Mối liên quan giữa đa hình rs1801321 gen RAD51 và nguy cơ mắc ung thư buồng trứng
DOI: 10.31276/VJST.63(5).01-05
Khoa học Y - Dược
Mối liên quan giữa đa hình rs1801321 gen RAD51
và nguy cơ mắc ung thư buồng trứng
Lê Nguyễn Trọng Nhân1, 2, Nguyễn Thu Thúy2, Nguyễn Quý Linh2,
Trần Vân Khánh2*, Trần Huy Thịnh2, Tạ Thành Văn2, Nguyễn Viết Tiến2
1Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau
2Trường Đại học Y Hà Nội
Ngày nhận bài 5/11/2020; ngày chuyển phản biện 8/11/2020; ngày nhận phản biện 17/12/2020; ngày chấp nhận đăng 31/12/2020
Tóm tắt:
Ung thư buồng trứng là một trong những bệnh lý phụ khoa ác tính phổ biến. Gen RAD51 tham gia vào quá trình tái
tổ hợp tương đồng, sửa chữa đứt gãy sợi đôi DNA, do đó những đa hình và đột biến của gen RAD51 có thể liên quan
đến nguy cơ mắc ung thư. Bằng mô hình phân tích bệnh chứng, nhóm tác giả đã nghiên cứu xem liệu đa hình đơn
nucleotide rs1801321 gen RAD51 có liên quan đến nguy cơ ung thư buồng trứng ở phụ nữ Việt Nam hay không. 380
bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư buồng trứng và 380 người phụ nữ khỏe mạnh đã tham gia vào nghiên cứu.
Các kiểu gen đa hình rs1801321 của các đối tượng nghiên cứu được xác định bằng kỹ thuật PCR-RFLP (Polymerase
Chain Reaction - Restriction Fragment Length Polymorphism). Tỷ lệ các kiểu gen GG, GT, TT được xác định lần
lượt ở nhóm bệnh là 55,3; 29,2; 15,5% và ở nhóm đối chứng là 47,9; 41,8; 10,3%, có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữa hai nhóm với p=0,001. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa hình đơn nucleotide rs1801321 gen RAD51 có liên
quan đến nguy cơ mắc ung thư buồng trứng ở phụ nữ Việt Nam.
Từ khóa: đa hình đơn nucleotide, G172T, RAD51, rs1801321, ung thư buồng trứng.
Chỉ số phân loại: 3.1
vùng không mã hóa 5’-UTR trên gen RAD51 là vị trí điều hòa của
Đặt vấn đề
vùng khởi động phiên mã, liên quan đến sự biểu hiện mRNA, do
Trong số các bệnh lý ác tính ở phụ nữ, ung thư buồng trứng có
đó ảnh hưởng đến nồng độ và chức năng của protein RAD51 [6].
tỷ lệ mắc mới và tử vong cao trên toàn thế giới. Riêng ở Việt Nam,
Nhiều nghiên cứu nhận định, SNP rs1801321 là một yếu tố nguy
năm 2018, số ca ung thư buồng trứng là 1500, với 856 ca tử vong
cơ đối với một số bệnh ung thư khác nhau như ung thư vú, ung thư
[1]. Nguyên nhân ung thư buồng trứng vẫn còn chưa rõ ràng và
nội mạc tử cung, ung thư đại trực tràng, ung thư biểu mô miệng,
có nhiều yếu tố nguy cơ, trong đó yếu tố di truyền đã được chứng
vòm họng và ung thư buồng trứng [7-12]. Tuy nhiên, các nghiên
minh là đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành ung thư
cứu về SNP này chủ yếu trên các cộng đồng người châu Âu và hiện
buồng trứng.
nay chưa có nghiên cứu nào về vai trò của SNP rs1801321 đối với
ung thư buồng trứng ở cộng đồng người Việt Nam. Nghiên cứu
của chúng tôi nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ đa hình đơn nucleotide
rs1801321 gen RAD51 ở bệnh nhân ung thư buồng trứng và tìm
hiểu mối liên quan của nó với nguy cơ mắc ung thư buồng trứng
ở phụ nữ Việt Nam.
Sự đứt gãy sợi đôi DNA (double strand breaks of DNA-DSBs)
là tổn thương nguy hiểm nhất của DNA. Nếu không được sửa
chữa, sự tích lũy của chúng làm mất ổn định hệ gen và dẫn đến
phát triển nhiều bệnh ung thư khác nhau [2]. Gen RAD51 mã hóa
protein RAD51 tham gia và đóng vai trò quan trọng trong quá
trình sửa chữa tái tổ hợp tương đồng (Homologous recombination
repair) nhằm phục hồi những tổn thương DNA [3, 4]. Các dữ liệu
cho thấy, nồng độ RAD51 không tăng ở các tế bào bình thường.
Raderschall và cs (2002) [5] chỉ ra rằng nồng độ RAD51 ở các tế
bào ung thư tăng liên quan đến sự mất ổn định gen và quá trình tái
tổ hợp tương đồng bất thường, có lẽ là dấu hiệu xuất hiện quá nhiều
tổn thương DNA. Sự thay đổi trong tổng hợp RAD51 thường bắt
đầu từ sự thay đổi trong phiên mã mRNA, và đa hình thái gen có
thể ảnh hưởng sinh tổng hợp protein RAD51.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng
Nghiên cứu được thực hiện trên 380 bệnh nhân ung thư buồng
trứng điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và 380 phụ nữ
khỏe mạnh, không mắc ung thư.
Nhóm bệnh:
Tiêu chuẩn lựa chọn: được chẩn đoán xác định ung thư buồng
trứng bằng kết quả xét nghiệm giải phẫu bệnh, không mắc các ung
Đa hình đơn nucleotide (SNP) rs1801321 (G172T) nằm trong
* Tác giả liên hệ: Email: [email protected]
1
63(5) 5.2021
Khoa học Y - Dược
Nghiên cứu bệnh - chứng, có ước tính tỷ số nguy cơ OR với cỡ
mẫu được tính theo công thức:
Association between RAD51 gene
polymorphism rs1801321
and ovarian cancer risk
trong đó: p1 - tỷ lệ alen T ước lượng cho nhóm bệnh, p0 - tỷ lệ alen
T ước lượng cho nhóm chứng, α - mức ý nghĩa thống kê, Zα/2 - hệ
số tin cậy, ε - mức độ chính xác mong muốn (chênh lệch cho phép
giữa tỷ số nguy cơ OR thực của quần thể và OR thu được từ mẫu).
Dựa vào nghiên cứu của Smolarz [12] với p1=0,529 và p0=0,510,
ε=25%, Zα/2= 1,96 khi α=0,05 (độ tin cậy 95%), ta có N=373. Nên
cỡ mẫu mỗi nhóm tối thiểu là 373 người. Nghiên cứu được tiến
hành với 380 bệnh nhân và 380 phụ nữ thuộc nhóm chứng.
Nguyen Trong Nhan Le1, 2, Thu Thuy Nguyen2,
Quy Linh Nguyen2, Van Khanh Tran2*,
Huy Thinh Tran2, Thanh Van Ta2, Viet Tien Nguyen2
1Camau Obstetric Pediatric Hospital
2Hanoi Medical University
Received 5 November 2020; accepted 31 December 2020
Abstract:
Quy trình
Ovarian cancer is one of the most common gynecological
malignancies. The gene RAD51 involves homologous
recombinational repair for double-strand breaks of
DNA, so its polymorphisms and mutations are associated
with cancer risk. The authors studied, by using a case-
control design, whether single nucleotide polymorphism
rs1801321 of RAD51 gene associated with ovarian
cancer risk among Vietnamese females. Sample sets
included 380 ovarian cancer cases and 380 healthy
controls of similar age distribution. The genotypes of
rs1801321 polymorphism were determined using the
Polymerase chain reaction-restriction fragment length
polymorphism (PCR-RFLP) technique. The distribution
of genotype GG, GT, TT was 55.3, 29.2, 15.5% for the
patients group and 47.9, 41.8, 10.3% for the control
group, respectively (p=0.001). The RAD51 rs1801321
polymorphism was associated with the risk of ovarian
cancer among Vietnamese females.
Bước 1 - Lấy mẫu: các đối tượng nghiên cứu được lấy 2 ml
máu chống đông bằng EDTA.
Bước 2 - Tách chiết DNA: DNA tổng số được tách chiết từ
mẫu máu theo kit PROMEGA (USA). Độ tinh sạch của mẫu DNA
sau tách chiết của cả 2 nhóm được đo ở tỷ số A260/A280 đều nằm
trong khoảng 1,80-2,00.
Bước 3 - Khuếch đại đoạn gen RAD51 chứa SNP rs1801321
bằng kỹ thuật PCR sử dụng cặp mồi đặc hiệu có trình tự như sau:
Mồi xuôi: 5’-TGGGAACTGCAACTCATCTGG-3’
Mồi ngược: 5’-GCTCCGACTTCACCCCGCCGG-3’
Thành phần phản ứng PCR (thể tích 10 µl) gồm: 5,0 µl GoTaq
Master mix, 2,5 pmol mỗi mồi xuôi và ngược, 100 ng DNA và
H2O. Chu trình nhiệt phản ứng: 94oC/5 phút, [94ºC/30 giây,
56ºC/30 giây, 72ºC/30 giây] 35 chu kỳ, 72oC/5 phút. Sản phẩm
PCR được điện di kiểm tra trên gel agarose 1,5% ở điện thế 100 V
trong 30 phút. Kết quả điện di được chụp ảnh bằng máy UVP EC3
Imaging System P/N95-0310-12.
Keywords: G172T, ovarian cancer, polymorphism,
Bước 4 - Xác định đa hình đơn nucleotide gen RAD51 bằng
kỹ thuật phân tích đa hình độ dài cắt giới hạn (PCR-RFLP). Thành
phần của phản ứng RFLP gồm: 0,5 µl enzym NgoMIV, 1 µl buffer
Cutsmart, 1,5 µl H2O và 7 µl sản phẩm PCR. Hỗn hợp phản ứng
cắt được ủ ở 37ºC trong khoảng 12 giờ. Sản phẩm cắt được điện di
trên gel agarose 3% với điện thế 80 V trong 60 phút để phân tách
các băng DNA. Kết quả điện di được chụp ảnh bằng máy UVP
EC3 Imaging System P/N95-0310-12.
RAD51 gene, rs1801321.
Classification number: 3.1
thư khác, và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: ung thư buồng trứng có kèm các ung thư
khác, hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Phân tích số liệu
Nhóm đối chứng: những người khỏe mạnh, có tiền sử không
mắc ung thư buồng trứng hay các bệnh ung thư khác đến khám sức
khỏe hoặc đến thăm khám điều trị các bệnh lành tính tại Bệnh viện
Phụ sản Trung ương. Độ tuổi tương đồng với nhóm bệnh.
Sự khác biệt về kiểu gen và tần số alen giữa nhóm bệnh và
nhóm chứng cũng được đánh giá bằng kiểm định Χ2. Tỷ số chênh
(OR) và khoảng tin cậy (CI) 95% tương ứng để ước tính mối liên
quan giữa các kiểu gen và khả năng mắc ung thư buồng trứng. Các
kiểm định có ý nghĩa khi p<0,05. Phần mềm SPSS 20.0 được sử
dụng để phân tích số liệu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 9/2017 đến tháng 12/2019 tại
Trung tâm Nghiên cứu Gen-Protein, Trường Đại học Y Hà Nội.
Đạo đức nghiên cứu
Đề tài đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y Hà
Phương pháp nghiên cứu
63(5) 5.2021
2
Khoa học Y - Dược
Nội chấp thuận theo Chứng nhận số 107/HĐĐĐĐHYHN ngày
30/5/2017. Bệnh nhân hoàn toàn tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Các thông tin cá nhân được bảo mật.
enzyme NgoMVI cắt thành 2 băng có kích thước 110 bp và 21 bp.
Trong trường hợp allele T, đoạn gen được khuếch đại sẽ không có
trình tự nhận biết của enzyme NgoMVI nên sẽ không bị cắt. Các
kiểu gen sẽ có sản phẩm cắt tương ứng như sau:
Kết quả
-
-
Kiểu gen GG: sản phẩm cắt gồm các đoạn 110 bp, 21 bp.
Kiểu gen TT: sản phẩm cắt gồm đoạn 131 bp.
Đặc điểm chung của các đối tượng tham gia nghiên cứu
Những đặc điểm chung như tuổi trung bình, phân bố các nhóm
tuổi và tình trạng kinh nguyệt ở cả hai nhóm được mô tả ở bảng 1.
Độ tuổi và sự phân bố nhóm tuổi giữa nhóm bệnh và nhóm chứng
là tương đồng (p=0,610 và 0,739). Tuổi trung bình nhóm bệnh là
49,80 và tuổi trung bình nhóm chứng là 49,26. Ở những bệnh nhân
ung thư buồng trứng, nhóm tuổi mắc bệnh nhiều nhất là từ 40 đến
59, chiếm 45,5% và ít nhất là nhóm tuổi <40 tuổi (chiếm 24,5%).
Trung bình tuổi có kinh ở nhóm ung thư buồng trứng là 15,22,
tương đồng với trung bình tuổi có kinh ở nhóm chứng là 15,01
(p=0,096). Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh đã mãn kinh chiếm 56,3%,
nhiều hơn so với những bệnh nhân chưa mãn kinh hoặc chưa có
kinh chiếm 43,7% và tỷ lệ này không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa hai nhóm nghiên cứu (p=0,423).
-
Kiểu gen GT: sản phẩm cắt gồm các đoạn 131 bp, 110 bp,
21 bp.
Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm cắt của đoạn gen chứa SNP rs1801321
bởi enzyme NgoMVI. M: Marker 100 bp; sản phẩm PCR của đoạn gen chứa
rs1801321 (1); kiểu gen GG (2-5, 7, 9, 10); kiểu gen TT (6); kiểu gen GT (8, 11).
Bảng 1. Đặc điểm chung của các đối tượng tham gia nghiên cứu.
Nhóm bệnh
Nhóm chứng
Đặc điểm
Hình ảnh điện di trên gel agarose sản phẩm cắt đoạn gen chứa
SNP rs1801321 bằng enzyme NgoMVI được thể hiện ở hình 1.
Kết quả điện di sản phẩm của phản ứng cắt enzym cho thấy ở tất
cả các mẫu băng thu được rõ nét, có kích thước khoảng 131 bp, 110
bp so trên thang DNA chuẩn tùy thuộc từng kiểu gen. Từ kết quả
trên ta thấy enzym NgoMVI đã cắt sản phẩm PCR thành các đoạn
DNA có kích thước đúng như tính toán lý thuyết của nghiên cứu.
n
%
n
%
≤39
93
24,5
45,5
30,0
223
128
29
58,7
33,7
7,6
40-59
173
114
49,8
166
214
308
44
Tuổi
≥60
Tuổi trung bình
49,26
313
67
Chưa mãn kinh/chưa có kinh
43,7
56,3
81,1
11,6
7,4
82,4
17,6
Tình trạng
kinh nguyệt
Mãn kinh
Sản phẩm PCR-RFPL của các kiểu gen GG, GT, TT được
kiểm tra lại bằng phương pháp giải trình tự gen và so sánh
với trình tự chuẩn của gen RAD51 trên ngân hàng Genebank
(NG_012120:c.-61G>T), tín hiệu giải trình tự của các kiểu gen với
các đỉnh nucleotide rõ ràng, không nhiễu (hình 2). Mẫu PCR của
kiểu gen TT có một đỉnh nucleotide T duy nhất, kiểu gen GT có
hai đỉnh nucleotide G và nucleotide T, kiểu gen GG có một đỉnh
nucleotide G duy nhất. Như vậy, kết quả giải trình tự thu được là
trùng khớp với kết quả xác định kiểu gen bằng phương pháp PCR-
RFLP.
UT biểu mô
Giải phẫu bệnh
UT tế bào mầm
UT tế bào đệm - sinh dục
28
I
111
50
29,2
13,2
47,6
10,0
II
Giai đoạn bệnh
III
IV
181
38
UT: ung thư.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn phân tích sự phân bố tỷ lệ
nhóm bệnh nhân được phân loại giai đoạn theo FIGO và mô bệnh
học theo WHO (bảng 1). Kết quả phân loại theo giải phẫu bệnh cho
thấy, ung thư biểu mô buồng trứng chiếm tỷ lệ cao nhất là 81,1%.
Nhóm bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển (III và IV-
57,6%) chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhóm bệnh nhân phát hiện bệnh
sớm (I và II-42,4%).
Hình 2. Kết quả giải trình tự sản phẩm PCR đoạn gen RAD51 chứa đa hình
đơn nucleotide rs1801321 của các bệnh nhân mang kiểu gen GG, GT, TT.
Mối liên quan giữa đa hình rs1801321 và nguy cơ mắc ung
thư buồng trứng
Alen T chiếm tỷ lệ thấp lần lượt ở nhóm bệnh là 30,1% và
nhóm đối chứng là 31,2%. Tỷ lệ các kiểu gen GG, GT, TT lần lượt
ở nhóm bệnh là 55,3, 29,2, 15,5% và ở nhóm đối chứng là 47,9,
41,8, 10,3%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong
sự phân bố tỷ lệ alen giữa nhóm bệnh và nhóm đối chứng với
Trong trường hợp allele G, nhóm nghiên cứu sử dụng cặp mồi
với trình tự mồi ngược có nucleotide ở vị trí thứ 3 đầu 3’ là G (sai
khác với nucleotide C trên trình tự DNA khuôn) để tạo thành trình
tự nhận biết của enzyme NgoMVI (G↓CCGGC) trong đoạn gen
RAD51 chứa SNP rs1801321 được khuếch đại. Đoạn gen này sẽ bị
3
63(5) 5.2021
Khoa học Y - Dược
Bảng 3. Mối liên quan đa hình rs1801321 với giai đoạn bệnh và mô bệnh học.
p<0,656, tuy nhiên có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các kiểu
gen hai nhóm nghiên cứu với p=0,001 (bảng 2).
GG
GT
TT
p
Bảng 2. Mối liên quan giữa đa hình rs1801321 với nguy cơ ung thư buồng
trứng.
n
%
n
%
n
%
Giai đoạn ung thư
Giai đoạn I
62
29,5 31 27,9 18 30,5
12,4 15 13,5 15,3
48,1 55 49,5 25 42,4
10,0 10 9,0 11,9
Nhóm bệnh
Nhóm chứng
Kiểu gen/allele
OR
95%CI
p
Giai đoạn II
26
9
0,979
n
%
n
%
Giai đoạn III
Giai đoạn IV
Mô bệnh học
UT biểu mô
101
21
G
531
229
210
111
59
69,9
30,1
55,3
29,2
15,5
78,1
21,9
65,4
34,6
34,7
65,3
84,5
15,5
55,3
44,7
523
237
182
159
39
68,8
31,2
47,9
41,8
10,3
82,4
17,6
53,4
46,6
19,7
80,3
89,7
10,3
47,9
52,1
1,000
0,952
7
Kiểu allele
0,656
T
0,765-1,184
GG
GT
170
27
81,0 88 79,3 50 84,7
0,701
Kiểu gen
0,001
UT tế bào mầm
12,9 13 11,7
6,2 10 9,0
7
2
11,9
3,4
TT
UT mô đệm-sinh dục 13
GG
TT
210
59
182
39
1,000
1,311
1,000
0,605
1,000
0,461
1,000
1,607
1,000
0,744
TT và GG
0,238
0,002
0,001
0,030
0,042
Bàn luận
0,836-2,057
0,442-0,828
0,288-0,739
1,043-2,476
Trong nghiên cứu này, độ tuổi hay gặp nhất của ung thư buồng
trứng là 40-59. Nhóm tuổi ≥60 có tỷ lệ cao hơn nhóm tuổi ≤39. Sự
phân bố về nhóm tuổi này cũng tương đồng với kết quả của một
số nghiên cứu khác tại Việt Nam [13]. Về tình trạng kinh nguyệt
của nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân ung thư
buồng trứng trong nhóm chưa mãn kinh hoặc chưa có kinh là 43,7%,
thấp hơn nhóm đã mãn kinh (56,3%). Tương đồng với các nhận định
của các tác giả khác là ung thư buồng trứng đa phần xuất hiện ở các
bệnh nhân cao tuổi đã mãn kinh [14]. Kết quả giải phẫu bệnh ung
thư biểu mô buồng trứng chiếm tỷ lệ cao nhất, và nhóm bệnh nhân
được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển (III và IV) cao hơn nhóm bệnh
nhân phát hiện bệnh sớm (I và II) là không khác biệt so với nhận
định của các nghiên cứu trước đây [15].
GG
GT
210
111
59
182
159
39
GG và GT
TT
GT và TT
GT
111
321
59
159
341
39
GT+GG
TT
TT và GT+GG
GG và TT+GT
GG
TT+GT
210
170
182
198
0,559-0,990
Nghiên cứu tiếp tục tiến hành so sánh khả năng mắc bệnh của
các kiểu gen chứa alen T với các kiểu gen khác theo cặp mô hình di
truyền khác. Đối với mô hình so sánh đồng hợp (TTvới GG) cho kết
quả không khác biệt về sự phân bố của hai kiểu gen giữa hai nhóm
bệnh và chứng với p=0,238, OR=1,311 (CI 95% [0,836-2,057]).
Trong khi hai mô hình so sánh dị hợp cho kết quả có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê, với p<0,05 và OR với khoảng tin cậy 95%
không chứa giá trị 1, trong phân bố hai kiểu gen GG và GT giữa
hai nhóm bệnh và chứng với p=0,002, OR=0,605 (CI 95% [0,442-
0,828]), và trong phân bố hai kiểu gen TT và GT giữa hai nhóm
bệnh và chứng với p=0,001, OR=0,461 (CI 95% [0,288-0,739]).
Tỷ lệ alen T chiếm thấp hơn so với alen G ở trong cả hai nhóm
nghiên cứu và sự phân bố tỷ lệ alen giữa hai nhóm không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê. Theo công bố Dữ liệu các biến thể di truyền
người Việt Nam trên trang genomes.vn, nghiên cứu trên 206 người
Kinh không có quan hệ huyết thống thì tỷ lệ alen T là 13,63% [16].
Tuy nhiên, tỷ lệ phân bố 3 kiểu gen giữa hai nhóm nghiên cứu lại có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,001). Điều này cho thấy có
mối liên quan giữa đa hình đơn nucleotide rs1801321 với nguy cơ
mắc ung thư buồng trứng. Phân tích sâu hơn các dữ liệu để so sánh
khả năng mắc bệnh của các kiểu gen chứa alen T và các kiểu gen còn
lại, chúng tôi cũng ghi nhận được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
trong hai nhóm nghiên cứu khi so sánh kiểu gen dị hợp GT với các
kiểu gen đồng hợp GG và TT lần lượt với OR=0,605, CI 95% [0,442-
0,828] (p=0,002) và OR=0,461, CI 95% [0,288-0,739] (p=0,001).
Nghiên cứu cho thấy kiểu gen dị hợp GT lại mang nguy cơ mắc
ung thư buồng trứng thấp hơn hai kiểu gen đồng hợp là GG và TT.
Khi so sánh mô hình di truyền lặn, nhóm kiểu gen TT với
nhóm kết hợp kiểu gen GG và GT cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa hai nhóm nghiên cứu với p=0,030, OR=1,607 (CI
95% [1,043-2,476]. Và so sánh mô hình di truyền trội, nhóm kiểu
gen chứa alen T (GT và TT) với nhóm kiểu gen GG, có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nghiên cứu với p=0,042,
OR=0,744 (CI 95% [0,559-0,990]).
Khi so sánh nhóm hai kiểu gen GG và GT với nhóm kiểu gen TT,
với OR=1,607 (CI 95% [1,043-2,476]) (p=0,030) và so sánh nhóm
kiểu gen GG với nhóm hai kiểu genTTvà GT, với OR=0,744 (CI 95%
[0,559-0,990]) (p=0,042) cho thấy nhóm các cặp gen chứa kiểu gen
GTđềucónguycơmắcungthưbuồngtrứngthấphơnkiểugencònlại.
Mối liên quan giữa đa hình rs1801321 với giai đoạn bệnh và
mô bệnh học
So sánh sự phân bố kiểu gen trong các nhóm chia theo giai
đoạn bệnh của FIGO không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống
kê (p=0,979) (bảng 3). Tương tự, khi so sánh sự phân bố kiểu gen
trong các nhóm chia theo type mô bệnh học (ung thư biểu mô, ung
thư tế bào mầm và ung thư tế bào mô đệm - sinh dục) cũng không
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,701) (bảng 3).
Nhiều nghiên cứu khác trên thế giới được thực hiện và đã công
bố nhằm mục đích làm sáng tỏ vai trò của đa hình rs1801321 gen
RAD51 trong nguy cơ ung thư buồng trứng, nhưng kết quả còn gây
tranh cãi, phụ thuộc vào thiết kế, phương pháp nghiên cứu, và quần
63(5) 5.2021
4
Khoa học Y - Dược
thể người được nghiên cứu. Trong nghiên cứu của Smolarz và cs
(2013) [12] trên phụ nữ Ba Lan với 210 bệnh nhân ung thư buồng
trứng và 210 đối chứng, mẫu nghiên cứu là mô buồng trứng (có và
không có tế bào ung thư), kết quả cho thấy không có sự khác biệt trong
phân bố các alen (p=0,631) cũng như kiểu gen (p=0,689) giữa hai
nhóm nghiên cứu, họ nhận định SNP rs1801321 gen RAD51 không
liên quan đến nguy cơ ung thư buồng trứng ở phụ nữ Ba Lan. Nghiên
cứu của Auranen và cs (2005) [17] phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu
lớn trên 1644 bệnh nhân ung thư buồng trứng và 2602 đối chứng cho
kết quả alen T chiếm tỷ lệ 42% ở cả nhóm bệnh và nhóm chứng, và
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong sự phân bố các kiểu
gen ở hai nhóm nghiên cứu (p=0,39). Nghiên cứu này chưa tìm thấy
mối liên quan giữa đa hình 1801321 với nguy cơ mắc ung thư buồng
trứng. Quaye và cs (2009) [18] tổng hợp từ 3 nghiên cứu bệnh chứng
lớn ở Anh, Mỹ và Đan Mạch với cỡ mẫu gồm 1412 bệnh nhân ung
thư buồng trứng và 1986 đối chứng đã kết luận rằng, không có mối
liên quan giữa đa hình rs1801321 gen RAD51 với nguy cơ mắc ung
thư buồng trứng (p=0,053). Nghiên cứu của Wang và cs (2001) [19]
trên những người mang đột biến BRCA1/2 cũng chỉ ra SNP 172G>T
gen RAD51 không liên quan đến nguy cơ mắc ung thư buồng trứng.
có những biện pháp tầm soát, dự phòng hợp lý nhằm chẩn đoán,
phát hiện kịp thời ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm để điều trị
hiệu quả và ít tốn kém hơn. Ngoài đa hình rs1801321 gen RAD51
còn nhiều yếu tố nguy cơ di truyền và không di truyền ảnh hưởng
đến nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Kết quả này đóng góp vào
cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu phân tích lớn hơn và đa yếu
tố để đánh giá chính xác hơn nguy cơ mắc ung thư buồng trứng.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ kinh phí của Bộ Y tế
thông qua đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình xác định đột biến
và đa hình thái đơn nucleotide trên một số gen liên quan đến ung
thư vú và ung thư buồng trứng”. Nhóm nghiên cứu trân trọng cảm
ơn Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Trung tâm Nghiên cứu Gen-
Protein, Trường Đại học Y Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] F. Bray, et al. (2018), “Global cancer statistics 2018: GLOBOCAN estimates of
incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries”, CA: A Cancer Journal
for Clinicians, 68(6), pp.394-424.
[2] S.P. Jackson (2002), “Sensing and repairing DNA double-strand breaks”,
Ngoài ra, mối liên quan giữa rs1801321 với một số bệnh ung thư
khác cũng được nghiên cứu và thu được những kết quả khác nhau.
Nghiên cứu của Tulbah và cs (2016) [7] cho thấy đa hình 172G>T
của gen RAD51 có liên quan đến nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ
Ả Rập, alen T có ảnh hưởng bảo vệ khỏi nguy cơ mắc ung thư vú
cao với OR=0,126 (CI 95%=0,080-0,199), p<0,001. Kết quả nghiên
cứu của nhóm Romanowicz-Makowska và cs (2012) [9] chỉ ra rằng
không có mối liên quan giữa rs1801321 với ung thư đại trực tràng ở
bệnh nhân người Ba Lan. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Petrovic-
Sunderic và cs (2018) [10] lại chứng minh được mối liên quan có
ý nghĩa giữa rs1801321 với ung thư đại trực tràng ở người Serbia.
Santos và cs (2019) [11] đã chứng minh rs1801321 kết hợp với các
chất gây ung thư từ môi trường (rượu, thuốc lá) có liên quan đến sự
tiến triển của ung thư biểu mô miệng và vòm họng. Một nghiên cứu
của Michalska và cs (2014) [8] cũng trên cộng đồng phụ nữ Ba Lan
với 630 bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung và 630 đối chứng cũng
cho kết luận rs1801321 gen RAD51 không liên quan với nguy cơ ung
thư nội mạc tử cung vì không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
trong sự phân bố các alen (p=0,359) và các kiểu gen (p=0,392) giữa
các nhóm nghiên cứu.
Carcinogenesis, 23(5), pp.687-696.
[3] T. Helleday (2003), “Pathways for mitotic homologous recombination in mammalian
cells”, Mutation Research, 532(1-2), pp.103-115.
[4] J. Thacker (2005), “The RAD51 gene family, genetic instability and cancer”, Cancer
Letters, 219(2), pp.125-135.
[5] E. Raderschall, et al. (2002), “Elevated levels of Rad51 recombination protein in
tumor cells”, Cancer Research, 62(1), pp.219-225.
[6] L. Hasselbach, et al. (2005), “Characterisation of the promoter region of the human
DNA-repair gene Rad51”, European Journal Gynaecological Oncology, 26(6), pp.589-598.
[7] S. Tulbah, et al. (2016), “Polymorphisms in RAD51 and their relation with breast
cancer in Saudi females”, Onco Targets and Therapy, 9, pp.269-277.
[8] M.M. Michalska, et al. (2014), “Association of polymorphisms in the 5’ untranslated
region of RAD51 gene with risk of endometrial cancer in the Polish population”, Archives of
Gynecology Obstetrics, 290(5), pp.985-991.
[9] H. Romanowicz-Makowska, et al. (2012), “RAD51 gene polymorphisms and
sporadic colorectal cancer risk in Poland”, Polish Journal of Pathology, 63(3), pp.193-198.
[10] J. Petrovic-Sunderic, et al. (2018), “Polymorphism RAD51 172G>T in Serbian
patients with colorectal cancer”, Journal of B.U.ON, 23(4), pp.936-940.
[11] E.M. Santos, et al. (2019), “Clinicopathological significance of SNPs in RAD51 and
XRCC3 in oral and oropharyngeal carcinomas”, Oral Diseases, 25(1), pp.54-63.
[12] B. Smolarz, et al. (2013), “Association between polymorphisms of the DNA repair
gene RAD51 and ovarian cancer”, Polish Journal of Pathology, 64(4), pp.290-295.
[13] Phạm Thị Diệu Hà, Nguyễn Văn Tuyên (2013), “Nhận xét giá trị HE4 và test
Phân tích vai trò các alen và kiểu gen đa hình đơn nucleotide
rs1801321 đối với giai đoạn bệnh theo FIGO và type mô bệnh học
ung thư buồng trứng nhận thấy, không có sự liên quan giữa đa hình
đơn nucleotide rs1801321 với giai đoạn bệnh và type mô bệnh học
của ung thư buồng trứng. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên
cứu của Smolarz và cs (2013) [12].
ROMA trong chẩn đoán ung thư buồng trứng”, Tạp chí Nghiên cứu Y học, 82(2), tr.37-44.
[14] D. Jelovac, and D.K. Armstrong (2011), “Recent progress in the diagnosis and
treatment of ovarian cancer”, CA: A Cancer Journal for Clinicians, 61(3), pp.183-203.
[15] Vũ Hô, Vi Trần Doanh, Lê Thị Lộc và cộng sự (2010), “Nghiên cứu đặc điểm lâm
sàng - mô bệnh học và điều trị ung thư buồng trứng tại Trung tâm Ung bướu Thái Nguyên từ
2005 - T8/2010”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 14(4), tr.491 -494.
[16] V.S. Le, et al. (2019), “A Vietnamese human genetic variation database”, Human
Mutation, 40(10), pp.1664-1675.
Kết luận
[17] A. Auranen, et al. (2005), “Polymorphisms in DNA repair genes and epithelial
ovarian cancer risk”, International Journal of Cancer, 117(4), pp.611-618.
Trong nghiên cứu của chúng tôi hiện tại tìm thấy mối liên quan
giữa đa hình đơn nucleotide rs1801321 gen RAD51 và nguy cơ mắc
ung thư buồng trứng ở người Việt Nam, cụ thể kiểu gen GT có khả
năng làm giảm nguy cơ mắc thư buồng trứng. Kết quả xét nghiệm
đa hình đơn nucleotide rs1801321 gen RAD51 góp phần vào đánh
giá khả năng mắc ung thư buồng trứng ở phụ nữ Việt Nam. Từ đó
[18] L. Quaye, et al. (2009), “Association between common germline genetic variation
in 94 candidate genes or regions and risks of invasive epithelial ovarian cancer”, PLoS One,
4(6), p.e5983.
[19] W.W. Wang, et al. (2001), “A single nucleotide polymorphism in the 5’ untranslated
region of RAD51 and risk of cancer among BRCA1/2 mutation carriers”, Cancer Epidemioly,
Biomarkers and Prevention, 10(9), pp.955-960.
5
63(5) 5.2021
Bạn đang xem tài liệu "Mối liên quan giữa đa hình rs1801321 gen RAD51 và nguy cơ mắc ung thư buồng trứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
moi_lien_quan_giua_da_hinh_rs1801321_gen_rad51_va_nguy_co_ma.pdf

