vệ quyền tự do
ngôn luận chính trị, các bản án của Tòa án
tối cao Hoa Kỳ để lại nhiều ấn tượng về
sự đa dạng, uyên bác và linh hoạt. Người
đọc còn thấy được vai trò, quan điểm
và lập luận của từng cá nhân thẩm phán
trong các bản án, dù là lý lẽ tán đồng hay
luật về bầu cử của mình
46. Amy J. Sepinwall, Citizens United and the Ineluctable Question of Corporate Citizenship, trong Tạp chí
“Connecticut Law Review”, Volume 44, February 2012, Number 3, tr. 577 - 578.
47. Như trong vụ Austin kiện Michigan Chamber of Commerce (1990), Tòa án Tối cao ủng hộ Luật Tài
chính chiến dịch bầu cử Michigan, cấm các tổ chức dùng tiền ngân sách để chi tiêu độc lập vào việc ủng
hộ hoặc phản đối các ứng cử viên, và không vi phạm Tu chính án thứ I và thứ XIV. Tòa án duy trì giới hạn
đối với ngôn luận của tổ chức, cho rằng “sự giàu có của các tổ chức có thể tác động không công bằng đến
bầu cử”. Tuy nhiên, luật của bang Michigan vẫn cho phép ủng hộ tài chính cho chiến dịch bầu cử từ một
quỹ tách riêng.
48. Xem thêm sự phát triển tư tưởng, quan điểm, lập luận về ngôn luận của các thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa
Kỳ (gồm Oliver W.Holmes, George Sutherland, Hugo L.Black, John Marshall Harlan, William J.Brennan…),
trong sách Helen J. Knowles, Steven B. Lichtman (Biên tập), Judging Free Speech: First Amendment
Jurisprudence of US Supreme Court Justices, Nxb. Palgrave Macmillan US, 2015.
49. Nguyễn Trí Tuệ (Chủ biên), Giáo trình Án lệ và thực tiễn xét xử, Nxb. Đại học Quốc gia, 2019, tr. 44.
50. Nguyễn Hòa Bình, Xây dựng Tòa án nhân dân xứng đáng là biểu tượng của công lý, lẽ phải và niềm
tin, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2019, tr. 148. Trong bài giảng của mình về cải cách tư pháp tại lớp
bồi dưỡng cho cán bộ quy hoạch, tháng 8/2019, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã đề cập đến việc
tham khảo, nghiên cứu kinh nghiệm các nước về tổ chức bộ máy, về chính sách hình sự, cơ chế hoạt động
tư pháp, các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của tòa án. Xem: Nguyễn Hòa Bình, Tài liệu đã
dẫn, tr. 148-156.
52
Bạn đang xem tài liệu "Ngôn luận chính trị trong pháp luật Hoa Kỳ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ngon_luan_chinh_tri_trong_phap_luat_hoa_ky.pdf

