Một vài đặc điểm về các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ ở đồng bằng sông Hồng

40  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG*  
MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ CÁC NGÔI CHÙA  
THỜ TỨ VỊ THÁNH TỔ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG  
Tóm tắt: Bài viết đề cập đến một vài đặc điểm cơ bản của hệ  
thống chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ ở vùng Đồng bằng sông Hồng,  
như: địa bàn phân bố, lịch sử hình thành, cảnh quan kiến trúc,  
bố cục mặt bằng và bài trí không gian thờ tự. Những đặc điểm  
đó cho thấy, Phật giáo trong quá trình tồn tại và phát triển đã  
dung hội với tín ngưỡng dân gian địa phương, hình thành nên  
những ngôi chùa tiền Phật, hậu Thánh, tạo nên sự kết hợp độc  
đáo giữa ngôi chùa thờ Phật và ngôi đền thờ Thánh, trong đó  
yếu tố thờ Thánh nổi trội hơn, cả trong mô hình tổ chức và hình  
thức sử dụng. Mô hình chùa thờ Tứ vị Thánh tổ là một nét riêng  
chỉ có ở Đồng bằng sông Hồng.  
Từ khóa: Tứ vị Thánh Tổ; tiền Phật hậu Thánh; dung hội tôn  
giáo; Đồng bằng sông Hồng.  
Dẫn nhập  
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên,  
trong quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo đã dung hội với tín  
ngưỡng dân gian của người Việt để hình thành nên dòng Phật giáo dân  
gian giầu bản sắc văn hóa dân tộc. Dưới thời nhà Lý, Phật giáo là một  
tôn giáo chủ lưu. Các thiền sư đóng vai trò quan trọng trong việc hộ  
quốc, an dân. Thời kỳ này, có nhiều nhà sư danh tiếng, trong đó có  
bốn vị thiền sư đặc biệt: Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ, Nguyễn  
(Lý) Giác Hải, Nguyễn Minh Không, thuộc về hai phái thiền Tỳ Ni Đa  
Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Trong quá trình hoằng dương Phật pháp,  
các nhà sư đã dùng các pháp thuật tinh thông của mình để hàng long,  
* Ban Tôn giáo Chính phủ.  
Ngày nhận bài: 13/12/2018; Ngày biên tập: 11/3/2019; Duyệt đăng: 21/3/2019.  
Đỗ Thị Thanh Hương. Một vài đặc điểm về các ngôi chùa  
…
41  
phục hổ, hô phong, hoán vũ, đồng thời còn hóa giải những tai ương,  
cầu đảo mưa thuận gió hòa, dạy dân nghề đánh cá, đúc đồng, trồng  
lúa, múa rối, điều đó cho thấy trong hành trạng của các nhà sư, yếu tố  
Phật giáo và tín ngưỡng dân gian được hòa quyện với nhau một cách  
hài hòa. Với những công tích lớn, sau khi viên tịch, triều đình đã suy  
tôn họ thành những vị Thánh Tổ, và họ được thờ trong nhiều ngôi  
chùa ở vùng Đồng bằng sông Hồng. Từ đó hình thành nên những ngôi  
chùa đặc biệt theo kiểu tiền Phật hậu Thánh. Những ngôi chùa này  
chính là minh chứng rõ nét cho sự dung hội giữa Phật giáo với tín  
ngưỡng thờ Thần của người Việt. Qua khảo sát điền dã, thống kê các  
ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ khu vực Đồng bằng sông Hồng, chúng  
tôi tạm thời khái quát một số đặc điểm của các ngôi chùa này.  
1. Về địa bàn phân bố  
Khảo sát bước đầu vùng Đồng bằng sông Hồng cho thấy, có tới hơn  
50 ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh:  
Hà Nội, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Cụ thể, Hà Nội có 15 ngôi  
chùa, Thái Bình có 7 ngôi chùa, Nam Định có 13 ngôi chùa, Ninh Bình  
có 7 ngôi chùa. Ngoài ra, còn 9 ngôi chùa phân bố ở các tỉnh: Hưng  
Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Bắc Giang, Hà Nam, Quảng Ninh.  
So sánh trong cả nước, có thể thấy rõ ràng rằng, các ngôi chùa thờ  
Tứ vị Thánh Tổ triều Lý chỉ được hình thành và phát triển trong môi  
trường văn hóa - lịch sử của vùng Đồng bằng sông Hồng, đặc điểm đó  
được chi phối bởi các yếu tố về tự nhiên và văn hóa xã hội. Xét về mặt  
tự nhiên, nơi đây hội tụ những yếu tố thuận lợi cho việc canh tác, phát  
triển nền nông nghiệp; cư dân là những người trồng lúa nước. Trong  
điều kiện khoa học kỹ thuật sản xuất chưa phát triển, thì tự nhiên  
chính là yếu tố quan trọng để đảm bảo cho mùa màng được tươi tốt,  
cuộc sống được ấm no, sung túc. Chính vì vậy, trong tâm thức dân  
gian, họ thờ phụng các vị thần linh để cầu cho mùa màng được bội  
thu. Mặt khác, những lúc nông nhàn, người dân nơi đây còn làm các  
nghề thủ công. Chính các vị Thánh Tổ là những ông tổ nghề, như:  
nghề múa rối, nghề đúc đồng, nghề đánh cá (Từ Đạo Hạnh là ông tổ  
nghề múa rối; Nguyễn Minh Không là ông tổ của nghề đúc đồng).  
Trên cơ sở đó, từ những vị thiền sư của Phật giáo, các vị đã trở thành  
42  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
những vị thần trong tín ngưỡng giân gian, những vị thành hoàng hoặc  
những ông tổ nghề, phù trợ cho đời sống tâm linh của cư dân vùng  
Đồng bằng sông Hồng.  
Xét về phương diện lịch sử - xã hội, vùng Đồng bằng sông Hồng là  
cái nôi của văn minh Đại Việt, là nơi hình thành và nuôi dưỡng văn hóa  
Việt, nhưng đây cũng là vùng đất luôn ở trong tình trạng bị xâm chiếm  
của các thế lực phương Bắc, luôn phải đương đầu với các âm mưu đồng  
hóa về văn hóa, chính trị. Trên cảm quan đó, cư dân nơi đây luôn có  
nhu cầu sáng tạo nên những giá trị, bản sắc văn hóa riêng, tất cả đều  
được thể hiện qua đời sống tinh thần và sinh hoạt văn hóa của cộng  
đồng. Các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ thể hiện đậm nét bản sắc văn  
hóa truyền thống của người Việt ở vùng Đồng bằng sông Hồng.  
Mặt khác, các ngôi chùa còn được phân bố theo đối tượng thờ. Từ  
Đạo Hạnh được thờ chủ yếu ở các ngôi chùa trên địa bàn Thành phố  
Hà Nội hiện nay, trong đó có 7 ngôi chùa thờ Từ Đạo Hạnh độc lập,  
và 6 ngôi chùa phối thờ với Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải,  
nhưng Từ Đạo Hạnh luôn ở vị trí thờ chính giữa. Dương Không Lộ  
được thờ chủ yếu ở các tỉnh Thái Bình và Nam Định. Tại hai tỉnh này,  
có 10 ngôi chùa thờ Dương Không Lộ một cách độc lập và 2 ngôi  
chùa phối thờ với Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Giác Hải. Nguyễn Minh  
Không được thờ ở nhiều ngôi chùa trải rộng trên khắp các tỉnh, phần  
lớn các ngôi chùa đều thờ độc lập: Hà Nội: 1 ngôi, Thái Bình: 2, Nam  
Định: 2, Ninh Bình: 5; còn ở các tỉnh khác, như: Hưng Yên, Hải  
Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nam có 8 ngôi chùa. Nguyễn Giác  
Hải chủ yếu được phối thờ với các vị Từ Đạo Hạnh và Dương Không  
Lộ. Chúng tôi chưa thấy có ngôi chùa nào thờ sư độc lập nhưng nơi  
thờ sư chủ yếu vẫn ở hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Có thể nhận  
thấy, Hà Nội (thờ Từ Đạo Hạnh), Nam Định, Thái Bình (thờ Dương  
Không Lộ và Nguyễn (Lý) Giác Hải), Ninh Bình (thờ Nguyễn Minh  
Không) là quê hương của các ngài, đồng thời cũng là nơi các ngài  
thành đạo.  
2. Về lịch sử hình thành các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ  
Xét về mặt nguồn gốc, các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ phần  
lớn xuất hiện từ thời nhà Lý, như: chùa Keo Thái Bình, chùa Keo  
Đỗ Thị Thanh Hương. Một vài đặc điểm về các ngôi chùa  
…
43  
Hành Thiện, chùa Thầy, chùa Láng, chùa Cổ Lễ, chùa Nghĩa Xá,….  
Tuy nhiên, các ngôi chùa ban đầu được xây dựng với quy mô nhỏ,  
chỉ có một kiến trúc thờ Phật. Cho đến thế kỷ 17 - 18, do sự biến đổi  
của lịch sử, với sự bảo trợ của triều đình và sự hưng công của tầng  
lớp quan lại, nhiều ngôi chùa được mở mang trùng tu, tôn tạo, đã tạo  
nên sự thay đổi lớn, phần lớn các ngôi chùa được định hình với hai  
đơn nguyên kiến trúc: Điện Phật và Điện Thánh, tồn tại cho đến  
ngày nay.  
Tại chùa Keo Hành Thiện, bia ký “Nam Mô A di đà Phật/Hưng tạo  
Thần Quang Tự đại pháp sư bi” dựng năm 1671 cho biết, ngôi chùa  
ban đầu vốn có từ thời Lý, mang tên Viên Quang Tự, năm 1167  
(Chính Long Bảo Ứng thứ 5) đổi tên gọi là Thần Quang Tự. Khi ấy,  
chùa được dựng trên một khu đất khác, đến năm 1588, đời Lê Thế  
Tông do trận đại hồng thủy làm vỡ đê, gây ra cảnh lụt lội nên ngôi cổ  
tự đã bị nước cuốn trôi; một bộ phận cư dân chuyển cư về bên tả ngạn  
và một bộ phận di chuyển về bên hữu ngạn sông Hồng. Mỗi bộ phận  
đều xây dựng cho làng mình ngôi chùa mới; mỗi ngôi chùa mới này  
đều mang tên Keo.  
Chùa Nghĩa Xá (Viên Quang Tự) còn lưu giữ tấm bia mang tên  
“Viên Quang tự bi minh tỉnh tự” được soạn năm Thiên Phù Duệ Vũ  
thứ 3 (1122). Nội dung bia cho biết: “Chùa Nghĩa Xá do vua Lý Anh  
Tông (1136-1175) xây dựng, là nơi sư Giác Hải trụ trì”. Chùa ban đầu  
có tên là Diên Phúc, đến năm 1138, vua Lý Anh Tông xuống chiếu tu  
sửa chùa; năm 1167, tiếp tục tu sửa một lần nữa và đổi tên thành Viên  
Quang Tự. Cũng theo nội dung văn bia, ngôi chùa ban đầu được dựng  
ở đất Giao Thủy vạn. Khi chúng tôi đi điền dã, trao đổi với cụ Phạm  
Ngọc Uyển, một cụ cao niên trong làng, thì được biết khu Giao Thủy  
vạn là một địa danh nằm cách phà Tân Đệ và cách thành phố Nam  
Định khoảng 15 km. Ngôi chùa trước đây được xây dựng rất lớn, với  
quy mô 36 tòa và hàng trăm gian. Tuy nhiên, do sự đổi dòng của sông  
Hồng, chùa có nguy cơ bị cuốn trôi nên đã được chuyển về xứ Bát  
Dương (thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Nhưng đây vẫn chưa  
phải là khu đất để chùa tồn tại lâu dài bởi vẫn có nguy cơ bị sụt lở, do  
44  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
vậy tháng 3 đời vua Tự Đức năm thứ 19 (1866), chùa được chuyển về  
xây dựng trên khu đất hiện nay.  
Chùa Thầy được nhà sư Từ Đạo Hạnh khi về tu hành ở đây đã  
hưng công tu bổ lại, được ghi lại trong bài minh văn trên chuông chùa  
Thiên Phúc. Chuông chùa Thiên Phúc được nhiều học giả nhắc tới. Lê  
Quý Đôn trong tác phẩm Kiến Văn Tiểu Lục, phần Thiên Chương khi  
đưa 16 danh mục về các bia, chuông thời Lý, Trần, đã xếp bài minh  
khắc trên chuông chùa Thiên Phúc ở vị trí thứ nhất. Đáng tiếc! Năm  
Quang Trung thứ hai (1789), do thiếu đồng đúc tiền nên quả chuông  
này đã bị trưng dụng.  
Như vậy, các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ đều được khởi dựng  
dưới thời nhà Lý, do chính các vị thiền sư trong quá trình hoằng  
dương Phật pháp đã đứng ra xây dựng chùa và đến thế kỷ 17, hầu hết  
các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ đều được trùng tu, tôn tạo.  
3. Về kiến trúc của các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ  
3.1. Về cảnh quan  
Hầu hết các ngôi chùa đều nằm cạnh các con sông lớn, như: sông  
Hồng, sông Thái Bình, sông Ninh Cơ (chùa Keo Thái Bình, chùa Keo  
Hành Thiện Nam Định, chùa Ông), hoặc hướng mặt ra sông, hoặc soi  
mình xuống hồ nước rộng (chùa Thầy). Đây cũng là nét đặc trưng của  
các ngôi chùa Việt và có thể coi đó chính là nét “phong thủy” Việt1.  
Ngay từ xa xưa, Thiền sư Pháp Loa trong tác phẩm Thiền đạo yếu  
học, được chép trong sách Tam Tổ thực lục có đoạn: “… Khi đã ngộ  
chính tông rồi thì chọn cảnh chùa mà trụ trì, tránh những nơi nước độc  
non thiêng. Cảnh quan có bốn điều: một là nước, hai là lửa, ba là  
lương thực, bốn là rau. Đây là bốn điều cần. Lại cũng nên biết, cảnh  
không gần nhân gian mà cũng không xa nhân gian vì gần thì ồn ào mà  
xa thì không ai giúp đỡ cho. Cảnh có thể trú là chỗ yên nghiệp, dễ  
dưỡng thần, nuôi tính tâm linh sáng suốt, trường dưỡng thánh thai, để  
được chứng đạo, ấy là cứu cánh”2.  
Cảnh quan kiến trúc của nhiều ngôi chùa còn được thể hiện trong  
sử sách và được miêu tả qua văn bia. Tại chùa Keo Thái Bình, tấm bia  
mang tên “Trùng tu Thần Quang Tự bi ký” viết rằng:  
Đỗ Thị Thanh Hương. Một vài đặc điểm về các ngôi chùa  
…
45  
“Phía Chu Tước (phía Nam) dòng Xà Giang chầu vào bao la vạn  
khoảnh.  
Phía Huyền Vũ (phía Bắc) sông Hoàng Giang vòng lại mênh mông  
ngàn dặm  
Bể Nam Hải uốn quanh từng khúc phô hình dải lụa xanh lam  
Dãy rừng cây tua tủa vươn cao như búi tóc mây sắc lục,…  
Thật là một cõi Tây Trúc trong Tùng lâm vậy”  
Chùa Thầy cũng là một nơi danh thắng bậc nhất, dựa nương theo  
địa hình cao dần theo sườn núi. Theo truyền thuyết, núi Thầy chính là  
con rồng lẻ quái đàn (quái long). Chùa được dựng trên trán rồng, sân  
chùa là lưỡi rồng, hai chiếc cầu Nhật - Nguyệt là hai chiếc nanh của  
rồng, hai giếng là hai mắt rồng. Kiến Văn Tiểu Lục ghi rằng: “Núi  
Phật-Tích có tảng đá, trên vách đá có vết chân người to lớn, dưới núi  
có ao, chu vi hơn ba dặm, hai bên ao và núi đều đặt thủy tạ, khoảng  
tháng 5, tháng 6 hoa sen nở đầy, mùi thơm ngào ngạt quanh bọc lấy cả  
người, trên có chùa Thiên Phúc vàng ngọc rực rỡ, thật là thắng cảnh  
một phương”3.  
Bia ở chùa Láng còn ghi: “Đây là nơi danh thắng bậc nhất, thế gian  
không chùa nào sánh kịp. Khí tốt, Phượng thành bên hữu tỏa khắp,  
dòng sông Tô Lịch bên tả lượn vòng, Nhị Hà nghìn dặm quanh kinh  
đô uốn khúc như rồng xanh lớp lớp chầu về, Tản Viên dãy núi đầy khí  
đẹp, hướng vào như hổ trắng đàn đàn đến họp”4.  
Có thể thấy rằng, các ngôi chùa đều có cảnh quan đẹp và là những  
ngôi chùa làng, thuộc về cộng đồng dân cư làng xã nên lựa chọn vị trí  
dựng chùa thường ở ngoài làng, không xa dân, vừa đủ để các sư hoằng  
dương Phật pháp, vừa để Phật tử có thể đến lễ chùa cầu an, tìm sự tĩnh  
tâm. Mỗi ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ đều có những nét đẹp riêng  
độc đáo và không lặp lại.  
3.2. Về bố cục mặt bằng tổng thể  
Đa phần các ngôi chùa này đều có quy mô kiến trúc khá lớn. Trong  
khuôn viên có nhiều hạng mục công trình có các chức năng khác nhau,  
tiêu biểu hơn cả là bố cục mặt bằng theo kiểu nội Công ngoại Quốc.  
46  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
Phần lớn các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ được kiến trúc theo lối này,  
như: chùa Thầy, chùa Láng (Hà Nội), chùa Keo (Thái Bình), chùa Keo  
Hành Thiện, chùa Đại Bi, chùa Cổ Lễ, chùa Nghĩa Xá (Nam Định),...  
Những ngôi chùa có lối kiến trúc theo kiểu nội Công ngoại Quốc  
thường là những ngôi chùa lớn (chùa trăm gian); các đơn nguyên kiến  
trúc được sắp xếp theo trục dọc, bắt đầu bằng Tam quan, tiếp đến là  
Điện Phật với ba bộ phận: Tiền Đường, Thiêu Hương và Thượng  
Điện, kế tiếp là Điện Thánh. Có chùa, Điện Thánh là một đơn nguyên  
kiến trúc riêng (chùa Keo Thái Bình, Keo Hành Thiện, chùa Thầy);  
cũng có chùa, Điện Thánh nằm trong Điện Phật (chùa Nghĩa Xá, chùa  
Ông, chùa Tổng, chùa Đại Bi), nhưng Điện Thánh luôn có sự tách biệt  
rõ ràng, thâm nghiêm, không lộ diện và là không gian thờ tự riêng  
biệt. Tiếp đến là nhà Tổ, khu vực Hành Lang.  
Với mặt bằng theo kiểu nội Công ngoại Quốc, trong các ngôi chùa  
thờ Tứ vị Thánh Tổ bao giờ cũng có hai hạng mục thờ tự chính là  
Điện Phật và Điện Thánh. Từ đó hình thành nên loại chùa độc đáo ở  
khu vực Đồng bằng sông Hồng, đó là dạng chùa tiền Phật, hậu Thánh.  
Bố cục này phản ánh quan niệm Điện Phật giản dị, Điện Thánh linh  
thiêng, huyền bí, tạo ra một cõi tiên giới trên phàm trần. Loại hình  
chùa tiền Phật, hậu Thánh khác biệt so với loại hình chùa chỉ thuần  
túy thờ Phật, như: chùa Chuông (Hưng Yên), hoặc loại hình chùa tiền  
Thần hậu Phật (chùa Dâu, chùa Đậu); loại hình chùa này Thần Điện  
được đặt ở vị trí trung tâm, còn tượng Phật được đặt ở xung quanh,  
hoặc sang hẳn vị trí khác. Chùa Dâu, khu Thượng Điện là không gian  
thờ tự chính của ngôi chùa, nhưng nơi này lại không dành để thờ Tam  
Bảo như các ngôi chùa thuần túy thờ Phật, hoặc chùa tiền Phật, hậu  
Thánh mà các tượng thần bản xứ được đặt trang trọng ở vị trí trung  
tâm của Thượng Điện, còn Tam Bảo được thờ ở Hậu Đường hay còn  
gọi là Tam Bảo hậu.  
Loại hình chùa tiền Phật, hậu Thánh cho thấy, Phật giáo đã dung  
hòa, chấp nhận những vị vốn là tu sĩ Phật giáo trở thành những vị  
thánh trong tín ngưỡng dân gian. Các vị thánh này vẫn biểu đạt nội  
dung của tín ngưỡng dân gian, nhưng đồng thời lại biểu hiện dưới  
hình thức tượng Phật hết sức độc đáo “vi tiên, vi Phật”, bởi dưới góc  
Đỗ Thị Thanh Hương. Một vài đặc điểm về các ngôi chùa  
…
47  
độ Phật giáo có thể coi các nhà sư chính là những vị Bồ Tát thị hiện để  
gần dân, giúp dân; dưới góc độ tín ngưỡng dân gian, các vị chính là  
biểu tượng của sức mạnh có khả năng siêu phàm. Sự kết hợp này cho  
thấy sự hòa nhập giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam.  
Sự hòa nhập đó được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng như sữa tan vào  
nước. Tứ vị Thánh Tổ mang tính lưỡng hợp vừa là Thánh, vừa là Phật,  
và các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ trở nên gần gũi trong đời sống  
tín ngưỡng của cư dân Việt ở vùng Đồng bằng sông Hồng  
Điện Thánh, nơi thờ Tứ vị Thánh Tổ, biểu hiện rõ tính chất là ngôi  
đền thờ, bởi ngay khi bước vào không gian ngôi chùa, phải qua hai lớp  
Tam quan, đó là Tam quan nội và Tam quan ngoại, thể hiện cho hai đối  
tượng thờ cúng khác nhau. Trong bố cục mặt bằng đó, Tam quan ngoại  
mang tính chất là một Nghi Môn, kiến trúc này như ở chùa Keo Thái  
Bình, chùa Keo Hành Thiện Nam Định, chùa Láng, chùa Lý Quốc Sư.  
Chu Quang Trứ cho rằng, “Tòa Tam quan - Nghi môn gắn bó chặt chẽ  
với vườn cây, hồ nước, ngay từ đầu đã tạo vẻ thiêng liêng đến huyền bí  
cho tổng thể ngôi chùa, nó vươn lên, tự khẳng định như muốn thay thế  
cho cả Đình và Đền ở địa phương”5. Ngoài Nghi môn, còn thấy trong  
kiến trúc của các ngôi chùa này có một số hạng mục công trình, như:  
nhà thờ Hậu, tả, hữu hành lang với những công năng riêng.  
Mặt khác, yếu tố đền thờ còn thể hiện ở hệ thống các di vật được  
lưu giữ trong Điện Thánh, như: kiệu thờ, khám thờ, bát bửu, lỗ bộ,  
ngựa thờ,… Đặc biệt, ở nhiều ngôi chùa, như: chùa Keo (Thái Bình),  
Keo Hành Thiện (Nam Định), chùa Điềm Giang (Ninh Bình), còn lưu  
giữ được các sắc phong của triều đình quân chủ phong thần cho các  
thiền sư. “Sắc phong là một ‘quyết định bổ nhiệm cán bộ’ của nhà  
vua, nhằm giao cho một vị thần cai quản không gian thiêng của làng  
quê. Mỗi làng quê có một không gian thiêng, có thần linh ngự trị. Các  
triều đại phong kiến cụ thể hóa quan niệm thần linh ngự trị trên cõi  
thiêng để bảo vệ dân chúng”6. Thể hiện việc ghi nhớ công trạng và  
bày tỏ lòng thành kính của các bậc vua, chúa đối với những người có  
công với triều đình và nhân dân.  
3.3. Về bài trí không gian thờ tự  
Các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ theo Phật giáo Bắc truyền,  
thường là Thiền, Tịnh song tu, nên trong bài trí thờ tự ở Điện Phật có  
48  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
những đặc trưng nhất định thể hiện tính chất đó. Tuy nhiên, ngoài thờ  
Phật còn thờ Thánh, và cũng tùy vào đặc tính tín ngưỡng của từng địa  
phương mà ngôi chùa có cách thức bài trí phù hợp. Dẫu vậy, cách thức  
bài trí chủ đạo ở các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ vẫn là tiền Phật,  
hậu Thánh. Qua khảo sát điền dã, chúng tôi tạm chia thành các 2  
nhóm bài trí thờ tự sau:  
1) Nhóm chùa bài trí thờ tự Điện Phật và Điện Thánh là hai đơn  
nguyên kiến trúc riêng biệt theo kiểu tiền Phật, hậu Thánh: Tiêu biểu  
cho dạng thức này có chùa Thầy, chùa Keo Thái Bình, chùa Keo Hành  
Thiện Nam Định. Ở dạng bài trí thờ tự này, Điện Phật và Điện Thánh  
có mặt bằng kiểu chữ Công, bao gồm các tòa Tiền Đường, Thiêu  
Hương và Thượng Điện.  
Điện Phật được bài trí thờ tự theo trục dọc, với nhiều lớp tượng;  
phần lớn được bài trí giống như các ngôi chùa ở miền Bắc, nhưng  
cũng có những nét khác biệt, đó là ở chùa Thầy, bộ tượng Di Đà Tam  
Tôn không bày trên Điện Phật mà được bày ở Điện Thánh, hoặc ở  
chùa Keo Thái Bình, chùa Tây Lạc, trên Điện Phật không bài trí bộ  
tượng Nam Tào - Ngọc Hoàng Thượng đế - Bắc Đẩu (một bộ tượng  
của Đạo giáo) như hầu hết các ngôi chùa ở miền Bắc.  
Điện Thánh bài trí trang nghiêm, tượng thánh đặt trong một khám  
kín ở Hậu Cung, thể hiện tính chất linh thiêng, không lộ diện. Nếu ở  
Điện Phật, người ta có thể đến cúng lễ bất cứ lúc nào thì ở Điện  
Thánh, nơi Hậu cung đóng quanh năm, chỉ mở vào một số ngày lễ hội  
nhất định7.  
Trong nhóm này, vẫn có dạng biến thể của hai đơn nguyên kiến  
trúc, mặc dù Điện Phật và Điện Thánh vẫn là hai đơn nguyên kiến trúc  
riêng biệt, nhưng không theo kiểu tiền Phật, hậu Thánh như chùa Bái  
Đính cổ, chùa Địch Lộng (Ninh Bình). Theo tư liệu điền dã của chúng  
tôi, trước đây nơi thờ tự Phật, Thánh được đặt ở trong các hang đá,  
nhưng do hiện nay, đời sống kinh tế, xã hội phát triển, người dân xây  
dựng thêm các khu thờ tự tách riêng nơi thờ Phật, Thánh ra bên ngoài  
hang. Tuy nhiên, biến thể này rất ít. Chúng tôi chỉ bắt gặp ở hai ngôi  
chùa nêu trên.  
Đỗ Thị Thanh Hương. Một vài đặc điểm về các ngôi chùa  
…
49  
2) Nhóm chùa bài trí thờ tự Điện Phật và Điện Thánh cùng chung  
trong một kiến trúc.  
Các ngôi chùa bài trí thờ tự Điện Phật và Điện Thánh cùng chung  
trong một kiến trúc phần lớn vẫn theo kiểu tiền Phật, hậu Thánh, tiêu  
biểu có chùa Cổ Lễ, chùa Nghĩa Xá, chùa Đại Bi ở Nam Định; chùa  
Viên Quang (Đền Thánh Nguyễn ở Ninh Bình,… cũng được kết cấu  
theo kiểu chữ Công, bao gồm các tòa Tiền Đường, Thiêu Hương và  
Thượng Điện. Thượng Điện được chia làm hai phần tách biệt rõ ràng,  
phía trước thờ Phật, phía sau có một Hậu cung thờ Thánh, Hậu cung  
được “thưng” kín lại thể hiện tính chất thâm nghiêm, không lộ diện.  
Tuy nhiên, cũng có một số ngôi chùa bài trí thờ tự Điện Phật và  
Điện Thánh cùng chung trong một kiến trúc, nhưng không theo kiểu  
tiền Phật, hậu Thánh mà việc bố trí không gian thờ tự có điểm khác  
biệt, như: Điện Thánh đặt trước Điện Phật ở chùa Láng, nơi thờ Thánh  
không được “thưng” kín mà được thờ ngay trên Điện Phật, như: chùa  
Tổng (Hà Nội); Cung Thánh được đặt ở tòa Tiền Đường như chùa Dị  
Nậu (Hà Nội), chùa Nam Hà (Nam Định), mặc dù được thờ trong  
khám riêng nhưng cửa khám không đóng kín. Cũng được đặt ở tòa  
Tiền Đường, nhưng ở chùa Tây Lạc (Nam Định), các thánh lại được  
thờ trong khám kín, và mỗi năm cửa khám chỉ mở một lần khi thực  
hiện nghi lễ mộc dục cho Thánh trước ngày diễn ra lễ hội chính.  
Những dẫn chứng nêu trên cho thấy, việc bài trí thờ tự ở các ngôi  
chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ được thể hiện một cách linh hoạt, phù hợp  
với đời sống tín ngưỡng, điều kiện kinh tế và mặt bằng xây dựng của  
từng địa phương. Bài trí thờ tự như trên biểu hiện sự đa dạng các sắc  
thái trong việc thờ phụng Tứ vị Thánh Tổ, đó chính là kết quả của sự  
tương tác giữa môi trường sinh thái của vùng đất với quá trình hình  
thành và phát triển kinh tế, xã hội cùng đời sống văn hóa của các  
nhóm cư dân vùng Đồng bằng sông Hồng.  
Kết luận  
Có thể thấy, các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ là hiện tượng văn  
hóa đặc sắc của Phật giáo Việt Nam. Ở đây, các vị thánh thực chất là  
những vị sư tổ, nhưng không phải được thờ như những vị sư tổ thông  
50  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
thường trong các ngôi tháp như thường thấy ở nhiều ngôi chùa, mà họ  
được nhân dân tôn thành thánh, có điện thờ riêng. Ở những ngôi chùa  
thờ Tứ vị Thánh Tổ, yếu tố đền thờ khá nổi trội, đó chính là sự kết  
hợp độc đáo giữa chùa thờ Phật và đền thờ thần cả về lối thờ tự lẫn  
hình thức sử dụng. Việc phối thờ đã tạo nên thế dung hợp, giao thoa  
giữa văn hóa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống của người Việt.  
Chùa còn thêm chức năng đình, đền của làng, và trở thành “bùa làng”  
- nơi thờ cúng các vị thành hoàng của họ và trở thành trung tâm tụ  
họp, sinh hoạt văn hóa tinh thần và điểm tựa tâm linh rộng rãi của  
cộng đồng, được cộng đồng gìn giữ, bảo vệ. Văn hóa Phật giáo được  
bảo tồn cùng văn hóa, tín ngưỡng địa phương. /.  
CHÚ THÍCH:  
1
Nguyễn Quốc Tuấn (2012), Chùa Bối Khê nhìn từ khảo cổ học Phật giáo, Nxb.  
Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 28-29.  
2
Dẫn theo: Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long (2013), Chùa Việt  
Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, in lần thứ 5, tr. 3.  
3
4
Lê Quý Đôn, Kiến Văn Tiểu Lục, Nxb. Sử học, 1962, tr. 340.  
Dẫn theo: Vũ Ngọc Khánh (2011), Chùa cổ Việt Nam, Nxb. Thanh Niên, Hà  
Nội, tr. 19.  
5
6
7
Chu Quang Trứ (2012), Sáng giá chùa xưa Mỹ thuật Phật giáo, Nxb. Mỹ thuật,  
Hà Nội, tr. 94.  
Nguyễn Chí Bền (2015), Lễ hội cổ truyền của người Việt - Cấu trúc và thành tố,  
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 205.  
Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long (2013), Chùa Việt Nam, Nxb.  
Thế giới, Hà Nội, in lần thứ 5, tr. 10.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, Nxb. Sử học, 1962.  
2. Ngọc Hồ, Nhất Tâm (phiên dịch và tân chú), Việt Điện u linh tập lục toàn biên,  
Nxb. Sống Mới, Sài Gòn.  
3. Phạm Thị Thu Hương (2013), “Chùa “tiền Phật hậu Thánh” - Một dạng thức  
chùa/đền thờ độc đáo của người Việt”, Di sản văn hóa, số 4 (45), tr. 25-29.  
4. Bùi Duy Lan, Phạm Đức Duật (1985), Chùa Keo, Sở Văn hóa và Thông tin Thái  
Bình xuất bản.  
5. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long (2013), Chùa Việt Nam, Nxb.  
Thế giới, Hà Nội, in lần thứ 5.  
6. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga (dịch và chú thích), Thiền uyển tập anh, Nxb.  
Văn học, Hà Nội, 1990.  
7. Chu Quang Trứ (2012), Sáng giá chùa xưa Mỹ thuật Phật giáo, Nxb. Mỹ thuật,  
Hà Nội.  
Đỗ Thị Thanh Hương. Một vài đặc điểm về các ngôi chùa  
…
51  
8. Tạ Chí Đại Trường (2014), Thần, Người và Đất Việt, Nxb. Tri thức, Hà Nội, Nhã  
Nam phát hành.  
9. Nguyễn Quốc Tuấn (2000), “Mô hình Phật - Thánh qua chùa Bối Khê - Đại Bi  
(Hà Tây)”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 4, tr. 16-23.  
10. Nguyễn Quốc Tuấn (2012), Chùa Bối Khê nhìn từ khảo cổ học Phật giáo, Nxb.  
Từ điển Bách khoa, Hà Nội.  
Abstract  
CHARACTERISTICS OF BUDDHIST TEMPLES  
REVERING FOUR FAMOUS MONKS IN THE RED RIVER  
DELTA REGION, VIETNAM  
Dzo Thi Thanh Huong  
Government Committee of Religious Affairs  
The article mentions some basic characteristics of the Buddhist  
Temples dedicated to four famous monks (Từ Đạo Hạnh, Dương  
Không Lộ, Nguyễn Lý Giác Hải, and Nguyễn Minh Không) in the  
Red River Delta region, Vietnam such as history, architecture, and  
worshiping space. It shows that Buddhism, in the process of existence  
and development in Vietnam, has fused with the indigenous beliefs,  
formed the Buddhist temples with a architecture style of Buddha  
woshiping first and saint revering afterwards that created a unique  
combination between the Buddhist temples and the Deities temples.  
The model of the temple to worship four famous monks is a unique  
feature of the Red River Delta.  
Keywords: Four famous monks; religion fusion; Red River Delta.  
PHỤ LỤC  
CÁC NGÔI CHÙA THỜ TỨ VỊ THÁNH TỔ  
TT  
Tên Chùa  
Địa điểm  
Vị Thánh được thờ  
HÀ NỘI  
1
Chùa Láng  
Phố Chùa Láng, Đống Đa,  
Từ Đạo Hạnh  
2
Lý Quốc Sư  
Phố Lý Quốc Sư, Hoàn Nguyễn Minh Không  
Kiếm  
Từ Đạo Hạnh  
Nguyễn Giác Hải  
52  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
3
4
Chùa Tổng  
La Phù, Hoài Đức  
Từ Đạo Hạnh  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Giác Hải  
Chùa Ngũ Xá  
Trúc Bạch, Ba Đình  
Nguyễn Minh Không  
5
6
7
8
Chùa Thày  
Sài Sơn, Quốc Oai  
Ngọc Liệp, Quốc Oai  
79 Lò Đúc, Hà Nọi  
La Phù, Hoài Đức  
Từ Đạo Hạnh  
Từ Đạo Hạnh  
Nguyễn Minh Không  
Từ Đạo Hạnh  
Chùa Đồng Bụt  
Chùa Tổ Ông  
Chùa Cả La Phù  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Giác Hải  
9
Chùa La Phù  
La Phù, Hoài Đức  
Từ Đạo Hạnh  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Giác Hải  
Từ Đạo Hạnh  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Giác Hải  
Từ Đạo Hạnh  
10 Chùa Múa  
Dương Nội, Hà Đông  
Dương Nội, Hà Đông  
11 Chùa La Dương  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Giác Hải  
12 Chùa Quán Sứ  
Số 73 Quán sứ, Hoàn Dương Không Lộ  
Kiếm  
13 Chùa Bến Thôn  
14 Chùa Dị Nậu  
Dị Nậu, Thạch Thất  
Dị Nậu, Thạch Thất  
Từ Đạo Hạnh  
Từ Đạo Hạnh  
15 Chùa Linh Chung Canh Nậu, Thạch Thất  
Từ Đạo Hạnh  
Từ Đạo Hạnh  
16 Chùa Nền  
THÁI BÌNH  
Láng Thượng, Đống Đa  
17 Chùa Keo  
18 Chùa Phượng Vũ Minh Khai, Vũ Thư  
Đông Nhuệ, Vũ Thư  
Dương Không Lộ  
Từ Đạo Hạnh  
19 Chùa Hoá Long  
20 Chùa Am  
21 Chùa Nổi  
22 Chùa Bơn  
25 Chùa La Vân  
Quỳnh Thọ, Quỳnh Phụ  
Vũ Tây, Kiến Xương  
Vũ Tây, Kiến Xương  
Hồng Châu, Đông Hưng,  
Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ  
Nguyễn Minh Không  
Dương Không Lộ  
Dương Không Lộ  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Minh Không  
NAM ĐỊNH  
26 Chùa Keo  
Xuân Hồng, Xuân Trường  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Giác Hải  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Minh Không  
Dương Không Lộ  
Từ Đạo Hạnh  
27 Chùa Nội  
28 Chùa Cổ Lễ  
29 Chùa Tây Lạc  
Nam Thành, Nam Trực  
Thị trấn Cổ Lễ, Trực Ninh  
Đồng Sơn, Nam Trực  
Nguyễn Giác Hải  
Đỗ Thị Thanh Hương. Một vài đặc điểm về các ngôi chùa  
…
53  
30 Chùa Lương Hàn Việt Hùng, Trực Ninh  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Giác Hải  
Dương Không Lộ  
Dương Không Lộ  
Từ Đạo Hạnh  
Nguyễn Giác Hải  
Dương Không Lộ  
Từ Đạo Hạnh  
31 Chùa Vũ Lao  
32 Chùa Nam Hà  
33 Chùa Bi  
Tân Thành, Nam Trực  
Tân Thịnh, Nam Trực  
Nam Giang, Nam Trực  
Xuân Ninh, Xuân Trường  
34 Chùa Nghĩa Xá  
Lý Tường Đĩnh  
Dương Không Lộ  
Dương Không Lộ  
Dương Không Lộ  
35 Chùa Vị Khê  
36 Chùa Thanh Am  
37 Chùa Kim Quất  
Điền Xá, Nam Trực  
Nam Toàn, Nam Trực  
Trực Ninh, Nam Định  
38 Chùa Xuân Trung Xuân  
Trung,  
Xuân Nguyễn Minh Không  
Trường, Nam Định  
NINH BÌNH  
39 Chùa Điềm Giang Gia Thắng, Gia Viễn  
Nguyễn Minh Không  
Nguyễn Minh Không  
Nguyễn Minh Không  
Nguyễn Minh Không  
40 Chùa Địch Lộng  
41 Chùa Lạc Khoái  
Gia Thanh, Gia Viễn  
Gia Lạc, Gia Viễn  
42 Chùa Bái Đính (cổ) Tràng An, Hoa Lư  
43 Chùa, Đình Yên Vệ Khánh Phú, Ninh Bình  
Nguyễn Giác Hải  
Từ Đạo Hạnh  
Dương Không Lộ  
Nguyễn Minh Không  
44 Chùa  
Thượng  
Liêm Xích Thổ, Nho Quan  
CÁC TỈNH KHÁC (HƯNG YÊN, HẢI DƯƠNG, QUẢNG NINH, BẮC  
NINH, HÀ NAM)  
45 Chùa Ông  
Tân Quang, Văn Lâm, Từ Đạo Hạnh  
Hưng Yên  
46 Chùa Trông  
Hưng Long, Ninh Giang, Nguyễn Minh Không  
Hải Dương  
47 Chùa Quỳnh Lâm Hạ Lôi, Đông Triều, Nguyễn Minh Không  
Quảng Ninh  
48 Chùa Phả Lại  
49 Chùa Neo  
Đức Long, Quế Võ, Bắc Ninh Nguyễn Minh Không  
Xã Đại Đồng, huyện Tứ Nguyễn Minh Không  
Kỳ, Hải Dương  
50 Chùa Kính Chủ  
Xã An Sinh, huyện Kim Nguyễn Minh Không  
Môn  
51 Chùa Hàm Long  
52 Chùa Vân Mộng  
53 Chùa Hàn Sơn  
Thành phố Bắc Ninh  
Hà Nam  
Nga Sơn, Thanh Hóa  
Nguyễn Minh Không  
Nguyễn Minh Không  
Nguyễn Minh Không  
pdf 14 trang yennguyen 18580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một vài đặc điểm về các ngôi chùa thờ Tứ vị Thánh Tổ ở đồng bằng sông Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_vai_dac_diem_ve_cac_ngoi_chua_tho_tu_vi_thanh_to_o_dong.pdf