Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ung thư cổ tử cung với các type HPV nguy cơ cao

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG UNG  
THƯ CỔ TỬ CUNG VỚI CÁC TYPE HPV NGUY CƠ CAO  
Hoàng Xuân Sơn, Vũ Bá Quyết, Nguyễn Vũ Trung  
Trường Đại học Y Hà Nội  
Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến ở phụ nữ. Ung thư cổ tử cung có HPV dương tính 99%, trong  
đó trên 70% gặp HPV type 16 và 18 .. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang mô tả đặc điểm lâm  
sàng, cận lâm sàng và xác định biến thể gen của HPV ở bệnh nhân Ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu 104 bệnh  
nhân đã được chẩn đoán ung thư cổ tử cung, có HPV dương tính (Xét nghiệm Cobas 4800): có 51,9% được  
chẩn đoán ung thư cổ tử cung UTCTC ở giai đoạn (0); Nhiễm HPV type 16 chiếm cao nhất với 55,8%, trong đó  
có 41,4% có triệu chứng bất thường là ra khí hư nhiều hoặc ra máu âm đạo bất thường. Ung thư biểu mô vảy  
chiếm 87,5%; nhiễm HPV 18 thì 89,8% là ung thư biểu mô tuyến. Soi cổ tử cung phát hiện bất thường 80,8%.  
Ung thư cổ tử cung có triệu chứng nghèo nàn, tỷ lệ phát hiện sớm thấp. Để phát hiện sớm cần làm test HPV.  
Từ khóa: Ung thư cổ tử cung, lâm sàng, cận lâm sàng, type HPV nguy cơ cao.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
nữ chưa được sàng lọc định kỳ hoặc sàng lọc  
Human papilloma Virus (HPV) là loại vi rút  
không có hệ thống.  
gây u nhú ở người. HPV bao gồm có khoảng  
Chẩn đoán HPV bằng PCR là phương pháp  
gần 200 type khác nhau, nhưng không phải tất  
tin cậy để phát hiện nhiễm HPV và các type  
cả đều gây ra triệu chứng lâm sàng và bệnh  
nguy cơ cao có thể gây ra ung thư cổ tử cung.  
liên quan đến HPV. Những nghiên cứu gần  
Bộ gen của HPV có sự khác biệt về đặc tính  
đây cho thấy nhóm nguy cơ cao là một trong  
sinh học và đặc điểm trình tự của các vùng  
những nguyên nhân chủ yếu gây ra ung thư cổ  
tử cung.1-3  
Hàng năm trên thế giới, có khoảng trên  
khác nhau, do đó việc xác định các biến thể  
của HPV có ý nghĩa đối với chiến lược sàng lọc  
HPV trong chẩn đoán lâm sàng và xử trí ung  
thư cổ tử cung.9,10  
500.000 phụ nữ được chẩn đoán là ung thư cổ  
tử cung (UTCTC) và hơn 250.000 người chết do  
UTCTC, trong đó phần lớn số các ca tử vong xảy  
ra ở Châu Á.4-6  
Tại Việt nam, có rất ít những nghiên cứu về  
các biến thể gen của các type HPV nguy cơ cao  
ở bệnh nhân UTCTC được thực hiện từ trước  
đến nay. Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng cần  
thiết phải có nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan  
giữa biến thể gen của các type HPV với đặc  
điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh UTCTC.  
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc UTCTC ở mức cao  
và có xu hướng gia tăng trong những năm  
gần đây. Năm 2008, cả nước có 5.174 trường  
hợp mắc mới và 2.472 trường hợp tử vong do  
UTCTC.7,8 Tỷ lệ mắc mới là 13,6/100000. Một  
trong những lý do dẫn đến tình trạng này là phụ  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
Tác giả liên hệ: Hoàng Xuân Sơn,  
Trường Đại học Y Hà Nội  
Nghiên cứu được thực hiện trên 104 bệnh  
nhân ung thư cổ tử cung điều trị tại Bệnh viện  
Phụ Sản Trung Ương.  
Ngày nhận: 13/09/2020  
Ngày được chấp nhận: 11/01/2021  
- Tiêu chuẩn lựa chọn: được chẩn đoán  
TCNCYH 139 (3) - 2021  
71  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
xác định ung thư cổ tử cung bằng kết quả xét  
nghiệm giải phẫu bệnh, không mắc các ung thư  
khác, có xét nghiệm HPV và đồng ý tham gia  
nghiên cứu.  
soi bệnh phẩm Quan sát cổ tử cung và kết luận  
triệu chứng thực thể: CTC bình hường, viêm lộ  
tuyến CTC, nang Naboth, polyp CTC, CTC dễ  
chảy máu khi chạm, CTC sùi, ét, chai cứng  
- Ghi triệu chứng thực thể vào hồ sơ khám  
ng.  
Lấy mẫu xét nghiệm theo quy  
t
lo  
.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Không đồng ý tự  
nguyện tham gia nghiên cứu, đã mổ cắt tử cung  
hoàn toàn, không xét nghiệm HPV.  
Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2019  
đến tháng 07/2020  
lâm sà  
-
trình:  
+ Đưa chổi chuyên dụng vô trùng vào lỗ  
CTC (vùng ranh giới vảy trụ), xoay nhẹ vài lần  
và giữ trong vòng 1 phút.  
- Địa điểm: Bệnh viện Phụ sản trung ương  
+ Bệnh phẩm là dịch và tế bào bong của cổ  
tử  
c
ung.  
+ Cho chổi đã lấy mẫu vào ống chứa dung  
để bảo qu n.  
Bước 4: Xét nghiệm DNA - HPV theo hệ  
2. Phương pháp  
Thiết kế nghiên cứu : Nghiên cứu mô tả  
cắt ngang  
d
ịc  
h
ả
Cỡ mẫu: Cỡ mẫu nghiên cứu được tính  
thành theo công thức sau:  
Trong đó:  
thống Cobas 4800 hãng Roche, thực hiện tại  
khoa Giải phẫu bệnh Bệnh viện Phụ sản trung  
ương  
.
p(1 - p)  
n = Z2(1 - α/2)  
- Chạy xét nghiệm trên hệ thống Cobas  
4800 giúp phát hiện HPV type nguy cơ cao:  
type 16, 18 nguy cơ rất cao và 12 type nguy  
cơ cao khác (31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58,  
59, 66, 68).  
2
(ε.p)  
n : Cỡ mẫu  
Z (1 - ∝/2) : Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95%  
hay Z(1 - ∝/2) = 1,96.  
- Tiêu chuẩn đánh giá kết quả định tính  
p : Tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao ở bệnh  
nhân bị UTCTC theo nghiên cứu của tác giả  
Phạm Việt Thanh (2009)11 ước tính là khoảng  
70%.  
Cobas HPV - DNA  
:
* HPVDNA (+): Mẫu dương tính với 14 type  
nguy cơ cao (gồmtype 16,18 nguy cơ rất cao  
và 1/12 type nguy cơ cao khác)  
ε.p: 0,07 (ε = 0,1).  
* HPVDNA ( - ): Mẫu âm tính với 14 type  
nguy cơ cao  
Theo công thức trên số phụ nữ sẽ đượcsàng  
lọc 164 phụ nữ. Với giả thiết với 10% phụ nữ  
không tuân thủ quy trình, nhóm nghiên cứu  
quyết định lấy cỡ mẫu cho khám sàng lọc là  
180 bệnh nhân.  
- Đánh giá kết quả và ghi vào phiếu kết quả  
xét nghiệm HPV - DNA.  
Bước 5: Chọn những phụ nữ có HPV (+),  
làm giải trình tự gen. Thực hiện tại Bệnh viện  
Bệnh Nhiệt đới trung ương.  
Quy trình:  
Bước 1: Lựa chọn các bệnh nhân có kết  
quả mô học từ CIN 3 trở lên đưa vào nhóm  
nghiên cứu.  
Một số biến số, chỉ tiêu nghiên cứu:  
- Tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, trình độ học  
vấn, tình trạng hôn nhân, tiền sử sản khoa  
- Triệu chứng lâm sàng: ra khí hư, ra máu  
âm đạo  
Bước 2: Hỏi  
ung thư bệnh viện phụ sản trung ương.  
Bước 3: Khám thực Đặt mỏ vịt, không  
rơn vì sẽ rất khó khăn cho việc  
bệnh: Thực hiện tại khoa phụ  
thể:  
- Triệu chứng thực thể: cổ tử cung bình  
dùng dầu bôi  
t
72  
TCNCYH 139 (3) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
thường, viêm, sùi, loét…  
quan giữa các yếu tố với UTCTC được đo bằng  
bằng tỷ suất chênh (OR). Phương pháp phân  
tích đơn biến với bảng 2x2 được sử dụng để  
xác định mối liên quan giữa các biến số độc lập  
với nhiễm HPV. Phép kiểm định Fisher được  
dùng khi có một tần số mong đợi nhỏ hơn 5.  
Phương pháp phân tích đa biến được sử dụng  
để loại bỏ các yếu tố gây nhiễu nhằm xác định  
mối liên quan được hiệu chỉnh. Mức độ tin cậy  
là 95%,các kiểm định có ý nghĩa khi p < 0,05.  
- Kết quả cận lâm sàng: giải phẫu bệnh, soi  
cổ tử cung, xét nghiệm HPV, giải trình tự gen.  
3. Phân tích số liệu  
Số liệu sau khi thu thập được kiểm tra, làm  
sạch lỗi, loại bỏ những phiếu không phù hợp,  
mã hóa và nhập số liệu bằng phần mềm SPSS  
20.0 được sử dụng để phân tích số liệu.  
Xử lý và phân tích theo phương pháp thống  
kê y học với sự hỗ trợ của phần mềm Stata v  
11.1 (Texas, Hoa Kỳ, 2010). Số liệu được mô  
tả n, độ phân tán và tập trung của số liệu. Các  
biến số định tính được mô tả bằng tỷ lệ %. Các  
biến số định lượng được tính trung bình và độ  
lệch chuẩn. Phân tích các yếu tố liên quan bằng  
test t - student cho biến định lượng liên tục, χ2  
cho biến định tính thang bậc. Phân tích mối liên  
4. Đạo đức nghiên cứu  
Đề tài đã được Hội đồng Đạo đức của trường  
Đại học Y Hà Nội chấp thuận theo chứng nhận  
số 109/HĐĐĐĐHYHN ngày 30/5/2017. Những  
bệnh nhân này hoàn toàn tự nguyện tham gia  
vào nghiên cứu. Các thông tin cá nhân được  
bảo mật.  
III. KẾT QUẢ  
1. Đặc điểm chung của các đối tượng tham gia nghiên cứu  
Bảng 1. Đặc điểm chung của các đối tượng tham gia nghiên cứu  
Ung thư cổ tử cung  
P
Đặc điểm  
n = 104  
n
%
25 - 34  
16  
44  
24  
20  
15,4  
42,3  
23,1  
19,2  
35 - 44  
45 - 54  
≥ 55  
Nhóm tuổi  
Tuổi trung bình  
Mãn kinh  
44,4 ± 10,02  
Đang có kinh  
94  
10  
73  
31  
54  
47  
3
90,4  
9,6  
Mãn kinh  
Thành thị  
51,9  
45,2  
51,9  
45,2  
2,9  
Nơi sống  
Giai đoạn  
Nông thôn  
0
I
II  
Những đặc điểm chung như tuổi trung bình, phân bố các nhóm tuổi, tình trạng kinh nguyệt ở cả hai  
nhóm được mô tả ở bảng 1. Tuổi trung bình là 44,4. Ở những bệnh nhân ung thư cổ tử cung, nhóm tuổi  
mắc bệnh nhiều nhất là nhóm tuổi từ 35 đến 44 tuổi chiếm 42,3% và ít nhất là nhóm tuổi < 35 tuổi chiếm  
TCNCYH 139 (3) - 2021  
73  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
15,4%. Người nhỏ tuổi nhất là 26 tuổi, lớn tuổi nhất là 73 tuổi.  
Tỷ lệ bệnh nhân đã mãn kinh là 9,6%; số còn lại đang có kinh là 90,4%. Tỷ lệ bệnh nhân có số  
lần mang thai ≤ 2 lần là 20,2%; số lần mang thai ≥ 3 lần là 79,8%.  
Phân bố theo địa dư, bệnh nhân sống ở thành thị chiếm 70,2%; số còn lại sống ở nông thôn  
chiếm 29,8%.  
Nhóm bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn (0) chiếm tỷ lệ lớn nhất với 51,9%; Ở giai đoạn I  
là 45,2%; giai đoạn II chiếm tỷ lệ thấp với 2,9%.  
2. Tỷ lệ của các type HPV nguy cơ cao ở bệnh nhân ung thư cổ tử cung  
Biểu 1. Tỷ lệ của các type HPV nguy cơ cao ở bệnh nhân ung thư cổ tử cung  
Kết quả xác định có 44,2% nhiễm HPV 16 và 9,6% nhiễm HPV 16 với 1/12 type HPV nguy cơ cao  
khác; có 26,0% trường hợp do nhiễm 1/12 type HPV nguy cơ cao; có 16,3% nhiễm HPV 18; ngoài  
ra có sự phối hợp của các nhóm nguy cơ cao với nhau chiếm tỷ lệ rất thấp.  
3. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ung thư cổ tử cung với các type HPV nguy cơ cao  
Bảng 2. Triệu chứng lâm sàng liên quan với các type HPV  
Type HPV  
1/12 nguy cơ  
Triệu chứng  
16  
18  
Chung  
cao  
Không triệu chứng  
34 (58,6%)  
15 (71,4%)  
28 (70,0%)  
71,2%  
Triệu chứng bất thường  
(Ra khí hư nhiều hoặc ra  
máu âm đạo bất thường)  
24 (41,4%)  
58 (100%)  
6 (28,6%  
12 (30,0%)  
40 (100%)  
28,8%  
100%  
Tổng  
21 (100%)  
74  
TCNCYH 139 (3) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bảng 3. Triệu chứng cận lâm sàng liên quan với các type HPV  
HPV  
Đặc điểm  
16  
54  
18  
1/12 nguy cơ cao  
Chung  
05  
35  
(87,5%)  
05  
UT biểu mô vảy  
87,5%  
(78,2)  
15  
(10,2%)  
44  
Tế bào học  
UT biểu mô  
tuyến  
12,5%  
19,2%  
80,8%  
(21,8%)  
10  
(89,8%)  
05  
(12,5)  
7
Không thấy bất  
thường  
(21,7%)  
36  
(23,8%)  
16  
(17,5%)  
33  
Soi cổ tử cung  
Có thấy bất  
thường  
(78,3%)  
(76,2%)  
(82,5%)  
Chỉ có 28,8% bệnh nhân UTCTC có triệu chứng bất thường là ra khí hư nhiều hoặc ra máu âm  
đạo bất thường. Nhiễm HPV type 16 có tỷ lệ cao nhất với 41,4%; trong khi đó nhóm nhiễm HPV type  
18 và HPV type 1/12 nguy cơ cao chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều lần lượt là 28,6% và 30,0%.  
Theo giải phẫu bệnh ung thư biểu mô vảy chiếm 87,5%. Bệnh nhân nhiễm HPV type 16 có kết  
quả tế bào học phần lớn là ung thư biểu mô vảy với 78,2%, nhiễm HPV type 1/12 nguy cơ cao khác  
với 87,3%; nhiễm HPV 18 phần lớn có kết quả tế bào học là ung thư biểu mô tuyến với tỷ lệ là 89,8%.  
Kết quả soi cổ tử cung phát hiện những trường hợp bất thường chiếm 80,8%; với nhiễm các type  
HPV ở các type 16, 18 và 1/12 nguy cơ khác với tỷ lệ lần lượt là 78,3; 76,2 và 82,5%.  
IV. BÀN LUẬN  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, những  
bệnh nhân ung thư cổ tử cung có nhóm tuổi  
gặp nhiều nhất là từ 35 đến 44 tuổi, tuổi trung  
bình là 44,4 ± 10,02, như vậy nhóm tuổi ≥ 35  
là chiếm tỷ lệ lớn nhất; Độ tuổi này cũng tương  
đương với tác giả Đoàn Văn Khương, Lưu Đức  
Tâm,12,13 thấp hơn so với nhóm nghiên cứu  
Aanchal Jain và cộng sự tại Ấn Độ.14 Về tình  
hình kinh nguyệt của nhóm bệnh nhân tham gia  
nghiên cứu nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân đã mãn  
kinh chiếm tỷ lệ thấp với 9,6%, điều này cho  
thấy ung thư cổ tử cung gặp phầnlớn ở độ tuổi  
sinh sản của phụ nữ (bảng 1).  
ngược lại với tác giả Aanchal Jain và cộng sự  
tại Ấn Độ với tỷ lệ bệnh nhân sống ở nông thôn  
là 78,3%.14  
Kết quả giải phẫu bệnh của nhóm bệnh  
nhân nghiên cứu là ung thư biểu mô vảy chiếm  
87,5%; kết quả này cũng tương đồng hầu hết  
với các tác giả khác.14  
Nhóm bệnh nhân được chẩn đoán ở giai  
đoạn (0) chiếm tỷ lệ lớn nhất với 51,9%; Ở giai  
đoạn I là 45,2%; giai đoạn II chiếm tỷ lệ thấp với  
2,9% (bảng 1). Qua đây cho thấy chỉ một nửa  
số bệnh nhân ung thư cổ tử cung được chẩn  
đoán sớm, tuy nhiên so sánh với Aanchal Jain  
và cộng sự tại Mumbai, Ấn Độ thì tỷ lệ phát hiện  
sớm chỉ chiếm 13,0%.14  
Tỷ lệ bệnh nhân có số lần mang thai ≥ 3  
lần tỷ lệ cao với 79,8% (bảng 1), theo tác giả  
Trương Quang Vinh số phụ nữ có trên 5 con có  
nguy cơ tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ  
tử cung cao hơn phụ nữ có 4 con trở xuống .  
Tỷ lệ bệnh nhân sống ở thành thị chiếm  
70,2%; số còn lại sống ở nông thôn, tỷ lệ này  
Ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu có 44,2%  
nhiễm HPV 16 và 9,6% nhiễm HPV 16 với 1/12  
type HPV nguy cơ cao khác; có 26,0% trường  
hợp do nhiễm 1/12 type HPV nguy cơ cao; có  
16,3% nhiễm HPV 18. Tỷ lệ này cũng cho thấy  
TCNCYH 139 (3) - 2021  
75  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
đều tương đồng với các tác giả khác là tỷ lệ  
nhiễm HPV ở bệnh nhân ung thư cổ tử cung  
chiếm 70% là do HPV 16 và 183 Tuy nhiên tỷ lệ  
nhiễm do 1/12 type nguy cơ cao khác chiếm tỷ  
lệ khá lớn với 26,0% (biểu 1).  
Lời cảm ơn  
Nhóm nghiên cứu trân trọng cảm ơn Bệnh  
viện Phụ Sản Trung ương, Khoa xét nghiệm  
Bệnh viện bệnh nhiệt đới trung ương đã giúp  
cho đề tài được thực hiện.  
Bệnh nhân UTCTC có triệu chứng bất  
thường nghèo nàn. Nhiễm HPV type 16 có  
triệu chứng bất thường là ra khí hư nhiều hoặc  
ra máu âm đạo bất thường có tỷ lệ cao nhất  
với 41,4%; trong khi đó nhóm nhiễm HPV type  
18 và HPV type 1/12 nguy cơ cao chiếm tỷ lệ  
thấp hơn rất nhiều lần lượt là 28,6% và 30,0%.  
Mặc dù p > 0,05 nhưng phần nào gợi ý những  
trường hợp có triệu chứng bất thường về âm  
đạo ở bệnh nhân ung thư cổ tử cung có thể là  
do phần lớn nhiễm HPV type 16 (bảng 2).  
Bệnh nhân nhiễm HPV type 16 có kết quả  
tế bào học phần lớn là ung thư biểu mô vảy  
với 78,2%, tương đương với bệnh nhân nhiễm  
HPV type 1/12 nguy cơ cao khác với 87,3%;  
ngược lại thì nhiễm HPV 18 phần lớn có kết  
quả tế bào học là ung thư biểu mô tuyến với tỷ  
lệ là 89,8% (bảng 3).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. H. zur Hausen, “Papillomaviruses in the  
causation of human cancers - a brief historical  
account,” Virology, vol. 384, no. 2. pp. 260 -  
265, 2009.  
2. E. - M. De Villiers, C. Fauquet, T. R.  
Broker, H. - U. Bernard, and H. Zur Hausen,  
“Classification of papillomaviruses.,” Virology,  
vol. 324, no. 1, pp. 17 - 27, 2004.  
3. A. F. Rositch, J. Koshiol, M. G. Hudgens,  
H. Razzaghi, D. M. Backes, J. M. Pimenta, E.  
L. Franco, C. Poole, and J. S. Smith, “Patterns  
of persistent genital human papillomavirus  
infection among women worldwide: A literature  
review and meta - analysis.,” Int. J. Cancer, pp.  
1 - 15, Sep. 2012.  
4. J. S. Smith, A. Melendy, R. K. Rana, and  
J. M. Pimenta, “Age - specific prevalence of  
infection with human papillomavirus in females:  
a global review.,” J. Adolesc. Health, vol. 43, no.  
4 Suppl, pp. S5 - S25, S25.e1 - e41, 2008.  
5. J. Ferlay, I. Soerjomataram, M. Ervik, R.  
Dikshit, S. Eser, C. Mathers, M. Rebelo, D. M.  
Parkin, D. Forman, and F. Bray, “GLOBOCAN  
2012 v1.0, Cancer Incidence and Mortality  
Worldwide: IARC CancerBase. No. 11  
[Internet].,” Lyon, France: International Agency  
for Research on Cancer., 2013.  
Liên quan kết quả soi cổ tử cung với nhiễm  
các type HPV cho thấy những trường hợp bất  
thường có tỷ lệ khá tương đồng ở các type 16,  
18 và 1/12 nguy cơ khác với tỷ lệ lần lượt là  
78,3; 76,2 và 82,5.  
V. KẾT LUẬN  
Hiện nay ung thư cổ tử cung phát hiện sớm  
còn chiếm tỷ lệ thấp, triệu chứng lâm sàng  
nghèo nàn, chủ yếu gặp ở bệnh nhân nhiễm  
HPV 16;  
Ung thư cổ tử cung chủ yếu là ung thư biểu  
mô vảy, ngược lại nếu do HPV 18 thì chủ yếu  
là ung thư biểu mô tuyến. Soi cổ tử cung phát  
hiện được trên 80% trường hợp ung thư cổ tử  
cung.  
6. E. F. Dunne, E. R. Unger, M. Sternberg,  
G. McQuillan, D. C. Swan, S. S. Patel, and L.  
E. Markowitz, “Prevalence of HPV infection  
among females in the United States.,” JAMA,  
vol. 297, no. 8, pp. 813 - 9, Feb. 2007.  
Cần bổ sung kết quả giải trình tự gen HPV  
để tìm ra những sự khác biệt các biến thể từ đó sẽ  
làm rõ hơn vai trò của HPV với ung thư cổ tử cung.  
7. T. Q. Vinh, C. N. Thanh. Study on  
Human papiloma vius infection in women with  
76  
TCNCYH 139 (3) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
precancerous lesions and cervical cancer,  
Journal of Practical Medicine, Ministry of Health,  
No. 718 - 719, tr, 229 - 240, 2010.  
smear” Report at the National Congres and the  
scientific conference of the Sixteenth Vietnam  
Association of Obstetríc and Gynecology, Ha  
Long City, pp. 103 - 110, 2009.  
8. L. T. H. Vu and H. T. T. Le, “Cervical Human  
Papilloma Virus Infection among the General  
Female Population in Vietnam : A Situation  
Analysis,” vol. 12, pp. 561 - 566, 2011.  
12. D. V. Khuong, “Research on histology,  
histology and some prognostic factors for  
cervical carcinoma”, Doctoral thesis of  
medicine, Hanoi, 2017.  
9. M. Cui, N. Chan, M. Liu, K. Thai, J.  
Malaczynska, I. Singh, D. Zhang, and F. Ye,  
“Clinical performance of roche Cobas 4800  
HPV test,” J. Clin. Microbiol., vol. 52, no. 6, pp.  
2210 - 2211, 2014.  
13. L.D.Tam, “Study on the prevalence  
of Humam papiloma virus infection of some  
related factors and treatment results of cervical  
lesions in women in Can Tho city”. Doctoral  
thesis. Hue University, University of Medicine  
and Pharmacy, 2015.  
10. E. Y. Ki, H. E. Kim, Y. J. Choi, J. S. Park,  
C. S. Kang, and A. Lee, “Comparison of the  
Cobas 4800 HPV test and the Seeplex HPV4A  
ACE with the hybrid capture 2 test,” Int. J. Med.  
Sci., vol. 10, no. 2, pp. 119 - 123, 2012.  
14. Aanchal Jain, Balasubramaniam  
Ganesh, Saurabh  
C Bobdey, Jignasa A  
Sathwara, and Sushma Saoba, “Sociological  
and clinical profile of cervical cancer patient  
visiting a tertiary care hospital in India”, 2017.  
11. P.V.Thanh, “The prevalence of HPV  
infection in people with an abnormal cervical  
Summary  
STUDY ON CLINICAL AND CLINICAL CHARACTERISTICS  
OF CERVICAL CANCER WITH HIGH RISK HPV TYPE  
Cervical cancer is the second most common cancer in women, second to stomach cancer.  
Cervical cancer is 99% positive for HPV, of which over 70% encounter HPV types 16 and 18.  
The study aims to identify genetic variants of HPV to clarify the role of HPV. This cross - sectional  
descriptive study was 104 patients diagnosed for cervical cancer, HPV - positive (Cobas Test  
4800): 51.9% were diagnosed with stage (0) cervical cancer; HPV type 16 infection accounts  
are highest at 55.8%, of which 41.4% have unusual symptoms such as profuse discharge or  
unusual vaginal bleeding. Squamous carcinoma accounts for 87.5%; With HPV 18 infection,  
89.8% are adenocarcinoma. Colposcopy found 80.8% abnormality. In conclusion, cervical cancer  
has poor symptoms and low early detection rate. For early detection, HPV test is required.  
Keywords: Cervical cancer, clinical, subclinical, high - risk HPV type.  
TCNCYH 139 (3) - 2021  
77  
pdf 7 trang yennguyen 18060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ung thư cổ tử cung với các type HPV nguy cơ cao", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_lam_sang_va_can_lam_sang_ung_thu_co_tu_c.pdf