Giáo dục phòng, chống bắt nạt học đường cho học sinh các trường Trung học cơ sở

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 115-120  
GIÁO DỤC PHꢀNG, CHỐNG BꢁT NẠT HỌC ĐƯỜNG  
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ  
Nguyễn Thanh Huyền - Trường Trung học cơ sở Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội  
Ngày nhận bài: 20/4/2019; ngày chỉnh sửa: 27/4/2019; ngày duyệt đăng: 15/5 /2019.  
Abstract: The article mentione some theoretical issues about school bullying, education to prevent  
school bullying, on that basis, we propose measures to educate school bullying prevention for  
secondary school students. These measures are based on a combination of education between the  
school and the community.  
Keywords: School violence, school bullying, students, secondary school.  
Theo chúng tôi, có thể hiểu khái niệm BNHĐ như  
1. Mở đầu  
Hiện nay, hiện tượng bạo lực học đường (BLHĐ) ở sau: BNHĐ là hành vi của một hay một nhóm cậy thế,  
nước ta ngày càng gia tăng về số vụ và có nhiều diễn biến cậy quyền dọa dẫm có tính chất thường xuyên tại trường  
phức tạp, trong đó, bắt nạt học đường (BNHĐ) là một học làm tổn thương thể xác, tinh thần cho một hay nhiều  
trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển người khác. Bắt nạt ở học đường hiện nay là một số HS  
tâm lí, thể chất của học sinh (HS) kể cả HS bắt nạt và bị lớn bắt nạt HS bé hoặc một số HS cùng trang lứa bắt nạt  
bắt nạt, ảnh hưởng không nhỏ đến gia đình, nhà trường nhau. Bắt nạt xảy ra trong môi GD là những hình thức  
và xã hội, đặc biệt là hoạt động giáo dục (GD) trong các phổ biến nhất của BLHĐ hiện nay, làm ảnh hưởng đến  
trường phổ thông. Thực tế này đặt ra các cho nhà trường, nhân cách và mục tiêu GD của nhà trường, để lại những  
cộng đồng một trách nhiệm lớn là phải quan tâm đến việc hậu quả tâm lí nghiêm trọng cho bản thân HS và gia đình  
GD giữ gìn kỉ cương trong trường học, kịp thời uốn nắn nếu không có giải pháp ngăn chặn kịp thời.  
những hành vi sai trái của HS, hình thành ở HS thái độ  
yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ nhau. Vì vậy, việc nghiên  
cứu nhằm tìm ra các biện pháp phòng, chống BNHĐ cho  
HS là vấn đề cấp thiết cần được quan tâm.  
Bài viết đề cập một số vấn đề lí luận về BNHĐ, GD  
phòngchốngtìnhtrạngBNHĐ,trêncơsởđóđềxuấtcácbiện  
phápGD phòng, chốngBNHĐchoHScáctrường trunghọc  
cơ sở dựa trên sự phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng  
nhằmgópphầngiảmtỉlệtrẻembị bắtnạttạicáctrườnghọc.  
2.2. Nguyên nhân của bắt nạt học đường  
BNHĐ do nhiều nguyên nhân như: các yếu tố về gia  
đình như sự thiếu trách nhiệm từ cha mẹ, phương thức  
GD hà khắc của gia đình; bầu không khí tâm lí gia đình  
không thuận lợi (quan hệ cha mẹ không êm ấm, bầu  
không khi tâm lí không vui vẻ, ấm cúng, cha mẹ thiếu sự  
quan tâm, quản lí con chặt chẽ) gây ảnh hưởng xấu đến  
tâm lí, tình cảm của trẻ dẫn đến những hành vi lệch chuꢀn  
[3]; sự bất lực trong việc giải quyết các tình huống xảy ra  
trong quá trình học tập ở nhà trường, thiếu sự đồng cảm  
từ các thầy cô, bạn bè, ảnh hưởng của phim ảnh trên  
Internet, mạng xã hội, những bức xúc từ môi trường  
sống. Thái độ thờ ơ, vô cảm ngày càng trở nên phổ biến  
trong xã hội hiện đại và đang trở thành vấn đề khiến  
nhiều người quan tâm, trăn trở. Đây chính là nguyên  
nhân khiến tình trạng BNHĐ ngày càng gia tăng [4].  
Thực tế cho thấy, những HS đã từng bị bắt nạt có nhiều  
nguy cơ dẫn đến tâm lí đi bắt nạt HS khác. Do đó, việc  
GD phòng chống BNHĐ cho HS là nhằm tạo dựng một  
môi trường GD trong lành, xây dựng nếp sống văn hóa  
học đường, văn hóa trong đời sống xã hội.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Khái niệm “bắt nạt học đường”  
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bắt nạt là cậy thế cậy  
quyền dọa dẫm để làm cho phải sợ” [1; tr 74]. Như vậy,  
bắt nạt là một hình thức của gây hấn thể hiện bằng việc  
sử dụng sử dụng vũ lực nhằm cưỡng ép bắt người khác  
thực hiện theo ý của mình. Hình thức thể hiện bao  
gồm bằng sự quấy rối bằng lời nói, thư từ, tin nhắn; hành  
động có tính hành hung hoặc cưỡng ép về thể chất, tinh  
thần. Bắt nạt có thể thường xuyên đối với những nạn  
nhân nhất định, vì lí nào đó hay bởi thể hiện năng lực cá  
nhân trước nạn nhân. Hành vị bắt nạt bao gồm ba loại cơ  
bản: ngược đãi về tâmlí, ngược đãi bằng lời nói và ngược  
HS trung học cơ sở là lứa tuổi đang chuꢀn bị trưởng  
đãi về thể chất. Theo Dan Olweus “Bắt nạt trong trường thành, chưa định hình về tính cách nên dễ bị chi phối và  
học được xem như một hành vi tiêu cực được lặp đi lặp tác động rất nhiều bởi yếu tố bên ngoài nhà trường, xã  
lại, có ý định xấu của một người hay một nhóm người hội như môi trường văn hóa thiếu lành mạnh, trò chơi  
nhằm trực tiếp chống lại một hay nhóm người có khó bạo lực và những mặt trái của Internet... Mặt khác, những  
khăn trong việc tự bảo vệ bản thân” [2].  
thay đổi về tâm - sinh lí khiến các em xuất hiện nhu cầu  
115  
Email: nguyenthanhhuyennc@gmail.com  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 115-120  
muốn thể hiện bản thân một cách độc lập; muốn tự hoạt đập con em, tạo thêm áp lực cho con cái họ... Gia đình có  
động, tự đưa ra các quyết định theo nhận thức của bản con là nạn nhân cũng lo lắng về sự an toàn của các em  
thân. Chính những khó khăn, trở ngại của sự phát triển trong thời gian học tập sau này. Như vậy, cuộc sống của  
tâm - sinh lí, sự thiếu kinh nghiệm sống và đặc biệt là các gia đình có con trong vụ BNHĐ đều bị xáo trộn, ảnh  
thiếu hiểu biết về pháp luật đã ảnh hưởng không nhỏ tới hưởng nhất định đến sức khỏe, tâm lí; phát sinh mâu  
hành vi của các em dẫn đến việc các em hành động bột thuẫn giữa người lớn, thậm chí đến mức độ xung đột.  
phát để thỏa mãn nhu cầu của mình mà không có sự nhìn Nhiều vụ BNHĐ khiến các gia đình phải mất thời gian,  
nhận, suy xét kĩ lưỡng, chưa phân biệt được tốt, xấu. Khi kinh tế để khắc phục hậu quả, một số vụ còn ảnh hưởng  
gia đình, nhà trường thiếu sự quantâm, chưa kịp uốn nắn, đến sinh mạng HS khác, gây nên những mất mát lớn đối  
định hướng thì các em dễ sa vào con đường phạm pháp, với các gia đình. Ngay cả những gia đình khác có con  
bắt nạt lẫn nhau trong thời gian học tập ở nhà trường.  
2.3. Hậu quả của bắt nạt học đường  
2.3.1. Đối với xã hội  
học tại trường có tình trạng BNHĐ xảy ra thường xuyên  
cũng không yên tâm về việc học tập, đi lại của con; có  
gia đình phải cắt cử người lớn đưa, đón con đi học, làm  
mất thời gian, tăng thêm chi phí không đáng có.  
BNHĐ không những chỉ xảy ra trong trường học mà  
phần lớn còn xảy ra ở bên ngoài khuôn viên nhà trường,  
làm mất trật tự trong trường, lớp và ngoài xã hội, gây nên  
sự hoảng loạn trong HS, tạo ra sự lo ngại cho gia đình,  
xã hội, ảnh hưởng xấu đến môi trường GD lành mạnh,  
nghiêm túc của nhà trường. BNHĐ cũng làm xấu đi  
truyền thống đạo đức xã hội, tình cảm con người, góp  
phần làm suy thoái văn hóa, đạo đức của dân tộc. BNHĐ  
đang là hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội về BLHĐ,  
về sự “lệch hướng” của một số ít HS đang đứng trước sự  
chao đảo về nhân cách, về phát triển tương lai của mình.  
2.3.4. Đối với học sinh  
- Đối với HS là nạn nhân: + Về thể chất, các em có  
thể bị chấn thương, đau đớn, thậm chí có thể bị thương  
tật, nguy hiểm đến tính mạng; + Về tinh thần: Các em  
luôn ở trong trạng thái lo lắng, mất tự tin khi đến trường,  
lo sợ bạo lực tái diễn; nhiều em trở nên lầm lì, ít nói, ăn  
ngủ bất thường, cơ thể bị suy nhược. Một số trường hợp  
trở nên trầm cảm, có khi tìm đến cái chết để giải thoát  
cho mình; + Về học tập: do tâm lí luôn lo sợ nên các em  
không thể tập trung học tập dẫn đến kết quả sa sút, có  
trường hợp thường xuyên bỏ tiết, bỏ buổi, có em bỏ học  
vĩnh viễn.  
Tính chất của các vụ BNHĐ cũng phức tạp, hình thức  
đa dạng, cũng có thể là những hành vi đánh nhau mang  
tính “hội đồng” hoặc có sự tham gia của người lớn là  
người thân của HS…, gây ra sự mất trật tự địa phương,  
an toàn xã hội [4]. Có những vụ BNHĐ đã trở thành  
BLHĐ, làmcho môi trường xã hội mất đi tínhlành mạnh,  
phải có sự can thiệp của các cơ quan pháp luật. Nếu  
không xử lí kịp thời, tâm lí lo sợ, bất an của HS, giáo viên  
(GV), cha mẹ HS ngày càng sâu rộng, hành vi BNHĐ sẽ  
ảnh hưởng ngày càng mạnh, có tác động đến đời sống,  
văn hóa xã hội của cả nước.  
- Đối với HS là thủ phạm: Khi chưa bắt nạt được bạn  
học, các em luôn có suy nghĩ tìm cơ hội và sẵn sàng tấn  
công bạn, hung hăng, tức tưởi, tìm mưu tính kế thực hiện,  
vì vậy không có tâm trí và thời gian dành cho học tập.  
Sau khi gây ra vụ việc¸ nếu hậu quả nghiêm trọng, các  
em sẽ rất sợ hãi, lo lắng, có nhiều em đã tìm đến giải thoát  
tiêu cực cho mình hoặc trở thành công dân không tốt  
trong tương lai, phần tử nguy hiểm của xã hội; như vậy,  
vô tình các em đã hủy hoại tương lai của chính mình. Kẻ  
gây ra bạo lực bị xã hội lên án, mọi người xa lánh, ghét  
bỏ sẽ hung bạo hơn và có thể trở thành tội phạm sau này.  
Có thể nói, BLHĐ là mầm mống của tội phạm, làm tha  
hóa lương tâm, đạo đức của con người, gây nguy hại cho  
xã hội; làm mất định hướng phát triển nhân cách, làm xấu  
đi hình ảnh của người HS trong môi trường GD nước ta.  
2.3.2. Đối với nhà trường  
BNHĐ là hiện tượng nhức nhối làm mất uy tín, danh  
dự của nhà trường, của thầy cô giáo, làm mất đi sự trong  
sạch của môi trường GD, mất lòng tin của nhân dân, làm  
cho chất lượng GD của nhà trường bị giảm sút. Khi có  
vụ BNHĐ xảy ra, nhà trường trở nên thiếu an toàn, HS  
hoang mang, dao động, không khí trong trường học trở  
nên nặng nề, lo lắng, hoạt động học tập của HS suy giảm  
dẫn đến dư luận xã hội đánh giá thấp về chất lượng GD  
của nhà trường, ảnh hưởng đến kết quả phấn đấu thi đua  
của tập thể cán bộ, GV trong nhiều năm của nhà trường.  
- Đối với những HS xung quanh: Những em chứng  
kiến sự bạo lực hoặc được biết vụ việc có thể bị ảnh  
hưởng tiêu cực; một số em có tâm lí lo sợ khi đi học, nghi  
ngờ bạn bè, kết quả học tập bị giảm sút. Do sợ hãi, nhiều  
HS của vụ BNHĐ chỉ đứng ngoài theo dõi mà không  
dám vào can thiệp, phân giải, dần có thể trở nên vô cảm  
trước những nỗi đau của bạn bè. Một số em khi thấy  
2.3.3. Đối với gia đình  
Cha mẹ có con cái tham gia hành vi BNHĐ luôn bất những kẻ gây ra bạo lực không bị trừng trị, xử lí thì hùa  
an về con mình khi học tập tại nhà trường. Gia đình có theo, a dua, lâu dần có thể trở thành kẻ tham gia bạo lực.  
con gây gổ, đánh bạn thường trách mắng, mạt sát, đánh Như vậy, tình trạng BNHĐ xảy ra thường xuyên, kể cả  
116  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 115-120  
nạn nhân, thủ phạm và những người xung quanh đều phải đề trong thực tiễn và thực hiện được những hành vi tích  
nhận hậu quả không tốt về tinh thần và tổn thương về thể cực trong cuộc sống...; + Với những tri thức về kĩ năng  
chất của những HS tham gia bạo lực, mặc dù ở các mức được GD ở nhà trường, mỗi HS sẽ hình thành và phát  
độ nào.  
triển thành kĩ xảo và thói quen tích cực.  
BNHĐ không chỉ ảnh hưởng xấu đến các em HS mà  
2.4.2. Nội dung giáo dục  
còn ảnh hưởng xấu đến môi trường GD của nhà trường;  
làm cho nhà trường trở nên mất an toàn, chất lượng hoạt  
động GD suy giảm, mất lòng tin của nhân dân.  
Tổ chức các hoạt động GD phù hợp, cần thiết, hiệu  
quả nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản cần thiết  
nhất, giúp cho HS có khả năng nhận diện đúng các hiện  
tượng và phân biệt được các biểu hiện khác nhau biểu  
hiện của BNHĐ, từ đó nâng cao nhận thức về trách  
nhiệm của các em về BNHĐ, hành vi BNHĐ. Thực hiện  
có tốt các nội dung GD nhằm rèn luyện và phát triển các  
kĩ năng phòng chống BNHĐ, đó là:  
2.4. Giáo dục phòng, chống bắt nạt học đường cho học  
sinh các trường trung học cơ sở dựa vào cộng đồng  
2.4.1. Mục tiêu giáo dục  
GD phòng, chống BNHĐ nhằm GD cho HS những  
kiến thức về đạo đức, thái độ, hành vi bắt nạt trong các  
trường học, từ đó có ý thức và hành động đề phòng, tránh  
tệ nạn BNHĐ.  
- GD nhằm nâng cao nhận thức về trách nhiệm của  
các em về BNHĐ, về hành vi BNHĐ. GD các em có ý  
thức đoàn kết yêu thương, giúp đỡ nhau cùng tiến trong  
nhà trường trang bị cho HS những hiểu biết về giá trị đạo  
đức, thuần phong mĩ tục, về lòng nhân ái, bao dung, tình  
đoàn kết, ý chí phấn đấu trong học tập. Kết hợp với việc  
tiếp thu các nội dung về văn hóa, quá trình dạy học cũng  
trang bị cho các em hiểu biết các chủ trương, phương  
pháp phòng chống mọi tệ nạn xã hội nói chung, nạn  
BNHĐ nói riêng phù hợp với trình độ, hoàn cảnh, đặc  
điểm gia đình của HS và điều kiện của địa phương.  
- Trang bị về kiến thức:  
Trang bị cho HS những tri thức về đạo đức truyền  
thống tốt đẹp của dân tộc, những nguyên tắc, hành vi ứng  
xử chuꢀn mực được xã hội thừa nhận và phù hợp với độ  
tuổi HS trung học cơ sở làm cơ sở quan trọng trong việc  
hình thành niềm tin, chuꢀn mực đạo đức cho HS. Thông  
qua GD, các em có thể nhận diện được BNHĐ, phân biệt  
được các biểu hiện khác nhau của hành vi BNHĐ;  
nguyên nhân và hậu quả của BNHĐ; + Đánh giá, phân  
tích được các tình huống dẫn đến nguy cơ xảy ra BNHĐ;  
+ Biết và đánh giá những nguyên nhân, hậu quả do  
BNHĐ gây ra, từ đó có kĩ năng phòng tránh BNHĐ cho  
bản thân và bạn bè…  
- GD kĩ năng nhận diện các biểu hiện BNHĐ cung cấp  
những kiến thức cơ bản cần thiết nhất, giúp cho HS có khả  
năng nhận diện đúng các hiện tượng, phân biệt được các  
biểu hiện khác nhau biểu hiện của BNHĐ, coi BNHĐ là  
những việclàmlà saitráitráivớiđạođứcởcác mứcđộkhác  
nhau như quát mắng, dọa nạt đến xâm phạm thân thể…  
- GD về thái độ:  
Bồi dưỡng cho HS nhân sinh quan lành mạnh, thế  
giới quan khoa học để có thái độ đúng đắn trước những  
vấn đề BNHĐ, giúp các em tích cực, chủ động, hăng hái  
tham gia các hoạt động GD phòng chống BLHĐ do nhà  
trường và địa phương tổ chức; biết đồng tình với những  
hành vi đúng đắn, tích cực, kiên quyết phản đối những  
hành vi sai trái, tiêu cực trong trường học cũng như trong  
xã hội; có thái độ đúng đắntrước, trong và sau khi BNHĐ  
xảy ra đối với người gây ra và với nạn nhân của nạn  
BNHĐ. GD phòng chống BNHĐ đúng hướng, đúng mục  
đích sẽ tạo điều kiện để HS yên tâm học tập, vui chơi,  
giao lưu và kết bạn trong trường học; góp phần phát triển  
toàn diện nhân cách của HS, nâng cao chất lượng GD của  
nhà trường.  
- GD kĩ năng giao tiếp và xử lí các mối quan hệ, ngăn  
chặn kịp thời khi thấy các biểu hiện bắt nạt, giải quyết  
tình huống các mâu thuẫn các mối quan hệ trong trường,  
lớp và xã hội; có kĩ năng giao tiếp, xưng hô, trao đổi, cư  
xử đúng mực trong nhà trường, gia đình và xã hội; kĩ  
năng xử lí, các cách giải quyết phù hợp khi gặp các hành  
vi BNHĐ trong nhà trường cũng như trong cuộc sống.  
- GD thái độ và ứng xử phù hợp khi gặp các vụ  
BNHĐ, biết tự chịu trách nhiệm với những hành vi của  
bản thân trong giao tiếp ở nhà trường, xã hội; có được  
những ý kiến đánh giá đúng đắn, chính xác về những  
hành vi BNHĐ của bạn bè, các em HS khác.  
2.4.3. Phương pháp giáo dục  
Phương pháp GD phòng chống BNHĐ là những cách  
thức mà nhà trường, gia đình, xã hội phối hợp tổ chức  
thực hiện để tác động đến HS về cả nhận thức, thái độ và  
những hành vi cần thiết để ngăn chặn , đꢀy lùi nạn này ra  
khỏi nhà trường phổ thông.  
- GD về hành vi:  
Các kĩ năng cơ bản cần trang bị cho các em là: + Có  
khả năng tự nhận xét hành vi của bản thân; + Có thể nhận  
xét, đánh giá đúng đắn những hành vi của người khác;  
+ Có khả năng lí giải những tình huống đạo đức xảy ra  
xung quanh mình; + Biết thực hiện các thao tác, hành  
- Nhóm các phương pháp thuyết phục nhằm tác động  
động chuꢀn mực; + Có thể xem xét, điều tra những vấn và nâng cao nhận thức, xây dựng tình cảm trong sáng của  
117  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 115-120  
HS, bao gồm: + Phương pháp đàm thoại: trao đổi ý kiến, biết về giá trị văn hóa đạo đức, thuần phong mĩ tục, lòng  
thảo luận về quan điểm cá nhân giữa GV, những người nhân ái, bao dung, tình đoàn kết, ý chí phấn đấu trong  
tham gia GD với HS hoặc giữa HS với nhau. Tập trung học tập, cho cuộc sống hạnh phúc tương lai của các em.  
đàm thoại về một chủ đề nào đó thuộc các lĩnh vực kinh Thực hiện GD kĩ năng sống, GD đạo đức để HS được  
tế, chính trị, xã hội và đời sống hằng ngày liên quan đến trau dồi đầy đủ kiến thức và thành thạo các kĩ năng sống  
hiện tượng BNHĐ; + Phương pháp giảng giải: nhà GD cho bản thân, đảm bảo sức khỏe, có khả năng “đề kháng”  
thông báo, phân tích, giải thích, chứng minh tính đúng với tất cả các mâu thuẫn, các xung đột, góp phần phòng  
đắn của các chuꢀn mực liên quan đến nội dung GD chống nạn BNHĐ.  
BNHĐ đã được các cơ quan có thꢀm quyền quy định hay  
- GD thông qua giờ sinh hoạt lớp, giờ chào cờ vào  
xã hội công nhận; + Phương pháp nêu gương: GV nhà  
các ngày thứ hai hàng tuần. GD phòng chống BNHĐ  
trường sử dụng những tấm gương sáng, những hành vi  
trong sinh hoạt lớp thường đạt hiệu quả cao do không khí  
mẫu mực có thật trong xã hội của cá nhân HS hoặc tập  
sôi nổi trong lớp, các em dễ dàng biểu đạt những suy  
thể được mọi người tôn vinh, công nhận để kích thích HS  
nghĩ, nhìn nhận của mình. Do vậy, GV chủ nhiệm cần có  
làm theo với sự cảm phục, ngưỡng mộ.  
cách thức phổ biến phù hợp để HS dễ tiếp thu và lựa chọn  
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình  
thành cho HS những kinh nghiệm trong ứng xử xã hội;  
hình thành những hành vi phù hợp với chuꢀn mực của  
đời sống xã hội, những phꢀm chất nhân cách và hành vi  
thói quen tích cực, gồm các phương pháp sau: + Phương  
pháp nêu yêu cầu: GV đưa ra những yêu cầu, những đòi  
hỏi đối với tập thể, cá nhân HS, đồng thời tổ chức, giám  
sát việc thực hiện các yêu cầu đó của các em nhằm đạt  
được mục tiêu GD đã đề ra; + Phương pháp rèn thói  
quen: nhà trường tổ chức cho HS thực hiện những hành  
vi, cử chỉ khác nhau một cách thường xuyên, với mục  
đích làm cho hành động đó trở thành nhu cầu và thói  
quen tích cực của HS, giúp HS có điều kiện rèn luyện  
cách ứng xử phù hợp với chuꢀn mực của xã hội cũng như  
khả năng tổ chức hoạt động cho cá nhân mình.  
hành vi đúng đắn khi đối diện trực tiếp với các vụ BNHĐ  
trong trường, lớp mình. Trong giờ chào cờ, nhà trường  
cần kết hợp tuyên truyền những nội dung liên quan đến  
phòng chống BNHĐ để tạo được sự cảm nhận sâu sắc  
vấn đề, từ đó có ý thức, thái độ, hành động đúng đắn, phù  
hợp trước nạn bắt nạt đang xảy ra trong trường, lớp và  
ngoài xã hội. Thực tiễn cho thấy, GD phòng chống  
BNHĐ thông qua sinh hoạt lớp và giờ chào cờ là hình  
thức đơn giản, dễ thực hiện nhưng đem lại hiệu quả cao  
với HS.  
- GD thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại  
khóa phù hợp với hoàn cảnh thực tế địa phương và điều  
kiện cụ thể nhà trường. Có thể lựa chọn một số cách thức  
sau: + Tổ chức các hoạt động gặp gỡ như giao lưu, học  
tập kinh nghiệm xây dựng lớp học thân thiện, đoàn kết  
giữa các lớp, giữa các trường trong cùng địa phương;  
+ Tổ chức hội thảo, thảo luận, nói chuyện chuyên đề tìm  
hiểu nâng cao về phòng chống BLHĐ; hoặc cho các em  
gặp gỡ các chuyên gia tâm lí, các nhà GD học; thi tìm  
hiểu kiến thức về BNHĐ, phòng chống BNHĐ nhằm thu  
hút đông đảo HS tham gia; + Tổ chức các hoạt động  
truyền thông trong nhà trường như: tuyên truyền, vận  
động, cổ động… bằng việc treo băng rôn, khꢀu hiệu, sáng  
tác thơ ca, nhạc, kịch, thi viết báo tường, báo mạng, viết  
thư tay với nội dung về phòng chống BNHĐ để truyền  
tải các nội dung cần thiết đến với HS; Tổ chức các cuộc  
triển lãm, hội chợ, trình chiếu video với các hình ảnh,  
tranh vẽ, videoclip về BLHĐ và BNHĐ để nâng cao hiệu  
quả hoạt động phòng chống BLHĐ trong trường học và  
cộng đồng dân cư; + Đưa vào nội dung chuyên đề trong  
các cuộc thi tài năng của nhà trường như: Rung chuông  
- Nhóm các phương pháp kích thích và điều chỉnh  
hành vi có tác dụng GD rất lớn đối với HS nhằm động  
viên HS phát huy hết khả năng, sức lực, tinh thần và thể  
chất, tình cảm và trí tuệ, thái độ và trách nhiệm để đạt  
hiệu quả cao nhất trong học tập và rèn luyện, bao gồm:  
+ Phương pháp khen thưởng, động viên thi đua: GV thể  
hiện sự đồng tình, hài lòng của mình đối với hành vi, thái  
độ của HS qua việc phân tích, đánh giá đúng mặt tích cực  
của những hành động tốt trong các ứng xử của HS theo  
chuꢀn mực xã hội; + Phương pháp trách phạt: GV thể  
hiện thái độ nghiêm khắc của nhà GD đối với những  
hành vi sai lệch, thái độ không đúng của HS, tạo cơ hội  
và điều kiện để HS nhận ra được những lỗi lầm, thiếu sót  
của mình đối với các hành vi sai trái, có thái độ hối hận  
và tinh thần quyết tâm sửa chữa, không tái phạm.  
2.4.4. Hình thức giáo dục  
- GD thông qua các giờ học trên lớp. Trong các giờ vàng, thi diễn kịch, thi kĩ năng giải quyết tình huống  
học tại lớp, trong những tiết học GD công dân hay những BNHĐ, hội diễn văn nghệ… về chủ đề phòng chống  
môn học khác có nội dung liên quan đến GD nhân cách, BNHĐ để các em có cơ hội trải nghiệm và bộc lộ khả  
GV lồng ghép những nội dung thích hợp để truyền tải tới năng ứng phó của mình; + Tổ chức các câu lạc bộ rèn  
HS những thông tin liên quan đến BNHĐ. Mặt khác, qua luyện kĩ năng ứng xử, câu lạc bộ võ thuật, các phòng thể  
các giờ học trên lớp, HS còn được trang bị những hiểu chất đa năng… thu hút HS tham gia để các em thường  
118  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 115-120  
xuyên tập dượt, thực hành kĩ năng phòng chống BNHĐ; GD phòng, chống BNHĐ của các tổ chức, cá nhân được  
rèn luyện thể chất và kĩ năng cần thiết tự bảo vệ bản thân, phân công; + Tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá, rút kinh  
bảo vệ người khác khi gặp tình huống BNHĐ.  
nghiệm công tác, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện  
thực tế của nhà trường.  
- GD thông qua trung tâm học tập cộng đồng của địa  
phương. Với môi trường mở, đa dạng về đối tượng người  
học, trung tâm học tập cộng đồng của địa phương rất phù  
hợp với việc GD phòng chống BNHĐ cho HS, thanh  
niên. Để thực hiện được, nhà trường có thể phối hợp với  
các trung tâm học tập cộng đồng ở địa phương để xây  
chương trình, nội dung về BNHĐ và tổ chức GD cho HS  
vào những thời gian thích hợp. Tổ chức các hoạt động  
truyền thông tại các trung tâm học tập cộng về GD phòng  
chống BNHĐ cho cha mẹ và các em HS nắm được các  
thông tin cầnthiết về vấn đề để các bậc cha mẹ đồng hành  
cùng nhà trường và cộng đồng trong công tác GD phòng  
chống tệ nạn BNHĐ cho con em mình. Mặt khác, các  
thành viên tham gia học tập với nhiều độ tuổi, đa dạng về  
thành phần, trình độ tại đâylà cơ hội để thực hiện sự phối,  
kết hợp phòng chống BLHĐ với nhà trường có kết quả  
cao nhất.  
- Gia đình có vai trò rất quan trọng trong GD HS về  
thái độ, đạo đức, tình cảm và góp phần quan trọng trong  
hình thành nhân cách tuổi học trò. Tính gương mẫu của  
ông bà cha, mẹ, truyền thống, nền nếp của gia đình ảnh  
hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách HS ngay từ  
khi còn nhỏ. Vì vậy, có thể khẳng định, GD phòng, chống  
BNHĐ là nhiệm vụ chính của cha, mẹ trong gia đình các  
em. Anh, chị của HS là luôn đồng hành cùng các em  
trong học tập, nhất là trong quá trình GD phòng, chống  
BNHĐ. Vì vậy, vai trò gương mẫu của anh, chị đối với  
các em là rất lớn.  
- Cộng đồng. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình  
và các lực lượng cộng đồng (chính quyền, các tổ chức  
đoàn thể ở địa phương như Đoàn Thanh niên, Hội  
Khuyến học, Hội Phụ nữ…) nhằm ngăn chặn và đꢀy lùi  
nạn BNHĐ là rất quan trọng. GD của nhà trường nói  
chung không thể tác rời khỏi xã hội và hoạt động GD  
phòng, chống BNHĐ cũng gắn bó chặt chẽ với xã hội.  
Mỗi một tổ chức, cá nhân có vai trò khác nhau nên mức  
độ ảnh hưởng cũng khác nhau trong hoạt động GD  
phòng, chống BNHĐ. Sự tham gia tích cực, phối hợp  
chặt chẽ, khoa học với phương thức phù hợp của các lực  
lượng cộng đồng ở địa phương sẽ đem lại hiệu quả cao  
trong công tác tuyên truyền, GD phòng chống BNHĐ  
cho HS và cha mẹ các em.  
- GD thông qua hoạt động của Đoàn Thanh niên  
Cộng sản Hồ Chí Minh. Ở địa phương, Đoàn Thanh niên  
Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức trực tiếp tham gia GD  
thanh, thiếu niên tại nơi sinh sống. Vì vậy, nhà trường  
cần phối hợp lãnh đạo chính quyền địa phương, Đoàn  
Thanh niên và các tổ chức quần chúng thực hiện GD  
phòng, chống BNHĐ cho HS. Đoàn có thể tổ chức các  
hoạt động học tập truyền thống vẻ vang của đất nước,  
truyền thông văn hóa của dân tộc… ở địa phương với các  
hình thức phong phú, phù hợp để hình thành cho HS thái  
độ đúng đắn, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, từ đó có  
những hành động đúng đắn, cách xử lí đúng mức, kịp  
thời khi đối diện với hành vi BLHĐ.  
- Trung tâm học tập cộng đồng địa phương, với chức  
năng nhiệm vụ của mình cần GD cho con em nhân dân  
địa phương trong việc phòng chống tệ nạn xã hội nói  
chung, nạn BNHĐ nói riêng lồng ghép với các hoạt động  
giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, đọc sách  
báo; phối hợp với nhà trường xây dựng kế hoạch, chương  
trình, nội dung, chuꢀn bị đầy đủ các điều kiện về GV, cơ  
sở vật chất đáp ứng nhu cầu để phối hợp với nhà trường  
GD phòng, chống BNHĐ một cách hiệu quả.  
2.4.5. Các lực lượng tham gia giáo dục  
Để thực hiện tốt việc GD BNHĐ ở các trường phổ  
thông cần có sự tham gia phối hợp của toàn hệ thống  
chính trị địa phương với nhà trường, trong đó nhà trường  
đóng vai trò chủ đạo.  
- Nhà trường. Để công tác phòng, chống BNHĐ  
trong nhà trường đạt hiệu quả cao, vai trò, trách nhiệm  
của lãnh đạo nhà trường, các đoàn thể, đội ngũ cán bộ,  
nhân viên và GV phải được đặt lên hàng đầu. Muốn vậy,  
cần: + Phân công trách nhiệm cụ thể, phù hợp với phù  
hợp chức năng, nhiệm vụ cho từng tổ chức, từng thành  
viên trong nhà trường về chương trình, kế hoạch thực  
hiện phòng, chống BNHĐ của nhà trường; xây dựng cơ  
chế phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, thống nhất về mục  
tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức trong nhà trường;  
+ Đôn đốc, kiểm tra, theo dõi thường xuyên hoạt động  
3. Kết luận  
GD phòng, chống BNHĐ nhằm GD cho HS những  
kiến thức về đạo đức, thái độ, hành vi bắt nạt trong các  
trường học, từ đó các em có ý thức, kĩ năng hành động  
để phòng, chống tệ nạn BNHĐ. GD phòng chống BNHĐ  
cho HS là trách nhiệm chung của toàn xã hội, song nhà  
trường là lực lượng trực tiếp, chủ đạo trong mọi hoạt  
động GD. Vì vậy, nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với  
các tổ chức ở địa phương như: chính quyền các cấp, trung  
tâm học tập cộng đồng, các lực lượng vũ trang, các cơ  
119  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 115-120  
quan chức năng quản lí nhà nước, các tổ chức, đoàn thể  
xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ,  
Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh...), cơ quan công  
an, văn hóa, cơ quan truyền thông tuyên truyền... Để phối  
hợp có hiệu quả, các bên cần cung cấp kịp thời cho nhà  
trường những thông tin liên quan đến tình hình tư tưởng,  
thái độ của HS ở địa phương, nhất là những biểu hiện bạo  
lực của HS, tạo điều kiện nhà trường tiếp tục theo dõi,  
GD ở trường học.  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÍ…  
(Tiếp theo trang 105)  
3. Kết luận  
NCKH của HV ở Học viện ANND có ý nghĩa quan  
trọng đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy và học,  
nâng cao chất lượng đào tạo. Thông qua hoạt động  
NCKH, HV tự tìm tòi, khám phá những tri thức khoa học  
mới; rèn luyện khả năng tư duy, kĩ năng làm việc nhóm  
và nhiều kĩ năng khác cần thiết cho công tác trong tương  
lai. Nâng cao hiệu quả công tác NCKH nói chung và  
NCKH của HV nói riêng là nhằm thực hiện kết hợp  
NCKH với đào tạo. Đó là xu hướng trong phát triển giáo  
dục đại học của các nước tiên tiến trên thế giới.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Hoàng Phê (2010). Từ điển tiếng Việt. NXB Từ điển  
Bách khoa.  
[2] Olweus, D. (1994). Bullying at school: Basic facts  
and effects of a school-based intervention program.  
Journal of Child Psychology and Psychiatry, Vol.  
Tài liệu tham khảo  
35,  
pp.  
1171-1190.  
doi:10.1111/j.1469-  
7610.1994.tb01229.x  
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số  
29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn  
diệngiáodụcvàđàotạo, đápứngyêucầucôngnghiệp  
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.  
[3] Lê Thị Ngọc Lan (2018). Mối quan hệ giữa phong  
cách giáo dục của cha mẹ và hành vi lệch chuẩn của  
trẻ vị thành niên. Tạp chí Giáo dục, số 423, tr 11-15.  
[4] Bùi Thị Hồng (2016). Bạo lực học đường ở Việt  
Nam hiện nay: Thông tin qua các trang báo điện tử.  
Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 5, tr 34-36.  
[5] Bộ GD-ĐT (2012). Kết quả kiểm tra Phong trào thi  
đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích  
cực” tại 12 tỉnh/thành phố thuộc 7 vùng thi đua.  
[6] Bộ GD-ĐT (2008). Chỉ thị số 71/2008/CT-BGDĐT,  
ngày 23/12/2008 về tăng cường phối hợp nhà  
trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục  
trẻ em, sinh viên.  
[7] Bộ GD-ĐT (2019). Chỉ thị số 993/CT-BGDĐT ngày  
12/4/2019 về việc tăng cường giải pháp phòng,  
chống bạo lực học đường trong cơ sở giáo dục  
[8] Nguyễn Thị Thanh Bình (2013). Một số biện pháp  
ngăn chặn và phòng ngừa hành vi gây hấn học  
đường. Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Khoa học  
Giáo dục Việt Nam, số 92, tr 12-15; 64.  
[9] Lê Vân Anh - Lưu Thu Thuỷ - Trịnh Thị Anh Hoa  
(2012). Giáo dục kĩ năng phòng chống bạo lực học  
đường. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[10]Nguyễn Hải Đăng (2007). Cẩm nang giáo dục lối  
sống và phòng chống bạo lực trong nhà trường.  
NXB Lao động  
[11]Minh Khang (2012). Rùng mình với bạo lực học  
đường. Báo Pháp luật, số ra ngày 17/9/2012.  
[12]Trần Thị Minh Đức (2010). Hành vi gây hấn phân  
tích từ góc độ tâm lí học xã hội. NXB Đại học Quốc  
gia Hà Nội.  
[2]  
Học viện An ninh nhân dân (2013). Đề án phát triển  
Học viện An ninh nhân dân thành cơ sở giáo dục đại  
học trọng điểm của ngành Công an.  
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Văn kiện Hội nghị  
Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khóa XI).  
NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội  
đại biểu toàn quốc lần thứ XII. NXB Chính trị Quốc  
gia - Sự thật.  
[5] Đảng ủy Công an Trung ương (2014). Nghị quyết số  
16-NQ/ĐUCA ngày 05/3/2014 về công tác khoa học  
Công an trong tình hình mới.  
[6] Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức (1992). Phương pháp  
luận và các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo  
dục (Tài liệu dùng cho sinh viên và cán bộ quản lí  
giáo dục, học viên cao học). NXB Giáo dục.  
[7] Họcviện Anninhnhândân(2006).LịchsửHọcviện An  
ninh nhân dân (1946-2006). NXB Công an nhân dân.  
[8] Học viện  
(2002). Quy định về  
An ninh nhân dân  
nghiên cứu khoa học của học viên Học viện  
An ninh  
.
nhân dân  
[9] Học viện  
(2012). Tổng kết công tác  
An ninh nhân dân  
nghiêncứukhoahọc củasinhviên2007-2012. Kỉ yếu  
Hội thảo khoa học, Học viện  
An ninh nhân dân.  
120  
pdf 6 trang yennguyen 10560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo dục phòng, chống bắt nạt học đường cho học sinh các trường Trung học cơ sở", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_duc_phong_chong_bat_nat_hoc_duong_cho_hoc_sinh_cac_truo.pdf