Nghiên cứu tỷ lệ và mức độ rối loạn chức năng tâm trương thất trái trên bệnh nhân cao tuổi bị đái tháo đường típ 2

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ MỨC ĐỘ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG  
TÂM TRƯƠNG THẤT TRÁI TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI  
BỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2  
Nguyễn Văn Tân*, Trần Ngọc Mạnh*  
TÓM TẮT  
Cơ sở: Rối loạn chức năng tâm trương thất trái là một yếu tố nguy cơ dẫn đến suy tim tâm trương, là một  
yếu tố dự báo diễn tiến nặng của bệnh tim mạch và tử vong trong dân số chung. Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường  
(ĐTĐ) ngày càng gia tăng, trong đó có gia tăng theo tuổi. Ở người cao tuổi bị bệnh ĐTĐ, khả năng có ảnh  
hưởng trên tim mạch rất cao, trong đó có chức năng tâm trương thất trái. Việt Nam chưa có nghiên cứu nào sử  
dụng siêu âm Doppler mô để đánh giá chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân cao tuổi bị bệnh ĐTĐ típ 2.  
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ, mức độ rối loạn chức năng tâm tương thất trái trên bệnh nhân cao  
tuổi bị đái tháo đường típ 2.  
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, cắt ngang mô tả trên 227 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên đến khám tại  
trung tâm y khoa Medic thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 11/2010 đến tháng 4/2011 và được chia thành 2  
nhóm: nhóm nghiên cứu (n=150, nhóm I) là những bệnh nhân ≥ 60 tuổi được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 có hoặc  
không có bệnh tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ đi kèm; nhóm chứng (n= 77, nhóm II) là những bệnh  
nhân ≥ 60 tuổi không có bệnh đái tháo đường và bệnh tim mạch, đồng ý làm siêu âm tim.  
Kết quả: Tuổi trung bình trong 2 nhóm nghiên cứu là 67,58 ± 6,6 (nhóm I), 68,16 ± 6,16 (nhóm II). LVMI  
(g/m2) trung bình trong nhóm I là 77,30 ± 20,69, nhóm II là 62,64 ± 14,65 (p < 0,001); vận tốc sóng A tăng  
(86,91 ± 10,5 ở nhóm I so với 82,92 ± 11,5 ở nhóm II với p = 0,012). Nhóm bệnh có sự giảm vận tốc sóng e’m  
(7,39 ± 1,95 so với 8,23 ± 1,95, p = 0,003) và tăng tỷ số E/e’m (9,75 ± 2,74 so với 8,86 ± 2,41, p = 0,013) so với  
nhóm chứng; còn e’l (9,68 ± 2,25 so với 10,24 ± 2,18 với p = 0,056) và tỷ số E/e’l (7,35 ± 1,89 so với 7,0 ± 1,6, p =  
0,16) thì không có sự khác biệt giữa 2 nhóm. Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương thất trái qua khảo sát bằng  
siêu âm Doppler qua phổ van 2 lá ở nhóm I là 50% (n = 75), nhóm II là 35,1% (n = 27) với p = 0,032; bằng  
Doppler mô ở nhóm I là 68,7% (n = 103), nhóm II là 39% (n = 30) với p < 0,001. Tỷ lệ các mức độ rối loạn chức  
năng tâm trương ở nhóm I thường gặp nhất là độ I (rối loạn dạng thư giãn) với tỷ lệ 50,3%, trong khi đó ở  
nhóm II có rối loạn dạng thư giãn là 33,8%, với p < 0,05. Không ghi nhận rối loạn chức năng tâm trương thất  
trái độ III ở cả hai nhóm nghiên cứu.  
Kết luận: Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở nhóm bệnh nhân cao tuổi bị đái tháo đường típ 2  
cao hơn nhóm bệnh nhân cao tuổi không bị đái tháo đường típ 2 qua đánh giá bằng siêu âm Doppler phổ qua van  
2 lá và Doppler mô. Mức độ rối loạn chức năng tâm trương thất trái thường gặp nhất trên bệnh nhân cao tuổi bị  
đái tháo đường típ 2 là dạng rối loạn thư giãn. Siêu âm Doppler mô cải thiện khả năng phát hiện rối loạn chức  
năng tâm trương thất trái của siêu âm ở bệnh nhân cao tuổi bị bệnh đái tháo đường típ 2.  
Từ khóa: siêu âm tim, rối loạn chức năng tâm trương, người cao tuổi, đái tháo đường típ 2.  
* Bộ môn Lão khoa – ĐHYD TP.HCM  
Tác giả liên lạc: Ths.BS.Nguyễn Văn Tân ĐT: 0903739273  
164  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
ABSTRACT  
THE RATE AND THE LEVEL OF LEFT VENTRICULAR DIASTOLIC DYSFUNCTION ON ELDERLY  
TYPE 2 DIABETES PATIENTS  
Nguyen Van Tan, Tran Ngoc Manh  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 164 ‐ 170  
Background: Left ventricular diastolic dysfunction is a factor that leads to diastolic heart failure, as well as a  
factor that precedes the deterioration of heart disease and death in the population. The prevalence of type 2  
diabetes is increasing, in which there is an increase being proportionate to the ageing. In the elderly type 2  
diabetes patients, the probability of its having the effects on the heart is very high, in which case the left  
ventricular diastolic function is affected. In Viet Nam, there has not been any research using tissue Doppler  
ultrasonography to evaluate the left ventricular function on the elderly type 2 diabetes patients.  
Objects: To define the rate and level of left ventricular diastolic dysfunction on elderly type 2 diabetes  
patients.  
Research method: Prospectively, cross description of 227 patients from 60 years of age or above checked up  
at the Ho Chi Minh City Medic medical center over the period 11/2010 to 4/2011, divided into 2 groups: research  
group (n = 150, group I) was the patients ≥ 60 years old and who were diagnosed as type 2 diabetes with or  
without hypertension, ischemic heart disease accompanied; control group (n = 77, group II) was the patients ≥60  
years old who were without diabetes and heart disease, and agreed to undergo ultrasonography.  
Results: The mean age in the 2 groups was 67.58 ± 6.6 (group I), 68.16 ± 6.16 (group II). Mean LVMI  
(g/m2) in group I was 77.30 ± 20.69, in group II being 62.64 ± 14.65 (p < 0.001); increased A wave velocity  
(86.91 ± 10.5 in group I compared to 82.92 ± 11.5 in group II, p = 0.012). Group I had the decrease in e’m wave  
velocity (7.39 ± 1.95 compared to 8.23 ± 1.95, p = 0.003) and had the increase in E/e’m ratio (9.75 ± 2.74  
compared to 8.86 ± 2.41, p = 0.013) compared to the control group; while e’l (9.68 ± 2.25 compared to 10.24 ±  
2.18, p= 0.056) and E/e’l ratio (7.35 ± 1.89 compared to 7.0 ± 1.6, p = 0.16) had no significant difference between  
2 groups. Left ventricular diastolic dysfunction rate on the investigation by Doppler ultrasonography over mitral  
valvular spectrum in the group I was 50% (n = 75), in group II being 35.1% (n = 27) with p = 0.032; by tissue  
Doppler ultrasonography in group I was 68.7% (n = 103), in group II being 39% (=30), p < 0.001. The most  
prevalent diastolic dysfunction level in group I was level I (relax type dysfunction) with the rate of 50.3%,  
meanwhile the rate of relax type dysfunction in group II was 33.8%, p < 0.05. There was no level III ventricular  
diastolic dysfunction in 2 groups.  
Conclusions: The rate of left ventricular diastolic dysfunction in the elderly type 2 diabetes patients was  
higher than those without type 2 diabetes by Doppler ultrasonography over mitral valvular spectrum and tissue  
Doppler ultrasonography. The most prevalent level of left ventricular diastolic dysfunction in the elderly type 2  
diabetes patients was relax type dysfunction. Tissue Doppler ultrasonography improves the probability of  
detection of left ventricular diastolic dysfunction in elderly type 2 diabetes patients.  
Key words: Doppler ultrasonography, diastolic dysfunction, elderly, type 2 diabetes.  
trương, trong số đó có đái tháo đường và tuổi  
MỞ ĐẦU  
cao. Siêu âm tim Doppler là một trong những  
Rối loạn chức năng tâm trương thất trái là  
công cụ đánh giá chức năng tâm trương khá  
một yếu tố nguy cơ dẫn đến suy tim tâm trương,  
chính xác, không xâm lấn, chi phí không cao.  
là một yếu tố dự báo diễn tiến nặng của bệnh  
Đặc biệt là siêu âm Doppler mô (đo vận tốc vận  
(1)  
tim mạch và tử vong trong dân số chung . Có  
nhiều nguyên nhân gây rối loạn chức năng tâm  
động vòng van 2 lá) đánh giá chức năng tâm  
165  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
trương ít phụ thuộc vào tiền tải hơn siêu âm  
Doppler qui ước. Ngày nay, các khuyến cáo đã  
sử dụng siêu âm Doppler mô để đánh giá chức  
năng tâm trương thất trái và kết hợp với siêu âm  
Doppler qui ước để phân loại mức độ rối loạn  
Cỡ mẫu  
77 bệnh nhân khỏe mạnh không bệnh ĐTĐ  
và bệnh tim mạch, 150 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có  
hoặc không có bệnh tăng huyết áp, bệnh tim  
thiếu máu cục bộ đi kèm.  
(2,5)  
chức năng tâm trương . Tỷ lệ bệnh nhân đái  
Phương pháp thu thập số liệu  
tháo đường (ĐTĐ) ngày càng gia tăng, trong đó  
có gia tăng theo tuổi. Ở người cao tuổi bị bệnh  
đái tháo đường, khả năng có ảnh hưởng trên tim  
mạch rất cao, trong đó có chức năng tâm trương  
thất trái. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào sử  
dụng siêu âm Doppler mô để đánh giá chức  
năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân cao tuổi  
bị bệnh ĐTĐ típ 2. Xuất phát từ những vấn đề  
đã nêu trên, chúng tôi sử dụng siêu âm Doppler  
mô kết hợp với siêu âm Doppler qui ước để thực  
hiện nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ và  
đánh giá mức độ rối loạn chức năng tâm trương  
thất trái ở bệnh nhân cao tuổi bị bệnh đái tháo  
đường típ 2.  
Những bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn đồng ý  
tham gia nghiên cứu sẽ được thăm khám lâm  
sàng, đo điện tâm đồ và làm siêu âm tim. Về  
siêu âm, chúng tôi sử dụng máy siêu âm  
ALOKA PROSOUND £6 với các số liệu cần thu  
thập như chỉ số siêu âm tim TM: EF, khối lượng  
cơ thất trái (LVM), chỉ số Doppler xung đánh giá  
lưu lượng qua van hai lá: VE, VA, E/A, thời gian  
giảm tốc sóng E (DT), thời gian giãn đồng thể  
tích (IVRT), chỉ số Doppler mô sóng xung cơ  
tim: e’m, e’l (e’: vận tốc cơ tim đầu thời kỳ tâm  
trương; e’m: e’ medial = e’ septal, e’l: e’ lateral).  
Định nghĩa các biến số  
Tuổi là một biến số liên tục, được tính bằng  
cách lấy năm bệnh nhân tham gia nghiên cứu  
trừ đi năm sinh, đơn vị tính là năm. Người cao  
tuổi là người từ 60 trở lên (theo WHO 1998). Cân  
nặng là một biến số liên tục, được xác định tại  
thời điểm khám, đơn vị đo là kilogram (kg). Chỉ  
số khối cơ thể (BMI) là một biến số liên tục, được  
tính bằng công thức: cân nặng x 10000/(chiều  
ĐỐITƯỢNG‐PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Thiết kế nghiên cứu  
Tiền cứu, cắt ngang mô tả.  
Dân số nghiên cứu  
Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên đến khám tại  
trung tâm y khoa Medic thành phố Hồ Chí  
Minh từ tháng 11/2010 đến tháng 4/2011 và  
được chia thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu (n  
= 150, nhóm I) là những bệnh nhân ≥ 60 tuổi  
được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 có hoặc không có  
bệnh tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ  
đi kèm; nhóm chứng (n = 77, nhóm II) là  
những bệnh nhân ≥ 60 tuổi không có bệnh đái  
tháo đường và bệnh tim mạch, đồng ý làm  
siêu âm tim. Chúng tôi loại ra khỏi nghiên cứu  
những trường hợp thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh  
nhưng có bệnh van tim nặng, bệnh cơ tim phì  
đại, bệnh màng ngoài tim, rối loạn nhịp tim  
(nhịp tim nhanh, rung nhĩ, cuồng nhĩ), phân  
suất tống máu (EF) < 50%, những bệnh nhân  
có cửa sổ siêu âm quá kém.  
2
2
cao) ,đơn vị đo là kg/m .  
Tăng huyết áp (THA) là một biến số không  
liên tục, có 2 giá trị là có và không. Một người bị  
bệnh THA khi có tiền căn chẩn đoán bị bệnh  
THA và đang dùng thuốc hạ áp hoặc có huyết  
áp tâm thu (HATThu) ≥ 140 mmHg và hoặc  
huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg ở 2  
lần đo cách nhau ít nhất 30 phút và không có  
dùng chất kích thích thần kinh trước đó (JNC  
VII). Huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương là  
những biến số liên tục, được đo lúc khám, đơn  
vị đo là mmHg. Đái tháo đường là một biến số  
không liên tục, có 2 giá trị là có hoặc không. Một  
người bị bệnh ĐTĐ típ 2 khi đã được chẩn đoán  
bị ĐTĐ típ 2 trước đó và đang dùng thuốc hạ  
đường huyết hoặc có đường huyết đói ≥ 126  
166  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
mg/dl ở 2 lần đo khác nhau và có những đặc  
điểm của ĐTĐ típ 2 .  
Phân độ rối loạn chức năng tâm trương dựa  
vào siêu âm tim Doppler : Độ I: rối loạn thư  
(6)  
(9)  
giãn (impaired relaxation), e’m <8 cm/s và E/A <  
0,8 hoặc DT > 200 ms; Độ II: giả bình thường  
(pseudonormal), e’m < 8 cm/s và 0,8 ≤ E/A ≤ 2  
hoặc 160 ≤ DT ≤200 ms; Độ III: đổ đầy hạn chế  
(restrictive filling), e’m < 8 cm/s và E/A > 2 hoặc  
DT < 160 ms.  
Bệnh tim thiếu máu cục bộ là một biến số  
không liên tục, có 2 giá trị là không và có.  
Những bệnh nhân được xem là có bệnh tim  
thiếu máu cục bộ khi có triệu chứng đau ngực  
điển hình (đau sau xương ức với tính chất và  
thời gian điển hình và xảy ra khi gắng sức hoặc  
stress và giảm khi nghỉ hoặc khi sử dụng  
nitroglycerine) hoặc có triệu chứng đau ngực  
không điển hình và có thay đổi đoạn ST‐T trên  
điện tim (ST chênh lên ≥ 2 mm ít nhất 2 chuyển  
đạo liên tiếp ở chuyển đạo trước ngực, ≥ 1 mm ít  
nhất 2 chuyển đạo ở chuyển đạo ngoại biên hoặc  
ST chênh xuống > 0,5 mm kiểu ngang hoặc lõm  
xuống trong cơn đau, và/ hoặc T đảo trên 3mm  
ở ít nhất 5 chuyển đạo), và/ hoặc có sóng Q của  
NMCT cũ (rộng ≥ 0,4 giây hoặc cao > 1/4 sóng R  
cùng chuyển đạo) và/hoặc bệnh nhân có tiền sử  
NMCT phải nằm viện và hoặc có bằng chứng bị  
thiếu máu cơ tim qua siêu âm tim gắng sức, điện  
tâm đồ gắng sức, chụp mạch vành, siêu âm tim  
Phân tích số liệu  
Các số liệu sẽ được mã hóa, nhập và xử lý  
bằng phần mềm SPSS 11.5. Các số liệu thu thập  
được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch  
chuẩn đối với biến số liên tục. Biến số không liên  
tục được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm.  
Những biến số liên tục có phân phối chuẩn sử  
dụng phép kiểm T, ANOVA để so sánh các  
trung bình, các biến số có giá trị phân phối  
không chuẩn thì sử dụng phép kiểm MANN‐  
WHITNEY WILCOXON, KRUSKAL‐WALLIS  
để so sánh. Những biến số không liên tục thì  
2
dùng phép kiểm χ để so sánh. Các phép kiểm  
có ý nghĩa khi p < 0,05.  
(8)  
có hình ảnh của NMCT cũ .  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Phân suất tống máu là một biến số liên tục,  
có đơn vị đo là %. Vận tốc sóng đổ đầy tâm  
trương sớm (VE), vận tốc sóng đổ đầy tâm  
trương muộn (VA) là những biến số liên tục, có  
đơn vị đo là cm/s. Tỷ số E/A là một biến số liên  
tục, được tính bằng công thức VE/VA. Vận tốc  
của sóng vận động thành cơ tim trong kỳ tâm  
trương sớm (e’m, e’l) là những biến số liên tục,  
có đơn vị đo là cm/s. Tỷ số E/e’ là một biến số  
liên tục, được tính bằng công thức VE/Ve’.  
Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu  
Từ tháng 11/2010 đến tháng 04/2011 chúng  
tôi thu thập được 150 bệnh nhân đái tháo đường  
típ 2 từ 60 tuổi trở lên thỏa tiêu chuẩn nhóm  
nghiên cứu (nhóm I = nhóm bệnh) và 77 người  
không bị bệnh tim mạch và ĐTĐ từ 60 tuổi trở  
lên thỏa tiêu chuẩn nhóm chứng (nhóm II). Một  
số đặc điểm về dịch tễ và lâm sàng của hai  
nhóm được trình bày trong bảng 1.  
Khối lượng cơ thất trái (LVM) là một biên số  
liên tục, được tính theo công thức qui ước Penn:  
Bảng 1. Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của 2 nhóm  
nghiên cứu:  
3
3
LVM = 1,04 [(Dd+IVSd+LPWP) ‐Dd ]‐13,6 đơn vị  
tính bằng gram (g). Chỉ số khối lượng cơ thất  
trái (LVMI) là một biến số liên tục, được tính  
theo công thức: LVMI = LVM/BSA, đơn vị tính  
Nhóm chứng Nhóm ĐTĐ  
p
n=77  
68,16±6,16  
33/44  
n=150  
67,58±6,6  
12/26  
Tuổi (năm)  
Giới (nam/nữ)  
BMI (kg/m2)  
BSA (m2)  
p > 0,05  
p > 0,05  
20,45±2.8  
1,49±0.12  
22,89±2.4  
1,56±0.14  
p < 0,001  
p = 0,009  
2
bằng g/m . Dày thất trái là một biến số không  
liên tục, có 2 giá trị là có và không. Bệnh nhân có  
HATThu (mmHg) 121,06±10.1 123,24±9.6 p > 0,05  
2
dày thất trái khi LVMI >95 g/m ở nữ, LVMI  
Thời gian ĐTĐ  
(năm)  
3,66±0.63  
2
(6)  
>115 g/m ở nam .  
Tỷ lệ bệnh nhân  
thừa cân (%)  
3,9  
15,8  
p = 0,026  
167  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
Nhóm chứng Nhóm ĐTĐ  
p
Đặc điểm rối loạn chức năng tâm trương  
n=77  
n=150  
Bảng 4. Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương thất  
trái ở 2 nhóm  
Tỷ lệ dày thất trái  
0
2,6  
p > 0,05  
(%)  
Nhóm bệnh Nhóm chứng  
(n = 150) (n = 77)  
p
BMI trung bình và tỷ lệ thừa cân ở nhóm I  
cao hơn nhóm II một cách có ý nghĩa thống kê.  
Tỷ lệ dày thất trái ở nhóm I cao hơn nhưng  
không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, tỷ lệ dày  
thất trái ở phân nhóm ĐTĐ là 2,6%, phân nhóm  
ĐTĐ+THA là 14,7% và phân nhóm ĐTĐ + THA  
+ bệnh tim thiếu máu cục bộ là 30%.  
Siêu âm Doppler 50% (n = 75) 35,1% (n = 27)  
0,032  
<0,001  
phổ qua van 2 lá  
Siêu âm Doppler  
mô  
68,7% (n = 39% (n = 30)  
103)  
Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương ở nhóm  
bệnh cao hơn nhóm chứng dù sử dụng tiêu  
chuẩn siêu âm Doppler phổ qua van 2 lá (50% so  
với 35,1%) hay siêu âm Doppler mô (68,7% so  
với 39%). Từ kết quả này cũng cho thấy siêu âm  
Doppler mô phát hiện rối loạn chức năng tâm  
trương nhiều hơn siêu âm Doppler phổ qua van  
2 lá ở cả nhóm bệnh (68,7% so với 50%) và nhóm  
chứng (39% so với 35,1%).  
Đặc điểm siêu âm tim của hai nhóm  
nghiên cứu  
Bảng 2. Giá trị các thông số siêu âm Doppler phổ qua  
van 2 lá giữa 2 nhóm:  
Nhóm chứng Nhóm ĐTĐ  
p
n = 77  
n = 150  
LVM (g)  
LVMI (g/m2)  
EF (%)  
93±22,9  
104±24,7  
0,15  
<0,001  
>0,05  
0,44  
Bảng 5. Tỷ lệ các mức độ rối loạn chức năng tâm  
trương  
62,64± 14,65 77,30± 20,69  
70,57± 7,02  
69,13±11,2  
82,92±11,5  
0,84±0,13  
72,51± 7,30  
67,96±10,2  
86,91±10,5  
0,80±0,11  
VE (cm/s)  
VA (cm/s)  
E/A  
Nhóm bệnh  
Nhóm chứng  
p
(n = 150)  
(n = 77)  
0,012  
0,18  
Bình thường  
Độ I  
31,6%  
50,3%  
18,1%  
0
61%  
33,8%  
5,2%  
0
<0,05  
DT (ms)  
IVRT (ms)  
199,12±31,45 206,47±26,98  
96,88±17,22 97,73±16,67  
0,1  
Độ II  
0,71  
Độ III  
Kết quả phân tích cho thấy chỉ có vận tốc  
sóng A tăng và tỷ lệ E/A giảm ở nhóm bệnh so  
với nhóm chứng là có ý nghĩa thống kê. Các  
thông số VE, DT, IVRT không khác biệt giữa 2  
nhóm (bảng 2). Nhóm bệnh của chúng tôi có sự  
giảm vận tốc sóng e’m và tăng tỷ số E/e’m so với  
nhóm chứng có ý nghĩa thống kê, còn e’l và tỷ số  
E/e’l thì không có sự khác biệt giữa 2 nhóm  
(bảng 3).  
Qua số liệu trên cho thấy, ở cả 2 nhóm mức  
độ RLCNTTr chủ yếu là nhẹ (rối loạn thư giãn),  
không có ghi nhận trường hợp nào có RLCNTTr  
mức độ nặng.  
BÀN LUẬN  
Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là  
68,85 ± 7,41, thấp nhất là 60 tuổi, cao nhất là 91  
tuổi. Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của  
chúng tôi hơi thấp hơn nghiên cứu của tác giả  
Châu Trần Phương Tuyến (70,3 ± 7,2) và tác giả  
Bảng 3. Các thông số siêu âm Doppler mô giữa 2  
nhóm  
Nhóm bệnh  
Nhóm chứng  
p
(9,3)  
Russo C (70,4 ± 9,6) , cao hơn tác giả Boyer JK  
(n = 150)  
(n = 77)  
( )  
(46,63 ± 7,7) . Điều này có thể do sự khác biệt ở  
e’m  
e’l  
7,39±1,95  
9,68±2,25  
9,75±2,74  
7,35±1,89  
8,23±1,95  
10,24±2,18  
8,86±2,41  
7,0±1,6  
0,003  
0,056  
0,013  
0,16  
địa điểm lấy mẫu. Nghiên cứu của tác giả Châu  
Trần Phương Tuyến và Russo, dân số chọn mẫu  
là những bệnh nhân nằm viện, những bệnh  
nhân này có tuổi cao hơn nhóm nghiên cứu của  
chúng tôi có thể là vì tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc  
nhiều bệnh và bị biến chứng của những bệnh  
mạn tính nhiều hơn nên tỷ lệ nằm viện cao hơn.  
E/e’m  
E/e’l  
168  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn tác giả Boyer  
vì tác giả chỉ nghiên cứu ở những người <60  
tuổi.  
thường, DT cũng trở về bình thường (giai đoạn  
II hay giai đoạn giả bình thường). Kết quả  
nghiên cứu trình bày ở bảng 2, chúng tôi nhận  
thấy ở nhóm nghiên cứu có sự tăng vận tốc sóng  
A, tỷ lệ E/A giảm, điều này cho thấy bệnh nhân  
ĐTĐ có RLCNTTr kiểu rối loạn thư giãn.  
LVMI của nhóm nghiên cứu trung bình là  
77,3 ± 20,6 thấp hơn nghiên cứu của tác giả  
( )  
()  
CTPTuyến .(110 ± 31,45) và tác giả Russo (95,2  
± 22,2). Sự khác về LVMI sẽ làm ảnh hưởng đến  
sự khác biệt về tỷ lệ dày thất trái giữa các tác giả.  
Tỷ lệ dày thất trái trong nhóm nghiên cứu của  
chúng tôi là 12,67%. THA là nguyên nhân  
thường gặp gây phì đại thất trái. Thời gian THA  
càng dài, tỷ lệ dày thất trái càng cao. Trong  
nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ dày thất trái ở  
phân nhóm ĐTĐ là 2,6%, phân nhóm  
ĐTĐ+THA là 14,7% và phân nhóm ĐTĐ + THA  
+ bệnh tim thiếu máu cục bộ là 30%. Tỷ lệ dày  
thất trái ở nhóm nghiên cứu của chúng tôi thấp  
hơn so với nghiên cứu của tác giả CTPTuyến  
(39,8%) điều này có thể do sự khác biệt về thời  
gian bị ĐTĐ, mức độ kiểm soát đường huyết,  
mức độ kiểm soát huyết áp, do kỹ thuật và chủ  
quan của người làm siêu âm.  
Ở phân nhóm ĐTĐ, chúng tôi nhận thấy có  
sự giảm vận tốc sóng E, tăng vận tốc sóng A và  
tỷ lệ E/A giảm, DT kéo dài (kiểu rối loạn thư  
giãn) so với nhóm chứng. Tuy nhiên sự khác  
biệt này không có ý nghĩa (bảng 2), có lẽ do cỡ  
mẫu ở phân nhóm ĐTĐ của chúng tôi còn thấp,  
cũng có thể là ĐTĐ không làm thay đổi các  
thông số siêu âm Doppler phổ qua van 2 lá so  
với người cao tuổi. Do đó cần cỡ mẫu lớn hơn để  
xác định giả thuyết này. Kết quả của nghiên cứu  
chúng tôi cũng tương tự tác giả Russo.  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy  
siêu âm Doppler mô phát hiện RLCNTTr nhiều  
hơn Doppler phổ qua van 2 lá ở cả 2 nhóm  
(bảng 4). Kết quả nghiên cứu của tác giả Boyer  
JK cũng đã cho thấy điều này (63% so với 46%).  
Ở nhóm nghiên cứu thì e’m và tỷ lệ E/e’m giảm  
hơn nhóm chứng có ý nghĩa. Điều này cho thấy  
rằng dù tuổi cao thì ĐTĐ, THA vẫn có ảnh  
hưởng lớn trên các thông số siêu âm Doppler  
mô đánh giá chức năng tâm trương. Kết quả  
nghiên cứu của tác giả Russo cũng tương tự  
Các chỉ số VE, VA, E/A, DT là kết quả của  
siêu âm Doppler phổ qua van 2 lá, phản ánh  
chức năng tâm trương thất trái, sự thay đổi của  
những chỉ số này phản ảnh sự thay đổi chức  
năng tâm trương theo các mức độ. Ở giai đoạn  
rối loạn chức năng tâm trương nhẹ (rối loạn thư  
giãn), khi thất trái thư giãn chậm làm cho lưu  
lượng đổ đầy tâm trương sớm chậm hơn bình  
thường, biểu hiện trên siêu âm là VE giảm, DT  
kéo dài. Do sự chậm trễ trong pha tâm trương  
sớm làm cho máu ứ lại nhĩ trái ở pha nhĩ thu  
nhiều hơn bình thường, tim sẽ bù trừ bằng cách  
tăng co bóp nhĩ để tống lượng máu dư về thất,  
kết quả này cho thấy trên siêu âm là VA tăng.  
VE giảm, VA tăng kéo theo tỷ lệ E/A giảm (giai  
đoạn I). Với tiến triển của rối loạn chức năng  
tâm trương làm cho độ chênh áp lực giữa nhĩ  
trái và thất trái ngày càng tăng lên, kết quả làm  
tăng lưu lượng qua van 2 lá đầu thời kỳ tâm  
trương, biểu hiện trên siêu âm là tăng vận tốc  
sóng E, điều này làm cho tỷ lệ E/A tăng dần trở  
lại giống với lúc chức năng tâm trương bình  
()  
chúng tôi .  
Hiện nay các khuyến cáo về siêu âm hướng  
dẫn đánh giá chức năng tâm trương đều sử  
dụng siêu âm Doppler mô để chẩn đoán và kết  
hợp với siêu âm Doppler phổ qua van 2 lá để  
phân loại mức độ RLCNTTr, điều này đã khẳng  
định lợi ích của siêu âm Doppler mô trong đánh  
giá chức năng tâm trương thất trái.  
Tỷ lệ RLCNTTr của nhóm nghiên cứu là  
68,7%. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu của  
()  
chúng tôi tương tự so với tác giả C.T.PTuyến  
(68,7% so với 71%). Kết quả của chúng tôi cao  
hơn tác giả Russo (68,7% so với 60%) do sự khác  
biệt ở tiêu chuẩn chẩn đoán RLCNTTr. Tác giả  
chọn mốc e’m <7 cm/s để chẩn đoán RLCNTTr  
còn chúng tôi chọn mốc e’m < 8 cm/s. Kết quả  
169  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
phân nhóm ĐTĐ của chúng tôi tương tự kết quả  
nghiên cứu của tác giả Boyer JK (63,2% so với  
63%) phải chăng tỷ lệ RLCNTTr ở bệnh nhân  
ĐTĐ típ 2 ở người cao tuổi không khác biệt so  
với người trẻ tuổi. Để khẳng định điều này cần  
có cỡ mẫu lớn hơn để so sánh.  
tháo đường típ 2 là dạng rối loạn thư giãn. Siêu  
âm Doppler mô cải thiện khả năng phát hiện rối  
loạn chức năng tâm trương thất trái của siêu âm  
ở bệnh nhân cao tuổi bị bệnh đái tháo đường típ  
2.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Về mức độ RLCNTTr, trong nhóm nghiên  
cứu chúng tôi tỷ lệ bệnh nhân rối loạn thư giãn  
(độ I) chiếm 50,3% dân số, những bệnh nhân  
RLCNTTr độ II chiếm 18,1% dân số, không có  
bệnh nhân nào bị rối loạn kiểu hạn chế, điều này  
phù hợp với những thay đổi của các thông số  
đánh giá chức năng tâm trương như đã phân  
tích ở trên chủ yếu là rối loạn thư giãn.  
1.  
Aurigemma GP, Gottdiener JS, Shemanski L , Gardin J,  
Kitzman D (2001), ʺPredictive value of systolic and diastolic  
function for incident congestive heart failure in the elderly:  
the Cardiovascular Health Studyʺ. J Am Coll Cardiol (37), pp.  
1042‐1048.  
2.  
3.  
Boyer JK, Thanigaraj S, et al. (2004). ʺPrevalence of Ventricular  
Diastolic Dysfunction in Asymptomatic, Normotensive  
Patients With Diabetes Mellitusʺ. American Journal of  
Cardiology, 93(1), pp. 870‐874.  
Châu Trần Phương Tuyến (2008). Khảo sát hình thái và chức  
năng tâm trương thất trái bằng siêu âm tim ở bệnh nhân đái  
tháo đường týp 2. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Đại Học  
Y Dược TP.Hồ Chí Minh.  
Hạn chế của nghiên cứu  
Do những bệnh nhân trong nghiên cứu của  
chúng tôi có nguy cơ cao bị bệnh tim mạch, hơn  
nữa do điều kiện ở phòng khám nên chúng tôi  
chỉ phân loại những bệnh nhân bị bệnh tim  
thiếu máu cục bộ chủ yếu dựa vào tiền sử nhồi  
máu cơ tim, chụp mạch vành trước đó, triệu  
chứng khám hiện tại và hình ảnh trên siêu âm  
nên có thể còn bỏ sót nhiều trường hợp. Do đó  
kết quả nghiên cứu của chúng tôi có thể khác  
biệt so với những nghiên cứu của tác giả khác  
khi họ giải quyết tốt yếu tố này. Kết quả siêu âm  
cũng chịu ảnh hưởng bởi người làm siêu âm. Do  
cơ sở chỉ có 1 máy siêu âm có chức năng TDI nên  
chúng tôi khó có thể so sánh tính khách quan về  
kết quả siêu âm giữa người lấy mẫu và bác sĩ  
siêu âm khác. Tuy nhiên, chúng tôi đã cố gắng  
tránh sai số do tính chủ quan này bằng cách  
chúng tôi đã chọn người có kinh nghiệm làm  
siêu âm nhiều năm và đã từng làm nhiều trường  
hợp về siêu âm Doppler mô để thực hiện.  
4.  
5.  
Ho YC (2007), ʺEchocardiographic Assessment of Diastolic  
Function.  
In:  
Solomon  
D
Scott,  
ed.  
Essential  
Echocardiographyʺ. New Jersey: Humana Press, pp. 119‐131.  
Hunt SA, Baker DW, Chin MH (2001), ʺACC/AHA guidelines  
for the evaluation and management of chronic heart failure in  
the adult: executive summary. A report of the American  
College of Cardiology/American Heart Association Task  
Force on Practice Guidelines (Committee to Revise the 1995  
Guidelines for the Evaluation and Management of Heart  
Failure); developed in collaboration with the International  
Society for Heart and Lung Transplantation; endorsed by the  
Heart Failure Society of Americaʺ. Circulation, (104), pp. 2996‐  
3007.  
Lang RM, Bierig M, et al (2005). ʺRecommendations for  
chamber quantification: a report from the American Society of  
Echocardiographyʹs Guidelines and Standards Committee  
and the Chamber Quantification Writing Group, developed  
in conjunction with the European Association of  
Echocardiography, a branch of the European Society of  
Cardiologyʺ. J Am Soc Echocardiogr, 18, p. 1440‐1463.  
Mai Thế Trạch , Nguyễn Thy Khuê (2003). Bệnh Đái Tháo  
Đường. Nội Tiết Học Đại Cương. Nxb Y Học, tr. 375‐376.  
Phạm Nguyễn Vinh (2002). Siêu Âm Tim và Bệnh Học Tim  
Mạch. Nxb Y Học, tr. 161.  
6.  
7.  
8.  
9.  
Russo C, Zhezhen  
J (2010). ʺEffect of diabetes and  
hypertension on left ventricular diastolic function in a high‐  
risk population without evidence of heart diseaseʺ. European  
Journal of Heart Failure, 12, pp. 454‐461.  
KẾT LUẬN  
10. Sherif F, Nagueh MD, et al (2009). ʺGuidelines And  
Standards: Recommendations for the Evaluation of Left  
Ventricular Diastolic Function by Echocardiographyʺ. Journal  
of the American Society of Echocardiography, 22(2), p. 127.  
Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương thất trái  
ở nhóm bệnh nhân cao tuổi bị đái tháo đường  
típ 2 cao hơn nhóm bệnh nhân cao tuổi không bị  
đái tháo đường típ 2 qua đánh giá bằng siêu âm  
Doppler phổ qua van 2 lá và Doppler mô. Mức  
độ rối loạn chức năng tâm trương thất trái  
thường gặp nhất trên bệnh nhân cao tuổi bị đái  
Ngày nhận bài báo  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
01‐7‐2013  
10‐7‐2013  
01‐8‐2013  
170  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
pdf 7 trang yennguyen 17480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tỷ lệ và mức độ rối loạn chức năng tâm trương thất trái trên bệnh nhân cao tuổi bị đái tháo đường típ 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ty_le_va_muc_do_roi_loan_chuc_nang_tam_truong_tha.pdf