Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người cao tuổi huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2019

Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 03, Số 04-2019)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.03, No.04-2019)  
BÀI BÁO NGHIÊN CỨU GỐC  
Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người cao tuổi huyện Chương Mỹ,  
Hà Nội, năm 2019  
Nguyễn Hằng Nguyệt Vân1*, Nguyễn Thị Khánh Huyền2, Hà Ngọc Anh3, Vũ Thị Thanh Mai1,  
Phạm Quốc Thành1  
TÓM TẮT  
Già hóa dân số là một trong những xu hướng quan trọng nhất của thế kỷ 21. Các bằng chứng cho thấy về  
sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh, nhập viện, tử vong, và suy giảm chức năng liên quan đến các rối loạn tâm thần  
phổ biến ở người cao tuổi, trong đó rối loạn trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất.  
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mục đích 1) mô tả thực trạng trầm cảm và 2) xác định các yếu tố liên  
quan đến trầm cảm ở người cao tuổi huyện Chương Mỹ, Hà Nội năm 2019.  
Phương pháp: Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang trên 376 người cao tuổi (từ 60 trở lên) được chọn  
ngẫu nhiên tại huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2019.  
Kết quả: Tỷ lệ người cao tuổi được đánh giá trầm cảm là 26,1% (18,6% trầm cảm nhẹ, 6,1% trầm cảm  
vừa và 2,4% trầm cảm nặng). Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố liên quan đến trầm cảm người cao tuổi như  
giới tính, trình độ học vấn, kinh tế gia đình, hoàn cảnh sống, công việc hiện tại, nhu cầu được hỗ trợ tâm  
lý và có tham gia các hoạt động xã hội (p<0,05).  
Kết luận: Việc nhận biết trầm cảm ở người cao tuổi là quan trọng để thiết kế các chương trình y tế công  
cộng giúp sàng lọc bệnh trầm cảm sớm, tăng cường các hỗ trợ xã hội để cải thiện đời sống tinh thần của  
người cao tuổi.  
Từ khoá: trầm cảm, người cao tuổi, PHQ-9.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
viện và suy giảm chức năng liên quan đến các  
rối loạn tâm thần phổ biến ở người cao tuổi  
(1), trong đó rối loạn trầm cảm là một trong  
những rối loạn tâm thần phổ biến nhất với tỷ  
lệ mắc từ 30% đến 86%, đặc biệt là tại các  
viện dưỡng lão (2-8). Trầm cảm hay gặp ở  
người cao tuổi nhưng thường bị coi nhẹ và  
không được điều trị, vì chúng xảy ra cùng lúc  
với các vấn đề khác hay gặp phải ở người cao  
tuổi (9). Tỷ lệ trầm cảm ở người cao tuổi có  
sự thay đổi đáng kể giữa các quốc gia và dân  
Già hóa dân số đang đặt ra nhiều thách thức  
cho mỗi quốc gia trên các mặt xã hội, kinh tế  
và y tế. Các nghiên cứu cho thấy nhiều người  
già đang bị mất đi khả năng sống một cách  
độc lập vì họ bị hạn chế về vận động, yếu về  
thể chất hoặc các vấn đề về sức khỏe tâm thần  
khác mà đòi hỏi phải có sự chăm sóc lâu dài.  
Các bằng chứng trên thế giới cũng cho thấy  
sự gia tăng về tỷ lệ mắc bệnh, tử vong, nhập  
*Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Hằng Nguyệt Vân  
1Trường Đại học Y tế công cộng  
2Viện Dân số sức khoẻ và phát triển  
3Vụ Sức khoẻ Bà mẹ- Trẻ em, Bộ Y tế  
Ngày nhận bài: 14/11/2019  
Ngày phản biện: 02/12/2019  
Ngày đăng bài: 31/12/2019  
14  
Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 03, Số 04-2019)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.03, No.04-2019)  
số cao tuổi khác nhau, nhưng phần lớn các  
nghiên cứu chỉ ra rằng trầm cảm ở người cao  
tuổi có liên quan nhiều đến tình trạng người  
cao tuổi bị rối loạn giấc ngủ (10), và có nhận  
thức kém hơn (11), hay đang gặp phải các vấn  
đề sức khoẻ khác (2, 12-15). Tại Việt Nam,  
trầm cảm cũng là một trong những bệnh lý  
tâm thần phổ biến ở người cao tuổi, tỷ lệ bệnh  
này gia tăng theo độ tuổi (16). Một nghiên  
cứu gần đây về thực trạng trầm cảm ở người  
cao tuổi sống ở Hà Nội cho kết quả là 66,9%  
người bị trầm cảm (trong đó 32,8% ở mức  
độ nhẹ, 30,4% ở mức độ trung bình và 3,7%  
ở mức độ nặng) (17). Tuy nhiên, sức khỏe  
tâm thần của người cao tuổi tại Việt Nam nói  
chung và vấn đề trầm cảm ở người già vẫn  
chưa được quan tâm đúng mức khi không có  
nhiều nghiên cứu về vấn đề này.  
khăn trong giao tiếp (khiếm thính, khiếm thị)  
không thể tham gia phỏng vấn.  
Cỡ mẫu, chọn mẫu và phương pháp thu  
thập số liệu  
Áp dụng công thức ước tính một tỷ lệ, tính  
toán cỡ mẫu tối thiểu là 340, dự phòng 10%,  
nên số mẫu phỏng vấn là 376. Nghiên cứu  
chọn mẫu theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 nhóm  
nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 2 xã trong đó sẽ  
có 1 xã nằm trong nhóm xã có kinh tế phát  
triển nhất trong huyện và 1 xã nằm trong nhóm  
xã có kinh tế phát triển thấp hơn trong huyện.  
Giai đoạn 2, tại mỗi xã, chúng tôi sẽ chọn ngẫu  
nhiên 190 người cao tuổi để gửi giấy mời tham  
gia nghiên cứu. Tỷ lệ người cao tuổi tham gia  
đạt 98,9%. Sau đó, các điều tra viên đã được  
tập huấn đã phỏng vấn trực tiếp người cao tuổi  
để đánh giá tâm trạng của họ bằng bảng hỏi.  
Nghiên cứu này được thực hiện trên nhóm  
đối tượng người cao tuổi tại Chương Mỹ, một  
huyện ngoại thành Hà Nội, với mục tiêu: 1)  
Mô tả thực trạng trầm cảm ở người cao tuổi  
và 2) Xác định một số yếu tố liên quan đến  
thực trạng trầm cảm ở người cao tuổi huyện  
Chương Mỹ, năm 2019.  
Biến số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá  
Các biến số chính được thu thập trong bảng  
hỏi phỏng vấn bao gồm: thông tin chung của  
đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới, trình độ học  
vấn, điều kiện sống …), đánh giá về tâm trạng  
của người cao tuổi theo thang đo trầm cảm  
The patient Health Questionare (PHQ-9),  
gồm 9 câu hỏi về cảm nhận của người cao  
tuổi trong 2 tuần qua. Để đánh giá có bị trầm  
cảm hay không và trầm cảm ở mức độ nào  
cần cộng điểm của tất cả các câu từ 1 đến 9,  
tổng điểm cao nhất sẽ là 27 điểm. Kết quả  
đánh giá về mức độ trầm cảm theo tổng điểm  
là 27 điểm (0-4 điểm: Không trầm cảm; 5-9  
điểm: Triệu chứng tối thiểu, có nguy cơ; 10-  
14 điểm: Trầm cảm nhẹ; 15-19 điểm: Trầm  
cảm vừa; trên 19 điểm: Trầm cảm nặng).  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang.  
Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Từ  
tháng 07/2019-10/2019 tại huyện Chương  
Mỹ, Hà Nội  
Đối tượng nghiên cứu  
Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) đang sinh  
sống tại khu vực nghiên cứu và đồng ý tham  
Xử lý và phân tích số liệu  
gia nghiên cứu. Loại trừ những người cao tuổi Số liệu được nhập vào máy bằng phần mềm  
không đủ sức khỏe (bệnh nặng) hoặc có khó  
EPIDATA 3.1, làm sạch và phân tích bằng  
15  
Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 03, Số 04-2019)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.03, No.04-2019)  
phần mềm STATA 14.0. Thống kê mô tả được chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm tuổi 60-69 (47,3%).  
sử dụng để tìm hiểu thực trạng trầm cảm ở  
người cao tuổi và thống kê suy luận (kiểm  
định khi bình phương, hồi quy logistic) được  
sử dụng để xác định các mối liên quan.  
Phần lớn người cao tuổi tham gia nghiên cứu  
không theo tôn giáo, người cao tuổi theo công  
giáo chỉ chiếm 5,1%. Đa số người cao tuổi có  
trình độ học vấn dưới THPT, trong đó tỷ lệ  
người cao tuổi không biết chữ chiếm 13,8%,  
nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt có  
ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn của  
người cao tuổi theo giới (p=0,004).  
Đạo đức nghiên cứu  
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo  
đức trường Đại học Y tế công cộng theo quyết  
định mã số 406/2019/YTCC-HD3 và được sự  
chấp thuận của Trung tâm y tế huyện Chương  
Mỹ, Trạm y tế và Hội Người cao tuổi hai xã  
Đại Yên và Tốt Động trước khi triển khai thu  
thập số liệu. Các số liệu được bảo mật thông  
tin cá nhân và chỉ phục vụ cho nghiên cứu.  
Về tình trạng hôn nhân, 75,5% người cao tuổi  
tham gia nghiên cứu đã kết hôn, 22,3% người  
goá vợ/chồng, số ít còn lại chưa từng kết hôn  
hoặc ly hôn. Sự khác biệt về tình trạng hôn  
nhân theo giới cũng được chỉ ra là có ý nghĩa  
thống kê (p<0,001). Ngoài ra, phần lớn người  
cao tuổi đang sống cùng gia đình và người  
thân (93,1%), tỷ lệ này cao hơn ở nam giới  
(p<0,05).  
KẾT QUẢ  
Đặc điểm chung của đối tượng tham gia  
nghiên cứu  
Trong số người cao tuổi tham gia nghiên cứu,  
có 50,3% người cao tuổi vẫn đang tham gia  
làm việc, tỷ lệ này khá tương đồng ở cả hai  
giới (51,6% và 49,6%). Bên cạnh đó, hầu hết  
người cao tuổi trong nghiên cứu không thuộc  
diện hộ nghèo/cận nghèo (94,4%).  
Nghiên cứu được thực hiện trên 376 người cao  
tuổi tại huyện Chương Mỹ, Hà Nội (33,5%  
nam và 66,5% nữ), với độ tuổi trung bình  
là 71,6 (SD=7,9). Nhóm tuổi 70-95 (52,7%)  
Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu (N=376)  
Tổng số  
n (%)  
Nam  
n (%)  
Nữ  
n (%)  
Biến số  
p
Tổng số  
376 (100)  
126 (33,5)  
250 (66,5)  
Tuổi (TB ± SD)  
Nhóm tuổi  
60-69  
71,6 ± 7,9  
178 (47,3)  
198 (52,7)  
63 (50)  
63 (50)  
115 (46)  
135 (54)  
0,46  
0,63  
70-95  
Tôn giáo  
Không tôn giáo  
Có tôn giáo  
293 (77,9)  
83 (22,1)  
100 (79,4)  
26 (20,6)  
193 (77,2)  
57 (22,8)  
16  
Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 03, Số 04-2019)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.03, No.04-2019)  
Tổng số  
n (%)  
Nam  
n (%)  
Nữ  
n (%)  
Biến số  
p
Trình độ học vấn  
Dưới THPT  
323 (85,9)  
53 (14,1)  
99 (78,6)  
27 (21,4)  
224 (89,6)  
26 (10,4)  
0,004  
Từ THPT trở lên  
Tình trạng hôn nhân  
Chưa kết hôn/Ly hôn/Goá  
Đã kết hôn  
0,000  
0,72  
92 (24,5)  
7 (5,6)  
85 (34,0)  
284 (75,5)  
119 (94,4)  
165 (66,0)  
Công việc hiện tại  
Không làm gì  
187 (49,7)  
189 (50,3)  
61 (48,4)  
65 (51,6)  
126 (50,4)  
124 (49,6)  
Đang làm việc  
Hoàn cảnh sống  
Sống một mình  
26 (6,9)  
4 (3,2)  
22 (8,8)  
0,042  
0,55  
Sống cùng gia đình/người thân  
Kinh tế gia đình  
Nghèo/Cận nghèo  
Không nghèo  
350 (93,1)  
122 (96,8)  
228 (91,2)  
25 (6,6)  
7 (5,6)  
18 (7,2)  
351 (93,4)  
119 (94,4)  
232 (92,8)  
Thực trạng chứng trầm cảm của người  
cao tuổi tại huyện Chương Mỹ theo thang  
đo PHQ-9  
và 2,4% trầm cảm nặng). Nếu tính cả tỷ lệ  
người cao tuổi có triệu chứng trầm cảm tối  
thiểu thì tỷ lệ này lên đến 66,2%. Trong đó,  
tỷ lệ người cao tuổi nữ được sàng lọc là trầm  
cảm cao hơn so với người cao tuổi nam ở tất  
cả các mức độ trầm cảm.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người cao  
tuổi được đánh giá trầm cảm là 26,1% (trong  
đó 18,6% trầm cảm nhẹ, 6,1% trầm cảm vừa  
Bảng 2. Đánh giá mức độ trầm cảm theo thang điểm PHQ-9 theo giới tính  
Tổng  
Nam  
Nữ  
Mức độ trầm cảm  
N
127  
151  
70  
%
n
62  
46  
14  
3
%
n
%
Không trầm cảm (điểm 0-4)  
Trầm cảm tối thiểu (điểm 5-9)  
Trầm cảm nhẹ (điểm 10-14)  
Trầm cảm vừa (Điểm 15-19)  
Trầm cảm nặng (Điểm >19)  
33,8  
40,2  
18,6  
5,0  
49,2  
65  
26  
36,5 105 42,0  
11,1  
2,4  
56  
16  
8
22,4  
6,4  
19  
9
2,4  
1
0,8  
3,2  
17  
Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 03, Số 04-2019)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.03, No.04-2019)  
Một số yếu tố liên quan đến thực trạng trầm cảm ở người cao tuổi  
Bảng 3. Các yếu tố liên quan đến đánh giá trầm cảm của người cao tuổi  
OR  
hiệu  
chỉnh  
Có trầm  
cảm  
Đặc điểm  
OR thô p (95%CI)  
p (95%CI)  
Nam  
Nữ  
18 (14,3)  
80 (32,0)  
41 (23,0)  
57 (28,8)  
5 ( 9,43)  
93 (28,8)  
72 (24,6)  
26 (31,3)  
85 (24,2)  
13 (52)  
Giới tính  
0,0002  
2,82  
0,006  
(0,25-1,51)  
2,72  
(1,58-5,03)  
60-69  
70-95  
Nhóm tuổi  
0,2  
1,35  
-
2,29  
-
-
(0,85-2,15)  
Từ THPT trở lên  
Dưới THPT  
Trình độ học  
vấn  
0,003  
3,88  
0,02  
(0,18-2,34)  
(1,48-10,2)  
Không tôn giáo  
Tôn giáo  
Phật giáo/Thiên  
chúa giáo  
0,21  
1,4  
-
(0,82-2,39)  
Không nghèo  
Kinh tế gia  
đình  
Nghèo/Cận  
nghèo  
0,002  
3,39  
0,009  
(0,32-2,24)  
2,62  
-
(1,47-7,8)  
Đã kết hôn  
68 (23,9)  
30 (32,6)  
Tình trạng  
hôn nhân  
Chưa kết hôn/Ly  
thân/Goá  
0,1  
1,54  
-
(0,92-2,68)  
Sống với gia  
đình/người thân  
81 (23,1)  
Hoàn cảnh  
sống  
0,000  
6,3  
0,000  
(1,3-3,46)  
Sống một mình  
Đang làm việc  
Không làm gì  
Không  
17 (65,4)  
38 (20,1)  
60 (32,9)  
43 (19,2)  
55 (36,18)  
4,32  
-
(2,62-15,0)  
Công việc  
hiện tại  
0,008  
1,87  
-
(1,17-3,02)  
Mong muốn  
được hỗ trợ  
về tâm lý  
0,0002  
2,39  
0,000  
(0,44-1,53)  
Có  
3,54  
(1,48-3,85)  
Đã thăm  
khám và  
Không  
4 (9,52)  
điều trị sức  
khoẻ trong  
12 tháng qua  
0,01  
3,72  
0,01  
(0,29-2,54)  
Có  
94 (28,14)  
57 (32,6)  
41 (20,4)  
2,48  
-
(1,27-10,8)  
Tham gia  
hoạt động xã  
hội tại địa  
phương  
Có  
0,007  
1,89  
Không  
-
(1,17-3,02)  
Mô hình hồi quy đa biến: N-376, χ2=77,4, p=0,0000  
18  
Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 03, Số 04-2019)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.03, No.04-2019)  
cảm tại là 26,1% (trong đó 18,6% trầm cảm  
Phân tích hồi quy logistic đơn biến (mức ý nghĩa  
α=0,05) được tiến hành với biến phụ thuộc là nhẹ, 6,1% trầm cảm vừa và 2,4% trầm cảm  
có trầm cảm, biến độc lập là các biến yếu tố cá nặng). Tuy nhiên, nếu bao gồm cả tỷ lệ người  
nhân và các hành vi liên quan đến cá nhân. Kết  
quả phân tích hồi quy đơn biến cho thấy có 08  
yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm như  
trình bày ở bảng 3 đã được đưa vào mô hình hồi  
quy đa biến. Yếu tố công việc hiện tại sau khi  
đưa vào mô hình hồi quy logistic đa biến không  
còn ý nghĩa thống kê do ảnh hưởng của yếu  
tố nhiễu toàn phần. Do mô hình đã kiểm soát  
các biến gây nhiễm nên cũng thay đổi OR hiệu  
chỉnh của các yếu tố thực sự có tác động đến  
có trầm cảm. Cụ thể, về yếu tố cá nhân, nữ có  
nguy cơ trầm cảm cao hơn 2,05 lần nam (1,58-  
5,03). Tỷ lệ trầm cảm ở người cao tuổi có trình  
độ học vấn dưới THPT cao hơn so với nhóm  
người cao tuổi có trình độ học vấn từ THPT trở  
lên với OR=3,03 (1,48-10,2). Tỷ lệ trầm cảm  
trong nhóm người cao tuổi nghèo/cận nghèo  
cao gấp 3,4 lần so với nhóm người cao tuổi có  
kinh tế gia đình không nghèo. Đặc biệt, về hoàn  
cảnh sống, tỷ lệ trầm cảm ở nhóm người cao  
tuổi sống một mình cao gấp 6,8 lần so với nhóm  
người cao tuổi sống cùng gia đình/người thân.  
Về hành vi liên quan đến cá nhân: Tỷ lệ trầm  
cảm ở nhóm người cao tuổi đã thăm khám và  
điều trị sức khoẻ trong 12 tháng qua cao hơn  
gấp 4,03 lần so với nhóm còn lại. Những người  
cao tuổi đang mong muốn được hỗ trợ tâm  
lý có tỷ lệ trầm cảm hơn so với nhóm còn lại  
với OR=2,37 (1,4-4,01). Nhóm người cao tuổi  
không tham gia hoạt động xã hội tại địa phương  
có tỷ lệ trầm cảm cao so với nhóm đang tham  
gia với OR=1,74 (1,02-2,97).  
cao tuổi có các triệu chứng tối thiểu, có nguy  
cơ trầm cảm, thì con số này lên tới 66,2%. Kết  
quả này tương đối tương đồng tỷ lệ người cao  
tuổi được sàng lọc trầm cảm bằng bộ công cụ  
Zung SDS tại phường Trung Tự, Đống Đa,  
Hà Nội năm 2018 (66,9%). Tỷ lệ người cao  
tuổi được xác định trầm cảm trong nghiên  
cứu của chúng tôi cũng nằm trong khoảng tỷ  
lệ mắc từ 30% đến 86% của các nghiên cứu  
gần đây trên thế giới (2-8).  
Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở  
người cao tuổi huyện Chương Mỹ, Hà Nội  
Tỷ lệ người cao tuổi là nữ được sàng lọc là  
trầm cảm cao hơn hẳn so với nam giới, sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê trong nghiên  
cứu này, hoàn toàn tương đồng với nghiên  
cứu về sự khác biệt giới về mức độ trầm cảm  
ở người cao tuổi tại Kiến Xương, Thái Bình,  
năm 2013 (18). Các yếu tố về giới tính (nam  
giới), nhóm tuổi trẻ hơn, có thu nhập cao hơn,  
và không mắc các bệnh mạn tính khiến người  
cao tuổi có sức khoẻ tầm thần tốt hơn cũng  
được chứng minh ở nhóm người cao tuổi tại  
Nam Phi (7).  
Nghiên cứu ở Trung Quốc đã chỉ ra rằng  
nhóm người già sống cùng vợ chồng/người  
thân có khả năng hoạt động xã hội và chỉ  
số cảm xúc và tinh thần cao hơn hẳn so với  
nhóm người già sống một mình (19). Nghiên  
cứu của chúng tôi cũng tìm ra mối liên quan  
có ý nghĩa thống kê giữa việc trầm cảm và  
hoàn cảnh sống của người cao tuổi. Như vậy  
có thể thấy các tương tác trong gia đình có thể  
thúc đẩy giá trị của người cao tuổi và có vai  
trò bảo vệ đối với các đầu ra về sức khỏe tâm  
thần ở nhóm người cao tuổi. Báo cáo gần đây  
tại Ấn Độ trên 3083 người trên 60 tuổi năm  
2018 cũng chỉ ra môi trường sống có mối liên  
BÀN LUẬN  
Thực trạng trầm cảm ở người cao tuổi  
huyện Chương Mỹ, Hà Nội  
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người cao  
tuổi tại huyện Chương Mỹ được đánh giá trầm  
19  
Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 03, Số 04-2019)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.03, No.04-2019)  
tham gia các hoạt động xã hội và làm việc  
để tăng các tương tác xã hội để cải thiện sức  
khoẻ tâm thần. Ngoài ra, cũng cần có các  
chương trình can thiệp phù hợp để tác động  
làm thay đổi nhận thức, thái độ của người  
cao tuổi, hướng đến thực hiện hành vi tích  
cực; qua đó góp phần giảm thiểu gánh nặng  
trầm cảm ở người cao tuổi tại địa phương.  
Những yếu tố liên quan như giới tính, trình  
độ học vấn, kinh tế gia đình, đã thăm khám  
và điều trị sức khỏe trong 12 tháng qua, đây  
sẽ là các chỉ báo để các cơ quan chức năng  
(trung tâm y tế, Hội người cao tuổi, y tế địa  
phương) quan tâm theo dõi, thăm hộ gia đình  
và tiến hành sàng lọc sớm bằng cách sử dụng  
các bộ câu hỏi sàng lọc cho người già trong  
cộng đồng (PHQ-9) một cách thường xuyên,  
để phát hiện sớm trầm cảm thay vì chẩn đoán  
ở giai đoạn muộn, để giảm gánh nặng bệnh  
tật cho gia đình và xã hội.  
quan đến sức khỏe tâm thần của nhóm người  
cao tuổi, tỷ lệ trầm cảm cao hơn ở phụ nữ và  
gia đình neo đơn (20).  
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người  
có lịch sử trầm cảm và tiền sử lo âu có mối  
liên quan đến nhu cầu được hỗ trợ về tâm lý.  
Các mức độ trầm cảm cũng liên quan đến sức  
khoẻ thể chất kém và các rối loạn lo âu, đặc  
biệt là khi các triệu chứng nhiều hơn sẽ thúc  
đẩy các cá nhân có nhu cầu được chăm sóc  
sức khoẻ tâm thần (21-23). Điều này hoàn  
toàn phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi,  
khi mà nhóm người cao tuổi mong muốn  
được trợ giúp về tâm lý và đã thăm khám và  
điều trị sức khoẻ trong 12 tháng qua có tỷ lệ  
sàng lọc là trầm cảm cao hơn so với nhóm còn  
lại được chỉ ra là có ý nghĩa thống kê.  
Bên cạnh đó, việc tham gia các hoạt động xã  
hội ý nghĩa góp phần tạo nên tuổi già khoẻ  
mạnh. Người cao tuổi tích cực tham gia các  
hoạt động xã hội và tương tác xã hội sẽ cải  
thiện sức khoẻ thể chất và tâm thần, ít có khả  
năng bị trầm cảm hơn (17, 24). Nghiên cứu  
này cũng một lần nữa khẳng định, người cao  
tuổi hiện không làm việc và không tham gia  
vào các hoạt động xã hội có tỷ lệ trầm cảm  
cao hơn so với nhóm còn lại. Như vậy tương  
tác xã hội và tham gia các hoạt động xã hội  
mang lại lợi ích về sức khoẻ tâm thần và sự  
hài lòng về cuộc sống cho người cao tuổi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Parkar SR. Elderly Mental Health: Needs.  
Mens Sana Monogr [Internet]. 2015 [cited 10  
December 2018];13(1):91–9. Available at:  
PMC4381326/  
2. Sarokhani D, Parvareh M, Hasanpour Dehkordi  
A, Sayehmiri K, Moghimbeigi A. Prevalence of  
Depression among Iranian Elderly: Systematic  
Review and Meta-Analysis. Iran J Psychiatry.  
Jan 2018;13(1):55–64.  
3. Nakulan A, Sumesh TP, Kumar S, Rejani PP,  
Shaji KS. Prevalence and risk factors for  
depression among community resident older  
people in Kerala. Indian J Psychiatry [Internet].  
2015 [cited 19 Jan 2019];57(3):262–6.  
pmc/articles/PMC4623644/  
4. Nazemi L, Skoog I, Karlsson I, Hosseini S,  
HosseiniM, HosseinzadehMj, etal. Depression,  
Prevalence and Some Risk Factors in Elderly  
Nursing Homes in Tehran, Iran. Iran J Public  
Health [Internet]. 1 June 2013 [cited 19 Jan  
ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3744252/  
KẾT LUẬN  
Tỷ lệ người cao tuổi tại huyện Chương Mỹ  
được đánh giá trầm cảm là 26,1% (trong đó  
18,6% trầm cảm nhẹ, 6,1% trầm cảm vừa và  
2,4% trầm cảm nặng). Dựa trên những yếu  
tố liên quan đã tìm hiểu được trong nghiên  
cứu này, chúng tôi đề xuất những khuyến  
nghị cụ thể như sau: Người cao tuổi nên  
sống cùng gia đình/người thân, tích cực  
20  
Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 03, Số 04-2019)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.03, No.04-2019)  
5. Ma X, Xiang Y-T, Li S-R, Xiang Y-Q,  
Guo H-L, Hou Y-Z, et al. Prevalence and  
sociodemographic correlates of depression  
in an elderly population living with family  
members in Beijing, China. Psychol Med.  
December 2008;38(12):1723–30.  
Soc Australas. Jan 2018;47:1–5.  
15. Bauer H, Emeny RT, Baumert J, Ladwig K-H.  
Resilience moderates the association between  
chronic pain and depressive symptoms in the  
elderly. EurJPainLondEngl. 2016;20(8):1253–  
65.  
6. Imran A, Azidah AK, Asrenee AR, Rosediani  
M. Prevalence of depression and its associated  
factors among elderly patients in outpatient  
clinic of Universiti Sains Malaysia Hospital.  
Med J Malaysia. June 2009;64(2):134–9.  
7. Peltzer K, Phaswana-Mafuya N. Depression and  
associatedfactors inolderadultsinSouthAfrica.  
GlobHealthAction[Internet].1June2013[cited  
11 December 2018];6(s6):18871. Available at:  
gha.v6i0.18871%40zgha20.2013.6.issue-s6  
8. Kitchen KA, McKibbin CL, Wykes TL, Lee  
AA, Carrico CP, McConnell KA. Depression  
Treatment Among Rural Older Adults:  
Preferences and Factors Inꢀuencing Future  
Service Use. Clin Gerontol [Internet]. 2013  
[cited 19 Jan 2019];36(3). Available at:  
PMC3881270/  
16. General Ofꢁce for Population Family Planning.  
Overview report on the care policies for the  
aged adapt changing age structure in Vietnam.  
2009.  
17. Dao ATM, Nguyen VT, Nguyen HV, Nguyen  
LTK. Factors Associated with Depression  
among the Elderly Living in Urban Vietnam.  
BioMed Res Int. 2018;2018:2370284.  
18. Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Huy. Sự khác  
biệt giới và một số yéu tố ảnh hưởng đến trầm  
cảm ở người cao tuổi tại 3 xã thuộc huyện Kiến  
Xương, tỉnh Thái Bình, năm 2013. Tạp chí Y  
học cộng đồng. Tháng Ba 2014;05:19–23.  
19. Chao J, Li Y, Xu H, Yu Q, Wang Y, Liu P.  
Health status and associated factors among the  
community-dwelling elderly in China. Arch  
Gerontol Geriatr [Internet]. 2013 [cited 11  
Dec 2018];56(1):199–204. Available at: http://  
europepmc.org/abstract/med/23102740  
9. Yasamy MT, Dua T, Harper M, Saxena S.  
Mental Health of the Elderly.6.  
20. Sengupta P, Benjamin AI. Prevalence of  
depression and associated risk factors among  
the elderly in urban and rural ꢁeld practice areas  
of a tertiary care institution in Ludhiana. Indian  
Journal Public Health. Mar 2015;59(1):3–8.  
21. Burns BJ, Ryan Wagner H, Gaynes BN,  
Wells KB, Schulberg HC. General medical  
and specialty mental health service use for  
major depression. Int Journal Psychiatry Med.  
2000;30(2):127–43.  
22. Ronalds C, Kapur N, Stone K, Webb S,  
Tomenson B, Creed F. Determinants of  
consultation rate in patients with anxiety and  
depressive disorders in primary care. Fam  
Pract. Feb 2002;19(1):23–8.  
23. Van Voorhees BW, Fogel J, Houston TK,  
Cooper LA, Wang N-Y, Ford DE. Attitudes and  
illness factors associated with low perceived  
need for depression treatment among young  
adults. Soc Psychiatry Psychiatr Epidemiol.  
Sep 2006;41(9):746–54.  
24. Chiao C, Weng L-J, Botticello AL. Social  
participation reduces depressive symptoms  
among older adults: an 18-year longitudinal  
analysis in Taiwan. BMC Public Health. 10  
May 2011;11:292.  
10. Press Y, Punchik B, Freud T. The association  
between subjectively impaired sleep and  
symptoms of depression and anxiety in a frail  
elderly population. Aging Clin Exp Res. July  
2018;30(7):755–65.  
11. Baiyewu O, Smith-Gamble V, Lane KA, Gureje  
O, Gao S, Ogunniyi A, và c.s. Prevalence  
estimates of depression in elderly community-  
dwellingAfricanAmericans in Indianapolis and  
Yoruba in Ibadan, Nigeria. Int Psychogeriatr.  
Aug 2007;19(4):679–89.  
12. Hornsten C, Molander L, Gustafson Y. The  
prevalence of stroke and the association  
between stroke and depression among a very  
old population. Arch Gerontol Geriatr. Dec  
2012;55(3):555–9.  
13. Liguori I, Russo G, Curcio F, Sasso G, Della-  
Morte D, Gargiulo G, et al. Depression  
and chronic heart failure in the elderly: an  
intriguing relationship. J Geriatr Cardiol JGC.  
June 2018;15(6):451–9.  
14. Zhang Y, Chen Y, Ma L. Depression and  
cardiovascular disease in elderly: Current  
understanding. J Clin Neurosci Off J Neurosurg  
21  
Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự  
Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển (Tập 03, Số 04-2019)  
Journal of Health and Development Studies (Vol.03, No.04-2019)  
Factors associated with depression among the elderly living in Chuong My  
district, Hanoi, 2019  
Nguyen Hang Nguyet Van1*, Nguyen Thi Khanh Huyen2, Ha Ngoc Anh3,  
Vu Thị Thanh Mai1, Pham Quoc Thanh1  
1Hanoi University of Public Health  
2The Institute of Population, Health and Development  
3Maternal and Child Health Department, Ministry of Health  
Background: Population aging is one of the most important trends of the 21st century. Evidence  
shows an increase in morbidity, hospitalization, mortality, and functional impairment associated  
with mental disorders in the elderly, in which depressive disorder is one of the most common  
mental disorders. Objectives: This study aims to 1) describe the situation of depression and 2)  
analyze some related factors in the elderly with depression in Chuong My district, Hanoi, 2019.  
Methods: A cross-sectional study was conducted on 376 elderly people (aged 60 and older)  
who were randomly selected in Chuong My District, Hanoi, 2019. Results: The results showed  
that the proportion of elderly people with depression was 26.1% (18.6% of minor depression,  
6.1% of moderate depression and 2.4% of major depression). Factors related to depression in  
the elderly such as gender, education, family economy, living arrangement, current jog, the  
need for psychological support and participation in social activities were statistically signiꢁcant  
(p<0.05). Conclusions: Recognizing depression among the elderly – which is individual and  
social – helps us design public health programs. Screening for early depression, encourage and  
increase acesssing the mental health services to improve mental life of the elderly.  
Key words: depression, elderly people, PHQ-9.  
22  
pdf 9 trang yennguyen 20580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người cao tuổi huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_lien_quan_den_tram_cam_o_nguoi_cao_tuoi_huyen.pdf