Nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên khoa Tiểu học trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 165-169  
NÂNG CAO NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN KHOA TIỂU HỌC  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY  
NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC  
Nguyễn Thị Bích Thuận - Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây  
Ngày nhận bài: 22/4/2019; ngày chỉnh sửa: 02/5/2019; ngày duyệt đăng: 09/5/2019.  
Abstract: In the current period, before the requirements of educational innovation, the  
organization of pedagogical practice requires each student to be active, confident and independent  
to affirm his personal ability on the basis of what has been equipped in the college. The article  
mentions the current situation and propose some measures to improve pedagogical competency  
for Primary Education students at Ha Tay Teacher Training College.  
Keywords: Pedagogical competency, Primary Education, current situation, measure.  
sư phạm chuyển hướng từ dạy học thiên về chuyển tải,  
cung cấp kiến thức (học để biết) sang đào tạo người giáo  
viên có năng lực (học để làm). Theo đó, phương pháp  
dạy học ở các trường sư phạm được định hướng dạy học  
giúp hình thành và phát triển kiến thức, kĩ năng và NL  
sư phạm, hình thành phꢀm chất, nhân cách của SV theo  
nguyên lí hoạt động thông qua nghiên cứu và giải quyết  
các tình huống sư phạm, NL nghề của SV với cấu trúc  
hai nhóm lớn: NL chuyên ngành và NL sư phạm.  
1. Mở đầu  
Quá trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm là  
một quá trình tổ chức có kế hoạch, theo một mục đích  
nhất định, trong một thời gian liên tục và có hệ thống.  
Thực hành sư phạm là giai đoạn quan trọng nhằm kiểm  
tra sự chuꢀn bị về mặt lí luận và thực tiễn của sinh viên  
(SV), hình thành những kĩ năng quan trọng trong việc  
sáng tạo, giải quyết những nhiệm vụ của người giáo viên  
tương lai.  
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với những yêu cầu  
của đổi mới giáo dục, việc tổ chức thực hành sư phạm  
đòi hỏi mỗi SV phải năng động, tự tin và độc lập khẳng  
định năng lực (NL) cá nhân trên cơ sở những gì đã được  
trang bị trong nhà trường. Vậy, làm  
như thế nào để phát huy được những  
NL của bản thân, đồng thời, giúp SV  
trang bị những kĩ năng cơ bản để làm  
hành trang trong công tác giảng dạy là  
một yêu cầu quan trọng của quá trình  
đào tạo trong các trường sư phạm. Bài  
viết đề cập thực trạng và đề xuất một số  
biện pháp nâng cao NL sư phạm cho  
sinh viên Khoa Tiểu học, Trường Cao  
đẳng Sư phạm Hà Tây.  
NL sư phạm được cấu trúc thành năm nhóm: - NL dạy  
học; - NL giáo dục; - NL định hướng sự phát triển của HS;  
- NL phát triển cộng đồng; - NL phát triển cá nhân.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Mô hình năng lực nghề nghiệp  
của sinh viên sư phạm  
Mục tiêu đào tạo SV sư phạm  
trong các trường cao đẳng, đại học sư  
phạm là đào tạo đội ngũ giáo viên phổ  
thông tương lai đáp ứng yêu cầu đổi  
mới của chương trình dạy học phổ  
thông theo định hướng hiện đại và hội  
nhập quốc tế. Vì vậy, việc đào tạo SV  
165  
Email: thuan.vnu@gmail.com  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 165-169  
Trongcác NL sư phạmcủa người giáo viên, NL dạy học nhỏ từ 8 đến 10 người thực hành giảng dạy tại các phòng  
làmộttrongnhữngNLcơbản.NLdạyhọcthểhiện ởcácyếu tự học. SV tập giảng và quay lại các video bài giảng, sau  
tố: - Phân tích chương trình và học liệu; - Thiết kế kế hoạch đó ngồi lại cùng phân tích và nhận xét, đánh giá, qua đó  
dạy học; - Sử dụng thành thạocác phươngtiện dạy học; - Tổ rút kinh nghiệm cho mỗi giờ giảng của mình. Thông qua  
chứchiệuquảcáchoạtđộnghọctập;-Tổchức vàquảnlílớp những giờ tự học đó, NL sư phạm của SV cũng đã được  
học; - Tổchức đánh giá hiệu quả quá trình dạy học.  
nâng lên và cải thiện nhiều so với những buổi học đầu tiên  
khi các em tiếp cận với các học phần PPDH.  
NL dạy học được trang bị chủ yếu trong các học phần  
Giáo dục học, phương pháp dạy học (PPDH)các bộ môn.  
Các học phần này trang bị cho SV kiến thức, kĩ năng cơ  
bản của môn khoa học, đồng thời, trang bị các PPDH đặc  
thù cho từng bộ môn.  
2.2.2. Về nội dung các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư  
phạm (xem bảng 2)  
Bảng 2. Đánh giá của SV về nội dung các hoạt động  
RLNVSP  
2.2. Thực trạng hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư  
phạm cho sinh viên Khoa Tiểu học, Trường Cao đẳng  
Sư phạm Hà Tây  
Rất  
phù hợp  
Chưa  
phù hợp  
Mức độ  
Phù hợp  
Số lượng  
Tỉ lệ  
16  
70  
34  
Hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (RLNVSP)  
là một hoạt động quan trọng trong các trường sư phạm  
nói chung và Trường CĐSP Hà Tây nói riêng. Nhận thấy  
được vai trò và tầm quan trọng của những kĩ năng sư  
phạm, nhà trường luôn quan tâm đến các hoạt động  
RLNVSP cho SV thông qua các nội dung như: hội thi  
nghiệp vụ sư phạm; thực tập sư phạm; thực hành  
RLNVSP tích hợp các môn học.  
13,3%  
58,4%  
28,3%  
Về nội dung chương trình đào tạo: đã tập trung vào các  
nội dung về nghề dạy học cho SV, song, bên cạnh đó vẫn  
còn nhiều nội dung mang tính hàn lâm, lí thuyết, thiếu cập  
nhật đối với sự đổi mới của các trường tiểu học. Nhiều SV  
có đề xuất đưa thêm các nội dung về tâm lí HS, cách giải  
quyết các tình huống sư phạm, cập nhật các nội dung đổi  
mới trong dạy học hiện nay, các nội dung cần có tính thực  
hành và ứng dụng cao trong thực tiễn. Với sự thay đổi và  
phát triển liên tục của xã hội, những đổi mới trong giáo  
dục cần được thường xuyên cập nhật và trao đổi tại các giờ  
học hay các hoạt động RLNVSP. Chính những nội dung  
đó sẽ khiến SV tiếp cận gần hơn với thực tiễn giáo dục, rút  
ngắn khoảng cách từ quá trình đào tạo tới thực tiễn. Điều  
này giúp SV ngay sau khi ra trường có thể đáp ứng được  
yêu cầu của trường phổ thông.  
Hàng năm, Khoa Tiểu học Trường CĐSP Hà Tây tổ  
chức các hoạt động (HĐ) RLNVSP cho khoảng 600 SV  
của Khoa từ năm thứ nhất tới năm thứ ba với các HĐ  
khác nhau như: thực hành song song trong các môn học,  
tổ chức hội thi nghiệp vụ sư phạm, kiến tập sư phạm và  
thực tập sư phạm. Để nắm được thực trạng RLNVSP của  
SV Khoa Tiểu học, Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây,  
năm học 2018-2019, chúng tôi đã thực hiện khảo sát trên  
110 SV của Khoa từ năm thứ nhất tới năm thứ ba. Thông  
qua hình thức quan sát, phỏng vấn và phát phiếu điều tra,  
chúng tôi đã thu được kết quả như sau:  
2.2.3. Về phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt  
động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (xem bảng 3)  
2.2.1. Về nhận thức của sinh viên với vai trò của hoạt  
động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (xem bảng 1)  
Bảng 3. Các phương pháp được thực hành  
trong hoạt động RLNVSP  
Bảng 1. Nhận thức của SV với vai trò  
của hoạt động RLNVSP  
Thứ  
tự  
Các  
phương pháp  
Số lượng  
Tỉ lệ  
Rất  
cần thiết  
Không  
cần thiết  
Mức độ  
Cần thiết  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Thuyết trình  
103  
97  
54  
27  
74  
89  
92  
35  
8
93,7%  
88,2%  
48,2%  
24,5%  
67,3%  
80,9%  
83,6%  
31,8%  
7,2%  
Số lượng  
Tỉ lệ  
97  
13  
0
Vấn đáp  
88,2%  
11,8%  
0%  
Giải quyết vấn đề  
Tự học  
SV đã có nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của  
hoạt động RLNVSP đối với giảng viên (GV), đồng thời,  
SV cũng có ý thức tốt về việc rèn luyện các kĩ năng sư  
phạm. Thông qua quá trình giảng dạy trên lớp, chúng tôi  
cũng nhận thấy, phần lớn các SV đã có tinh thần và ý thức  
học tập, rèn luyện tốt. SV tích cực trong các HĐ rèn luyện  
thực hành sư phạm trên lớp cũng như tự thực hành luyện  
tập ngoài giờ lên lớp. Với ý thức và tinh thần tự học tập,  
rèn luyện ngoài giờ học, SV đã tập hợp thành các nhóm  
Làm việc nhóm  
Giảng giải, minh họa  
Trực quan  
Kiến tạo  
Phương pháp khác  
166  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 165-169  
Về phương pháp và cách thức tổ chức triển khai trunghọccơsởchỉchuyênsâuvàomộtmônhọcnhư:Toán,  
RLNVSP: vẫn nặng về lí thuyết, thời lượng thực hành Vật lí, Hóa học, Ngữ văn,… thì một giáo viên tiểu học cần  
còn hạn chế, SV còn thiếu tính chủ động, ít áp dụng các phải có các NL giảng dạy ở nhiều chuyên môn như: Toán,  
PPDH đổi mới như dạy học giải quyết vấn đề (48,2%), Tiếng Việt, Tự nhiên - Xã hội, Thủ công - Kĩ thuật... Do đó,  
dạy học kiến tạo (31,8%), dạy học tự học (24,5%). trongquátrìnhgiảngdạycácmônkhoahọccơbản,mỗiGV  
Phương pháp chủ yếu SV được học và thực hành là cần định hướng cho SV những nội dung khoa học cơ bản  
phương pháp thuyết trình (93,7%), phương pháp vấn đáp để giúp HS có thể liên hệ - kết nối với các kiến thức ở các  
(88,2%), phương pháp giảng giải, minh họa (80,9%). lớp tiểu học mà sau này SV sẽ giảng dạy.  
Mỗi PPDH đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định.  
Do đó, để phát huy hiệu quả của giờ dạy, mỗi GV cần áp  
dụng đa dạng và linh hoạt các PPDH, đặc biệt, cần phải  
được tăng cường thực hành giảng dạy những PPDH đặc  
thù như phương pháp trực quan, phương pháp gợi mở  
vấn đáp… Điều này sẽ giúp SV từ làm quen đến thành  
thạo các PPDH và áp dụng linh hoạt vào các bài dạy, các  
đối tượng khác nhau một cách phù hợp.  
Cụ thể, trong kế hoạch đào tạo các khóa 37, 38, 39  
của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây, SV Khoa Tiểu  
học cần học 5 học phần bắt buộc, 1 học phần tự chọn về  
môn Toán gồm các môn học: 1. Cơ sở lí thuyết tập hợp  
& logic Toán; 2. Các tập hợp số; 3. Xác suất thống kê; 4.  
PPDH toán; 5. Thực hành giải toán; 6. PPDH các chuyên  
đề nâng cao. Trong các học phầntrên, có 4 học phần cung  
cấp kiến thức, kĩ năng của khoa học chuyên ngành của  
môn Toán học nói chung và môn Toán tiểu học nói riêng;  
có hai học phần là học phần PPDH toán và PPDH các  
chuyên đề nâng cao là hai học phần tập trung vào phương  
pháp và các kĩ thuật dạy học môn Toán cho SV.  
Trong quá trình giảng dạy học phần cơ sở lí thuyết tập  
hợp và logic toán, GV cần giúp SV hiểu ý nghĩa của môn  
học và liên hệ nội dung học tập trong môn học với kiến  
thức giảng dạy của giáo viên tiểu học sau này. Ví dụ, trong  
học phần có một chủ đề là Tập hợp và các phép toán trên  
tập hợp. Khi tìm hiểu nội dung trên, GV có thể liên hệ tới  
nội dung khi giáo viên tiểu học dạy HS có nội dung đó là  
tiếpcận với khái niệmcác số 1, 2, 3... Đó chínhlà quá trình  
HS xác định bản số của một tập hợp. Còn khi HS cộng hai  
số tự nhiên đó chính là xác định bản số của hợp hai tập  
hợp. Đương nhiên, khi dạy HS tiểu học, giáo viên sẽ  
khôngnói với cácemcác ngôn ngữchuyênngànhnhưbản  
số, tập hợp, hợp của hai tập hợp... nhưng SV vẫn cần hiểu  
nội dung mình giảng dạy có cơ sở khoa học như vậy.  
Với học phần mang tính đặc thù về toán học như học  
phần Xác suất thống kê, GV cần kết hợp các kiến thức kĩ  
năng đặc thù của môn Toán với các kiến thức thực tiễn. Có  
thể GV sẽ lấy các tình huống, các ví dụ thực tiễn và yêu cầu  
SV sử dụng các kiến thức của môn học để giải quyết. Đồng  
thời, với HS tiểu học cũng có mạch kiến thức về Thống kê,  
GV cần giúp SV nhận thấy sự liên hệ giữa nội dung học tập  
của SV và nội dung giảng dạy cho HS tiểu học.  
Khi giảng dạy các nội dung khoa học cơ bản, GV liên  
hệ với các nội dung trong toán tiểu học sẽ giúp SV nhận  
thấy ý nghĩa của học phần mà mình đang học tập, từ đó,  
nâng cao hứng thú và hiệu quả học tập.  
Bảng 4. Mức độ tìm hiểu về các PPDH  
đổi mới tại trường tiểu học  
Rất thường  
xuyên  
15  
Thường  
xuyên  
50  
Đôi khi  
Số lượng  
Tỉ lệ  
45  
40.9%  
13,6%  
45.5%  
Trong quá trình giảng dạy, SV cũng đã tiếp xúc với  
những yêu cầu và những đổi mới của giáo dục phổ thông.  
Ngoài giờ học chính khóa, SV trong Khoa cũng có những  
hoạt động sinh hoạt chuyên đề giúp SV tiếp cận và cập  
nhật những đổi mới trong giáo dục phổ thông. Điều này  
giúp SV có những hành trang cơ bản về thực tiễn giáo dục  
phổthông, khôngcònbỡ ngỡ và đứng ngoài côngcuộc đổi  
mới của giáo dục. Vấn đề này luôn được SV trong khoa  
hiểurõ, bởi SVcũngýthứcđượcrằng, ngườitrựctiếpthực  
hiện công tác đổi mới trong tương lai của giáo dục chính  
là SV sư phạm - những thầy, cô giáo trong tương lai.  
Qua thực trạng điều tra về hoạt động RLNVSP của SV  
Khoa Tiểu học, Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây, tác giả  
nhận thấy, SV phần lớn đã có ý thức về việc rèn luyện nâng  
cao NL sư phạm của bản thân. Ngoài thời gian học, SV đã  
chủđộngrènluyệnvàthựchànhnhằmnângcaoNLsưphạm  
củabảnthân.Songbêncạnhđó,cũngcòncónhữngSVchưa  
thực sự quan tâm các hoạt động RLNVSP, chưa chủ động  
tìm hiểu những đổi mới trong giáo dục phổ thông hiện nay.  
ĐiềunàykhiếnchoSVgặpphảinhữngkhókhăn,vướngmắc  
trong quá trình giảng dạytại các trường phổthông.  
2.3. Một số biện pháp nâng cao năng lực sư phạm cho  
sinh viên Khoa Tiểu học, Trường Cao đẳng Sư phạm  
Hà Tây  
2.3.2. Vận dụng phù hợp các phương pháp và hình thức  
tổ chức dạy học  
2.3.1. Giảng dạy các học phần cơ bản có liên hệ chặt chẽ  
với các học phần phương pháp dạy học  
Đặc thù của giáo viên tiểu học khác biệt với các giáo  
PPDH của mỗi học phần có những đặc thù riêng. Để  
viên trung học cơ sở ở số môn mà giáo viên tiểu học cần giúp SV hiểu và thực hành thành thạo được các PPDH,  
phảiphụtráchgiảngdạyvớicáclớphọc. Nếumột giáoviên trong mỗi giờ dạy, GV cần minh họa cho SV các hình  
167  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 165-169  
thức tổ chức dạy học một cách cụ thể. Trong quá trình  
Kiểm tra, đánh giá là một yếu tố quan trọng trong quá  
giảng dạy, GV cần phối hợp đa dạng các hình thức tổ trìnhđàotạo,bởihìnhthứckiểmtra,đánhgiácóvaitròđịnh  
chức dạy học nhằm giúp SV hiểu rõ và vận dụng linh hướng cách học của người học. Nếu các hình thức kiểm tra,  
hoạt các hình thức tổ chức dạy học trong các giờ học.  
đánh giá chỉ có yêu cầu tái hiện kiến thức, người học cũng  
chỉ học để tái hiện lại, nhắc lại những kiến thức đã có. Nếu  
cáchìnhthứckiểmtra,đánhgiáyêucầungườihọcphảihiểu  
rõ kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tế thì người học  
sẽ tìm cách tiếp cận tri thức theo cách đánh giá đó. Do vậy,  
cầnđiềuchỉnhcáchkiểmtra,đánhgiá,địnhhướngquátrình  
vận dụng kiến thức vào thực tiễn của người học.  
Học phần PPDH toán tiểu học trang bị cho SV những  
kiến thức cơ bản về: - Mục tiêu, chương trình môn Toán ở  
tiểu học; - Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học;  
- Đánh giá kết quả học tập trong dạy học toán ở tiểu học;  
-Lậpkếhoạchdạyhọcvàdạyhọccácnộidungkiếnthứctoán  
và rènkĩ năngdạyhọcmônToán ởtiểuhọc. Để giúpSVhiểu  
rõ về các PPDH, GV có thể vận dụng chính những PPDH đó  
vào quá trình giảng dạy của bản thân, thông qua đócũng giúp  
SV nhận thấy mặt tích cực và mặt hạn chế của mỗi phương  
pháp.Từđó,cóthểvậndụngcácPPDHmộtcáchchủđộngvà  
phốihợpđượccácPPDHtrongmộtbàidạyhiệuquả.  
Ví dụ, trong nội dung chương 2 của học phần PPDH  
toán, SV được tìm hiểu về các PPDH thường dùng trong  
dạy học toán tiểu học, trong đó, có các phương pháp: trực  
quan, gợi mởvấnđáp, thực hànhluyệntập, giảnggiải,minh  
họa. GV có thể chia lớp thành các nhóm và yêu cầu SV vận  
dụng các PPDH trên trong một giờ dạy ở môn Toán tiểu  
học. GVvà SVcóthểcùngphântíchtìmranhữngưuđiểm,  
hạnchế củamỗiphươngphápvànhữngdạngbàidạycóthể  
áp dụng đa dạng PPDH phù hợp với các dạng bài dạy.  
Trong quá trình giảng dạy các học phần toán, GV có  
thể đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá kiến  
thức của SV, từ đó, khuyến khích SV tích cực và chủ  
động hơn trong học tập. Hình thức kiểm tra, đánh giá có  
thể thông qua các bài tập lớn, bài tập nhóm, bài tập cá  
nhân. GV tổ chức các buổi seminar, trong đó, SV báo cáo  
sản phꢀm tiểu luận, trình bày một dạng toán điển hình ở  
tiểu học, một tiết giảng minh họa một PPDH hoặc hình  
thức tổ chức dạy học mới... Thông qua những hoạt động  
đó, SV có thể phát huy NL của bản thân, đồng thời, rèn  
luyện khả năng thuyết trình của người học.  
Trong môn PPDH toán, GV cần yêu cầu SV chuꢀn bị  
hồ sơ môn học, trong đó sẽ là tập hợp các sản phꢀm từ  
các chủ đề, các chương, các kế hoạch bài giảng của các  
dạng bài điển hình. Đồng thời, hình thức kiểm tra, đánh  
giá với các môn PPDH toán nên sử dụng là hình thức thi  
vấn đáp - thực hành. Thông qua quá trình SV thực hành,  
GV sẽ phát hiện và điều chỉnh những thiếu sót cho SV,  
đồng thời, SV cũng phải chuꢀn bị một cách chu đáo và  
nghiêm túc hơn với bài dạy.  
2.3.3. Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quá trình  
dạy học  
Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, công nghệ  
thông tin đã được sử dụng thường xuyên trong công tác  
giảng dạy tại các trường tiểu học. Một bộ phận SV trong  
Khoa có thể tiếp cận và sử dụng các công nghệ một cách  
nhanh chóng, song cơ hội để vận dụng trong học tập cũng  
như giảng dạy chưa nhiều. Do đó, để tạo điều kiện cho  
SV có cơ hội vận dụng được công nghệ trong giảng dạy,  
GV có thể giao nhiệm vụ, trong đó, đòi hỏi SV vận dụng  
công nghệ để hoàn thành các nhiệm vụ. GV có thể yêu  
cầu SV thiết kế các bài giảng và thực hành giảng dạy kết  
hợp với các phần mềm như PowerPoint hoặc Violet hoặc  
ActivInspire... Đồng thời, thông qua các phần thực hành  
giảng của SV, GV có thể điều chỉnh để giúp SV kết hợp  
giữa bài giảng và công nghệ trong dạy học.  
Hơn nữa, từ năm học 2016-2017, Trường Cao đẳng  
Sư phạm Hà Tây đang trang bị những phòng học chất  
lượng cao với các trang thiết bị hiện đại. Với các tiết học  
về PPDH, GV có thể linh hoạt sử dụng trang thiết bị hiện  
đại trong quá trình giảng dạy, đồng thời, hướng dẫn SV  
sử dụng và thực hành sử dụng các trang thiết bị trong  
phòng, qua đó, trang bị cho các SV kĩ năng tương tác và  
khai thác tốt các thiết bị hiện đại phục vụ trong quá trình  
giảng dạy; giúp SV tự tin hơn trong quá trình thực hành  
sư phạm cũng như quá trình công tác của bản thân.  
2.3.5. Cần có sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường sư  
phạm với trường thực hành sư phạm  
Trường sư phạm cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ,  
khăng khít với các trường phổ thông nhằm tạo điều kiện  
thuậnlợichoSVđếncáctrườngthựchành,kiếntập,thường  
xuyêntiếpxúcvớicáccôngviệc của giáoviênởtrườngphổ  
thông và tiếp xúc với HS. Hiệu quả đào tạo ở các trường sư  
phạm sẽ cao hơn nhiều nếu các trường sư phạm xây dựng  
được hệ thống các trường thực hành. Các trường sư phạm  
cócơhộimởrộngthêmthựctếởcácđịaphươngđểbổsung  
vàoquátrìnhđàotạovềlíthuyếtnghiệpvụsưphạm,sosánh  
kết quả việc thực hiện các nội dung đã giảng dạy ở các  
trường khác nhau so với yêu cầu đã đề ra. Các trường thực  
hành sư phạm điều chỉnh lại các hoạt động giảng dạy, sinh  
hoạt của mình theo đúng quy định; cần có thêm lực lượng  
SV hỗ trợ các hoạt động phong trào của trường; tạo điều  
kiện tiếp cận nhanh và vận dụng các nghiên cứu sư phạm  
của các trường sư phạm vào hoạt động giảng dạy; cung cấp  
các thông tin hướng nghiệp cho HS phổ thông.  
Trường thực hành sư phạm cũng phải có trách nhiệm  
phối hợp chặt chẽ với trường sư phạm tổ chức, hướng dẫn,  
2.3.4. Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá  
168  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 165-169  
nhậnxét,đánhgiá,rútkinhnghiệmcáchoạtđộngthựchành [9] Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây (2018). Kế  
của SV. Đánh giá giữa thực tế giảng dạy của trường phổ  
thông(nơiSVthựctập)vàchuyênmôncủatrườngsưphạm  
sẽtạoracáchđánhgiákháchquanvàhiệuquảchoquátrình  
thực tập của SV sư phạm tại các trường phổ thông.  
Hiện nay, Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây đang xây  
dựng hệ thống trường thực hành liên cấp “Trường Tiểu học  
và Trung học cơ sở Thăng Long” trực thuộc Trường Cao  
hoạch đào tạo ngành cao đẳng sư phạm Giáo dục  
Tiểu học.  
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA..  
(Tiếp theo trang 207)  
đẳng Sư phạm Hà Tây - ngôi trường với sự tâm huyết của 3. Kết luận  
cácGVsưphạm,nhằmtạoramộtmôitrườngsưphạmgiúp  
mỗi HS phát huy tối đa tiềm năng của bản thân mình. Đó  
cũng là cơ hội giúp SV rèn luyện kĩ năng sư phạm của bản  
thân trong môi trường thực tế.  
HĐNK được tiến hành ngoài giờ học nhưng nội dung và  
chủ đề phải bám sát với bài nội khóa. Do đó, GV phải đảm  
bảocôngtácngoạikhóavẫncótácdụngbồidưỡngkiếnthức,  
giáo dục và phát triển HS. Khi tổ chức HĐNK, GV nên biết  
phát huy năng khiếu, sở trường của HS, tạo điều kiện để  
nhữngcátính, phꢀmchất, ýthức, khuynhhướngđược bộclộ  
rõ rệt. Thực tế cho thấy, HĐNK trong DHLS cần có sự giúp  
đỡcủa xã hội, gia đình, nhà trường. Vì vậy, tùyđiều kiệncủa  
nhà trường, GV nên tăng cường tổ chức HĐNK để hỗ trợ  
đắclựcchohoạtđộnghọctậpcủaHStrongnhàtrường,từđó  
sẽ góp phần nângcao chất lượng DHLSở trườngphổthông.  
3. Kết luận  
NL sư phạm là NL thiết yếu của mỗi GV, NL sư phạm  
được tích lũy và phát triển trong nhà trường là yếu tố căn  
bảngiúpmỗi SVratrườngcóthểtựtintrongcôngtácgiảng  
dạy. Đứngtrước tháchthức củađổi mới giáodục, đặt ra yêu  
cầu cho mỗi SV không ngừng rèn luyện bản thân nhằm đáp  
ứng yêu cầu về người giáo viên trong giai đoạn mới.  
Để có được kết quả đó, trường sư phạm - nơi đào tạo  
giáo viên phổ thông tương lai cầncó những giải pháp hữu  
hiệu kết nối chương trình đào tạo tương hợp với những  
yêu cầu đầu ra của SV là dạy học nội dung giáo dục phổ  
thông được thể hiện qua chương trình và sách giáo khoa  
cấp học, bậc học phổ thông. Theo tinh thần đó, Trường  
Cao đẳng Sư phạm Hà Tây đang có những đổi mới theo  
bước đi và lộ trình thích hợp, góp phần nâng cao NL sư  
phạm cho SV trong thời gian tới và trong tương lai.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số  
29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản toàn  
diệngiáodụcvàđàotạo, đápứngyêucầucôngnghiệp  
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.  
[2] Hoàng Phê (chủ biên) - Hoàng Thị Tuyền Linh - Vũ  
Xuân Lương - Phạm Thị Thủy - Đào Thị Minh Thu  
- Đặng Thanh Hòa (2007). Từ điển tiếng Việt. NXB  
Đà Nẵng.  
[3] Phan Ngọc Liên (chủ biên) - Nguyễn Thị Côi - Trịnh  
Đình Tùng (2009). Phương pháp dạy học lịch sử,  
tập II. NXB Đại học Sư phạm.  
[4] Lê Thị Thu Hương (2018). Một số biện pháp tạo  
hứng thú học tập lịch sử cho học sinh theo hướng  
nâng cao hiệu quả bài học ở trường phổ thông. Tạp  
chí Giáo dục, số đặc biệt, kì 1 tháng 5, tr 181-184.  
[5] Nguyễn Thị Côi (2008). Các con đường, biện pháp  
nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ  
thông. NXB Đại học Sư phạm.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Quốc hội. Luật Giáo dục (2009). NXB Chính trị  
Quốc gia - Sự thật.  
[2] Ban Chấp hành Trung ương. Nghị quyết số  
29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn  
diệngiáodụcvàđàotạo, đápứngyêucầucôngnghiệp  
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.  
[3] Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức (2013). Lí luận dạy học  
đại học. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[4] Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1987). Giáo dục học  
(tập 1, tập 2). NXB Đại học Sư phạm.  
[6] Kiều Thế Hưng (1999). Hệ thống thao tác sư phạm  
trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông.  
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[7] Vũ Ánh Tuyết (2017). Rèn luyện kĩ năng thực hành  
ngoại khóa môn Lịch sử cho học sinh trung học phổ  
thông. Tạp chí Giáo dục, số 403, tr 30-32.  
[8] Nguyễn Thu Nga (2012). Hướng dẫn học sinh trung  
học phổ thông làm bài tập thực hành ngoại khóa  
môn Lịch sử qua khai thác tài liệu trên Internet. Tạp  
chí Giáo dục, số 299, tr 50-52.  
[5] Nguyễn Hữu Châu (2005). Những vấn đề cơ bản về  
chương trình và quá trình dạy học. NXB Giáo dục.  
[6] Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier (2014). Lí luận  
dạy học hiện đại - Một số vấn đề về đổi mới phương  
pháp dạy học. NXB Đại học Sư phạm.  
[7] Phạm Trung Thanh (2005). Rèn luyện nghiệp vụ sư  
phạm thường xuyên. NXB Đại học Sư phạm.  
[8] Nguyễn Văn Đệ - Vũ Văn Đức (2012). Bàn về mô  
hình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm ở các trường đào  
tạo giáo viên. Tạp chí Giáo dục, số 79, tr 42-43.  
169  
pdf 5 trang yennguyen 11180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên khoa Tiểu học trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_nang_luc_su_pham_cho_sinh_vien_khoa_tieu_hoc_truong.pdf