Áp dụng thang điểm sa sút trí tuệ lâm sàng (CDR) trong đánh giá suy giảm nhận thức ở người già

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
ÁP DỤNG THANG ĐIỂM SA SÚT TRÍ TUỆ LÂM SÀNG (CDR)  
TRONG ĐÁNH GIÁ SUY GIẢM NHẬN THỨC Ở NGƯỜI GIÀ  
Vũ Anh Nhị*, Phan Mỹ Hạnh**  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Áp dụng thang điểm sa sút trí tuệ lâm sàng (CDR) trong đánh giá suy giảm nhận thức ở người  
≥ 65 tuổi.  
Phương pháp: Dùng thang điểm MMSE sàng lọc suy giảm chức năng nhận thức trong 139 người già ≥ 65  
tuổi. Có 69 người có MMSE ≤ 26 điểm và 70 người có điểm MMSE > 26 đều được đưa vào nghiên cứu này. Tất  
cả đều được đánh giá lâm sàng và các trắc nghiệm tâm thần kinh học để chẩn đoán SSTT. Sau đó, tất cả những  
trường hợp có và không có SSTT đều được phân loại bình thường, MCI, SSTT nhẹ, trung bình và nặng theo  
thang điểm CDR Việt hóa.  
Kết quả: Độ nhạy cảm của CDR: 87,50%, đặc hiệu:100%, chính xác: 97,12%. Trong số 139 người được  
chọn, 107 (77%) người được phân loại là bình thường theo MMSE khi đánh giá lại bằng thang điểm CDR có 70  
(50.4%) là bình thường (CDR=0) và 41(29,5%) là MCI (CDR=0,5). Trong số 32 người được chẩn đoán là  
SSTT, có 11 (7,9%) là SSTT nhẹ (CDR=1), 14 (10,1%) trung bình (CDR=2) và 3 (2,2%) nặng (CDR=3). Chỉ có  
4 (2,93%) trường hợp được coi là MCI qua đánh giá lại bằng thang điểm CDR.  
Kết luận: Thang điểm sa sút trí tuệ lâm sàng (CDR) là công cụ có giá trị trong phân loại sa sút trí tuệ ở  
người già. Gần 1/2 các trường hợp qua đánh giá bằng thang điểm MMSE được coi như là bình thường, khi đánh  
giá lại bằng thang điểm CDR đã được phân loại như các trường hợp nghi ngờ (MCI), gia tăng nguy cơ chuyển  
thành SSTT. Vì vậy, phát hiện này là quan trọng trong phòng ngừa và theo dõi tiến triển của SSTT.  
Từ khóa: sa sút trí tuệ, suy giảm nhận thức  
ABSTRACT  
APPLY THE CLINICAL DEMENTIA RATING FOR EVALUATION THE COGNITIVE DEFICIT  
AMONG THE ELDERLY.  
Phan My Hanh, Vu Anh Nhi* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 332 - 326  
Objective: To apply the Clinical Dementia Rating for evaluation cognitive deficit among the elderly ≥ 65  
years old.  
Methods: The Mini Mental State Examination was utilized as a screening method for cognitive deficit  
among the 139 elderly. All those who scored ≤ 26 points (69 elderly) and 70 elderly with scores > 26 points were  
included in the study. The 139 subjects selected were submitted to clinical evaluation and neuropsychological  
tests for the diagnosis of dementia. Afterwards, both cases and non-cases were classified, according to the  
Vietnamese version of the Clinical Dementia Rating, in the categories normal, borderline, mild, moderate and  
severe dementia.  
Results: The sensibility of CDR was 87.50%, the specificity was 100% and the accuracy was 97.12%.  
Among the 139 subjects selected, 107 (77 %) was non cases, 70 (50.4%) were classified as normal (CDR=0),  
41(29.5%) as questionable (CDR=0.5). Among the 32 cases of dementia, 11(7.9%) were classified as mild  
dementia (CDR=1), 14(10.1%) as moderate (CDR=2), 3(2.2%) as severe dementia (CDR=3). Only four (2.93%)  
* Bộ môn Thần kinh, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh ** Bệnh viện Nguyễn Tri Phương  
Tác giả liên lạc BS Phan Mỹ Hạnh,  
ĐT: 0122 3333 063, Email: h_phanmy@yahoo.com  
332  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
of the cases were considered questionable cases by the Clinical Dementia Rating.  
Conclusions: The Clinical Dementia Rating is a valid instrument for classifying the dementia status of the  
elderly. Almost half the cases considered normal by the diagnostic criteria of the Mini Mental State Examination  
were borderline cases according to the Clinical Dementia Rating and might correspond to cases of mild cognitive  
impairment with an increased risk of conversion to dementia cases. This detection is important in preventing and  
following dementia ‘s progression.  
Keywords: Dementia, cognitive deficit  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Sa sút trí tuệ là một vấn đề nổi bật trong sức  
khỏe cộng đồng ở người cao tuổi hiện nay,  
không chỉ vì tỉ lệ mắc bệnh gia tăng, chi phí điều  
trị rất tốn kémmà còn vì gia tăng tỷ lệ tử vong.  
Đối tượng nghiên cứu  
Người già ≥ 65 tuổi.  
Tiêu chuẩn chọn bệnh  
Mọi đối tượng trong dân số chọn đều được  
sàng lọc qua thực hiện test MMSE. Đối tượng có  
điểm MMSE ≤ 26 đ sẽ được khám tâm thần kinh  
và chẩn đoán SSTT dựa vào tiêu chí lâm sàng  
(DSM-IV). Sau đó, tất cả các đối tượng với  
MMSE >26 đ và ≤ 26 đ đều được đánh giá lại  
bằng thang điểm CDR.  
Đánh giá và công nhận SSTT ngay từ lần  
thăm khám đầu tiên sẽ đảm bảo được sự chăm  
sóc thích hợp, nhằm nâng cao chất lượng cuộc  
sống của cả bệnh nhân và người chăm sóc.  
Chính khuynh hướng này là hồi chuông  
cảnh báo về các phương pháp có giá trị và độ tin  
cậy cao trong việc phân loại chẩn đoán SSTT.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Ở các nước đang phát triển, các thang điểm  
khác nhau cho độ nhạy cảm và độ đặc hiệu khác  
nhau. Thang điểm phù hợp nhất cho mỗi quốc  
gia là thay đổi phụ thuộc vào nền văn hóa và  
nền giáo dục của nước đó.  
Rối loạn tri giác, bệnh TKTW, tâm thần,  
động kinh, Parkinson, nghiện rượu, nghiện  
thuốc, chấn thương đầu, bị bệnh nội khoa nặng  
khác, giảm thính lực, thị lực nặng, mù chữ.  
Phương pháp nghiên cứu  
Thang điểm MMSE được sử dụng nhiều  
nhất, đặc biệt trong sàng lọc SSTT do đánh giá  
nhanh và dễ sử dụng. Tuy nhiên không thể  
dùng cho người giảm thị, thính lực cũng như  
người mù chữ.  
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.  
Thu thập số liệu  
Bệnh nhân và thân nhân được lựa chọn  
ngẫu nhiên thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh và không  
có một trong các tiêu chuẩn loại trừ. Trực tiếp  
thu thập bệnh sử và tiền sử cũng như thăm  
khám lâm sàng, tâm -thần kinh. Trực tiếp thu  
thập số liệu từ bệnh nhân và thân nhân bệnh  
nhân theo bảng thu thập số liệu mẫu.  
Thang điểm CDR là thang điểm vừa có thể  
phân loại từ người khỏe mạnh đến những người  
có SSTT lại vừa có thể phân độ SSTT. Ngày nay,  
đã được sử dụng như một tiêu chuẩn vàng cho  
việc đánh giá SSTT lâm sàng với lợi thế là áp  
dụng hàng loạt để theo dõi diễn tiến từ MCI đến  
SSTT nặng.  
Xử lý và phân tích số liệu  
Số liệu được xử lý và phân tích bằng SPSS  
13.0.  
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là áp  
dụng thang điểm SSTT lâm sàng (CDR) Việt hóa  
trong phân loại suy giảm chức năng nhận thức ở  
người ≥ 65t, nhằm làm cơ sở cho việc theo dõi và  
điều trị sớm các đối tượng có nguy cơ cao.  
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN  
Xác định giá trị của thang điểm CDR  
Qua nghiên cứu của chúng tôi, điểm MMSE:  
thấp nhất là 3, cao nhất là 30 và điểm trung bình  
333  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
là 24,71 ± 5,46. Số người có số điểm MMSE > 26  
đ là 70 (50,3%), ≤ 26 đ là 69 người (49,7%).  
cảm là 79,8%, độ đặc hiệu là 81,3%, đã kết luận:  
MMSE với độ chính xác trung bình, sử dụng tốt  
nhất cho chẩn đoán loại trừ SSTT trong cộng  
đồng và trong lần thăm khám đầu tiên, và nên  
được sử dụng kết hợp với các phương pháp  
khác(8).  
Điểm số trung bình của các trường hợp  
được coi là bình thường là 27,93 điểm (tối  
thiểu là 27 và tối đa là 30 điểm), trong khi  
điểm trung bình cho các trường hợp SSTT là  
21,45 điểm (tối thiểu là 0 và tối đa là 26 điểm).  
Qua nghiên cứu của chúng tôi: độ nhạy của  
CDR: 87,50%, độ đặc hiệu: 100%, và độ chính  
xác: 97,12%. So với nghiên cứu của Chaves và  
cs: CDR có độ nhạy là 86% khi phát hiện SSTT  
trong số những người già khỏe mạnh, hay độ  
nhạy là 80% khi phát hiện những người nghi  
ngờ có SSTT và có độ đặc hiệu là 100% cho cả  
hai nhóm người này(3). Nghiên cứu của Motario  
và cs, độ nhạy của CDR là 91,2%, độ đặc hiệu là  
100%(10).  
Không có trường hợp SSTT nào được tìm  
thấy trong số các trường hợp bình thường (độ  
đặc hiệu của MMSE là 100% tại điểm giới  
hạn này).  
Khi mức độ nặng của SSTT tăng lên, điểm số  
của MMSE giảm xuống một cách đáng kể; với  
các đối tượng bình thường (CDR= 0), điểm trung  
bình MMSE là 27,93 với độ lệch chuẩn 1,98 (SD);  
với các đối tượng nghi ngờ (CDR=0,5) điểm  
trung bình MMSE là 25,17 (SD = 1, 69), với các  
đối tượng SSTT nhẹ (CDR=1) điểm trung bình  
MMSE là 20,64 (SD = 2,9), với các đối tượng với  
SSTT trung bình (CDR=2) điểm trung bình  
MMSE là 14,79 (SD = 1,53) và với các trường hợp  
SSTT nặng (CDR=3) điểm trung bình MMSE là  
4,67 (SD = 1,53). (hình 1).  
Trong số 139 người được chọn, 107 (77%)  
người được phân loại là bình thường theo  
MMSE khi đánh giá lại bằng thang điểm CDR  
có 70 (50.4%) là bình thường (CDR=0) và  
41(29,5%) là MCI (CDR=0,5), đối tượng có nguy  
cơ cao chuyển thành SSTT.  
Trong số 32 người được chẩn đoán là SSTT,  
có 11 (7,9%) SSTT nhẹ (CDR=1), 14 (10,1%) SSTT  
trung bình (CDR=2) và 3 (2,2%) SSTT nặng  
(CDR=3). Chỉ có 4(2,93%) trường hợp SSTT,  
được phân loại lại là MCI (CDR= 0,5). Không có  
trường hợp nào chẩn đoán SSTT từ các trường  
hợp bình thường (bảng 1).  
Qua nghiên cứu này, chúng tôi cũng nhận  
thấy rằng: trong số những người bình thường  
(77%), gần ½ (29,5%) trường hợp đã được phân  
loại như các trường hợp nghi ngờ SSTT(MCI),  
phù hợp với nghiên cứu Motario và cộng sự(10).  
Điểm trung bình của MMSE giảm đáng kể  
theo các mức độ nặng của SSTT giúp xác nhận  
việc phân loại CDR theo MMSE.  
Bảng 1: So sánh CDR với chẩn đoán lâm sàng trong  
chẩn đoán SSTT  
CDR  
Chẩn đoán *  
Tổng  
30  
25  
20  
15  
10  
5
SSTT Bình thường  
SSTT (1.2.3)  
Bình thường (0. 0,5)  
Tổng  
28  
4
0
28  
107  
107  
111  
139  
32  
Điều này cũng đã cho thấy có một sự thống  
nhất cao giữa các tiêu chí lâm sàng và CDR, xác  
nhận tính giá trị của CDR trong việc tách các đối  
tượng bình thường từ các trường hợp SSTT(10).  
0
0
0.5  
1
2
3
Hình 1: So sánh tương quan giữa điểm trung bình  
Phân loại suy giảm nhận thức  
CDR và MMSE  
SSTT đặc biệt xảy ra ở người châu Á, chiếm  
46% trên tổng số 25 tỉ người sa sút trí tuệ trên  
toàn thế giới. Trong các nghiên cứu của các tác  
Một phân tích gộp của 34 nghiên cứu STT và  
5 nghiên cứu MCI cho thấy MMSE có độ nhạy  
334  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
giả ở Châu Á như Liu, Ishii, de Silva, Lee, Lim  
và cs: tỷ lệ hiện mắc SSTT của người ≥ 65 tuổi ở  
Trung Quốc từ 1,8 – 6,3%, ở Nhật Bản: 3,3 – 8%,  
ở Ấn Độ: 1.4 – 4%, ở Hàn Quốc: 8,2 – 10,8%, ở  
Đông Nam Á: 2,5 – 7%. Một vài nghiên cứu tiền  
cứu đưa ra tỉ lệ hiện mắc ở người từ 65 tuổi trở  
lên từ 3,2 – 8,9 trên 1000 người hàng năm, tỉ lệ  
này thấp hơn so với Châu Mỹ và Châu Âu.  
tuệ ngày càng được áp dụng nhiều hơn do bởi 2  
đặc tính sẵn có:  
+ Giá trị của thứ bậc: trong đó mức độ 3  
nặng hơn mức độ 2 và mức độ 2 nặng hơn mức  
độ 1.  
+ Giá trị của sự phù hợp trong bảng điểm  
của 6 lãnh vực, như trong trường hợp điển hình  
của bệnh Alzheimer giai đoạn nhẹ, hầu hết các  
điểm khác nhau của các lãnh vực khác nhau chỉ  
dao động trong khoảng 0,5 -1đ(12).  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ SSTT  
theo tiêu chí lâm sàng là 23%, theo đánh giá  
bằng thang điểm CDR là 20,2% (bảng 2).  
KẾT LUẬN  
Độ rộng này có thể được giải thích bởi sự  
khác biệt về đặc tính của mẫu khảo sát, các  
phương thức tầm soát và các phương pháp xác  
định sa sút trí tuệ.(6)  
Qua ứng dụng thang điểm sa sút trí tuệ lâm  
sàng (CDR) trong phân loại suy giảm nhận thức  
ở người ≥ 65 tuổi, chúng tôi có:  
+ Độ nhạy cảm của CDR: 87,50%, đặc hiệu:  
100%, chính xác: 97,12%.  
Bảng 2: Phân loại SSTT theo CDR  
Tần số  
70  
41  
4
Tỷ lệ %  
50,4  
29,5  
9,8  
+ Phân loại: Bình thường: 50,4%; MCI:  
29,5%; SSTT: 20,2%. Trong đó: SSTT nhẹ: 7,9%,  
trung bình: 10,1%, nặng: 2,2%.  
0 Không SSTT  
0,5 MCI:  
- Thể suy giảm trí nhớ  
- Suy giảm một lĩnh vực  
-Suy giảm nhiều lĩnh vực  
1 SSTT nhẹ  
2
4,9  
Gần ½ các trường hợp được coi là bình  
thường theo tiêu chí lâm sàng, khi đánh giá lại  
bằng thang điểm CDR đã được phân loại lại là  
MCI, những đối tượng có nguy cơ chuyển thành  
SSTT trong tương lai. Chỉ có 4 (2,93%) trường  
hợp SSTT, được xếp loại lại là MCI (CDR= 0,5).  
Không có trường hợp SSTT nào được chẩn đoán  
từ các trường hợp bình thường. Điều này cho  
thấy có sự phù hợp giữa thang điểm CDR và  
MMSE cũng như tiêu chí lâm sàng.  
35  
11  
14  
3
85,4  
7,9  
2 SSTT trung bình  
3 SSTT nặng  
10,1  
2,2  
Các nghiên cứu đoàn hệ những người cao  
tuổi ở Mỹ đã cho thấy: tỷ lệ mắc toàn bộ của suy  
giảm nhận thức nhẹ (MCI) từ 4,6- 28,3%, từ 2-  
30% trong dân số nói chung và từ 6 – 85% trong  
tiến trình lâm sàng nói riêng (trung bình 40%).  
Tỷ lệ này càng tăng trong những người càng  
lớn tuổi và trình độ học vấn càng thấp.  
Tóm lại: Thang điểm sa sút trí tuệ lâm sàng  
(CDR) là công cụ có giá trị trong phân loại SSTT  
ở người già. Gần ½ các trường hợp được coi  
như là bình thường, đã được phân loại như các  
trường hợp nghi ngờ (MCI), gia tăng nguy cơ  
chuyển thành SSTT về sau. Phát hiện này là  
quan trọng trong theo dõi và phòng ngừa tiến  
triển của SSTT.  
Hai nghiên cứu của Meguro và cs (2001,  
2004) cũng cho thấy: tỉ lệ hiện mắc của CDR= 0,5  
chiếm 30,2% người bản xứ trong dự án Tajiri của  
Nhật và 29,5% người Nhật nhập cư đến Sao  
Paulo ở Brazil(6).  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ hiện  
mắc CDR=0,5 là 29,5%, phù hợp với kết quả  
trên. Sa sút trí tuệ chiếm tỷ lệ chung là 20,2%,  
trong đó: SSTT nhẹ: 7,9%, SSTT trung bình:  
10,1%, và SSTT nặng: 2,2%.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Anderson H.S. (2010), “Dementia and mild cognitive  
impairment”, Neurology; 75(1), p. 27-34.  
2.  
Chandra V., Pandav R., Dodge H.H., Johnston J.M., Belle S.H.,  
DeKosky ST, Ganguli M (2001), “Incidence of Alzheimer’s  
disease in a rural community in India: the Indo-US study”,  
Neurology, 57, p. 985–989.  
Điều này cho thấy xu hướng sử dụng CDR  
hiện nay như là một công cụ phân độ sa sút trí  
335  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012  
Nghiên cứu Y học  
3.  
Chaves M.L.F., et al (2007),”Validity of the Clinical Dementia  
Rating Scale for the Detection and Staging of Dementia in  
Brazilian Patients”, Alzheimer Dis Assoc Disord, 21, p.210-217.  
Hughes C.P., Berg L., Danziger W.L., Coben L.A., Martin R.L  
.(1982),”A new clinical scale for the staging of dementia”, Br  
Psychiatry, 140, p. 566-72.  
9.  
Morris J. (1993),”The Clinical Dementia Rating (CDR): current  
version andscoring rules”, Neurology, 43(11), p. 2412-4.  
10. Motario M.B.M.M., Ramos L.R. (2005), “Validity of the  
Portuguese version of Clinical Dementia Rating”, Rev Saúde  
Pública, 39(6), p.1-8.  
4.  
11. Petersen R.C., Smith G.E., Waring S.C., et al (1999),”Mild  
cognitive impairment: Clinical characterization and outcome”,  
Arch Neurol, 56, p.303-308.  
5.  
6.  
Lê Minh (2004).”Sa sút trí tuệ”, Thần kinh học lâm sàng, Nhà  
xuất bản Y học, tr. 524-43.  
12. Sahadevan S., Rockwood K., Morris J.C. (1999),”Global  
assessment measures in dementia. In: Gauthier S, ed. Clinical  
Diagnosis and Management of Alzheimer’s disease. 2nd ed.  
London: Martin Dunitz, p.167–177.  
Lim W.S., MRCP, MMed, Mei Sian Chong, MRCP, and Suresh  
Sahadevan, FRCP (2007), “Utility of the Clinical Dementia  
Rating in Asian Populations”. Clin MedRes, 5(1), p. 61–7  
Liu H.C., Lin K.N., Teng E.L., Wang S.J., Fuh J.L., Guo N.W.,  
Chou P., HuH.H., Chiang B.N. (1995),”Prevalence and subtypes  
7.  
8.  
13. Vũ Anh Nhị (2008), ”Sa sút trí tuệ: bệnh Alzheimer”, Sách giáo  
khoa.: tr.15-29.  
of dementia in Taiwan:  
a community survey of 5297  
individuals”, J Am Geriatr Soc, 43, p.144–149.  
Mitchell A.J. (2009). “A meta-analysis of the accuracy of the  
mini-mental state examination in the detection of dementia and  
mildcognitive impairment”, J Psychiatr Res, 43(4), p. 411-431.  
336  
Chuyên Đề Nội Khoa I  
pdf 5 trang yennguyen 16680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Áp dụng thang điểm sa sút trí tuệ lâm sàng (CDR) trong đánh giá suy giảm nhận thức ở người già", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfap_dung_thang_diem_sa_sut_tri_tue_lam_sang_cdr_trong_danh_gi.pdf