Mô hình tổ chức và quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ tại Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và một số trường đại học thành viên - Thực trạng và giải pháp

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1589-1597  
Bài Tổng quan  
Open Access Full Text Article  
Mô hình tổ chức và quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ tại Đại học  
Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh và một số trường đại học thành viên -  
thực trạng và giải pháp  
Ngô Minh Tín*  
TÓM TẮT  
Hiện nay, sở hữu trí tuệ nói chung và công tác tổ chức và quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ (quản trị  
TSTT) nói riêng đang được hầu hết các tổ chức kinh tế đặc biệt quan tâm bởi sự đóng góp vô cùng  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
lớn vào giá trị tài sản của tổ chức. Những năm gần đây, cùng với xu thế phát triển chung của cả  
nước và các ngành, các trường đại học, nơi khởi nguồn sáng tạo, bắt đầu của hầu hết TSTT đã dần  
nhận ra giá trị đóng góp của TSTT đối với sự phát triển bền vững, các trường đã bước đầu xây dựng  
và vận hành các mô hình quản trị TSTT cho riêng mình nhằm tìm ra mô hình phù hợp vì công tác  
quản trị TSTT chỉ đạt được hiệu quả khi chúng ta có được mô hình quản trị phù hợp nhất. Không  
nằm ngoài xu thế đó, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh (VNU-HCM) và các trường thành viên đã  
sớm thử nghiệm và vận hành các mô hình cho riêng mình. Sau gần 10 năm vận hành, hiện chưa  
có báo cáo tổng kết chính thức về hiệu quả thu được từ từng mô hình, tuy nhiên qua các số liệu  
có thể quan sát được, tác giả nhận thấy mỗi mô hình đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định.  
Bài viết này tác giả phân tích các mô hình quản trị TSTT tại VNU-HCM và các trường đại học thành  
viên, từ đó đưa ra đề xuất mô hình quản trị TSTT phù hợp cho từng chủ thể.  
Từ khoá: Quản trị tài sản trí tuệ, sở hữu trí tuệ, tài sản trí tuệ, quản lý tài sản trí tuệ  
trong công tác quản trị TSTT đặc biệt ở giai đoạn  
thương mại hoá TSTT bên cạnh việc chuyển giao công  
nghệ ngay khi được sáng tạo và chưa kịp đăng ký xác  
lập quyền dẫn đến giá trị được xác định thấp hơn so  
MÔ HÌNH QUẢN TRỊ TSTT TẠI  
VNU-HCM VÀ MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI  
HỌC THÀNH VIÊN  
với giá trị thực của đối tượng.  
Mô hình QTTSTT của VNU-HCM  
Trường Đại học Kinh tế - Luật,  
ĐHQG-HCM, Việt Nam  
Nhìn chung, từ nhiều năm nay, xác định được tầm  
quan trọng của sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển bền  
vững của VNU-HCM, VNU-HCM đã xây dựng mô  
hình quản trị TSTT từ rất sớm và đa dạng với nhiều  
đơn vị có chức năng, nhiệm vụ và cho từng giai đoạn  
khác nhau trong công tác quản trị TSTT như: Ban  
Khoa học Công nghệ, Trung tâm sở hữu trí tuệ và  
chuyển giao công nghệ (IPTC); Khu công nghệ phần  
mềm (ITP).  
VNU-HCM là một trong hai đại học quốc gia của Viêt  
Nam; là trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học  
hàng đầu cả nước và khu vực. eo số liệu thống kê  
năm 2018, tổng số đơn đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ  
tại VNU-HCM là 273 đơn, trong đó có 57 sáng chế đã  
được cấp bằng, 4.515 bài báo được công bố và doanh  
thu từ chuyển giao công nghệ đạt 255 tỷ đồng1. Mặt  
dù con số còn hạn chế so với các đại học trong khu vực  
và trên thế giới, tuy nhiên, đây là con số đáng khích  
lệ trong bối cảnh chung việc đăng ký xác lập quyền sở  
hữu công nghiệp tại Việt Nam của các trường đại học  
Liên hệ  
Ngô Minh Tín, Trường Đại học Kinh tế - Luật,  
ĐHQG-HCM, Việt Nam  
Email: [email protected].vn  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 19-12-2021  
• Ngày chấp nhận: 22-5-2021  
• Ngày đăng: 26-5-2021  
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.743  
Mô hình  
vô cùng thấp có năm còn là con số 0 về số lượng bằng Với đặc thù là cơ quan quản lý nhà nước nhưng lại  
được cấp2.  
có chức năng giáo dục, nghiên cứu khoa học và có  
nhiều trường đại học thành viên, viện nghiên cứu,  
trung tâm, phòng thí nghiệm mạnh của cả nước và  
trong khu vực. VNU-HCM đã sớm xây dựng hệ thống  
quản trị TSTT mang tính đặc thù “vừa hành chính  
vừa dịch vụ” bao gồm các đơn vị chính: Ban KHCN,  
IPTC, ITP, các Phòng KHCN và các Phòng chuyên  
trách SHTT tại các đơn vị thành viên, trực thuộc1.  
Từ số liệu thống kê cho thấy, mặt dù VNU-HCM bước  
đầu đã ghi nhận rất nhiều thành tựu trong nghiên cứu  
khoa học và đã sáng tạo nhiều tài sản trí tuệ (TSTT).  
Tuy nhiên doanh thu từ việc chuyển giao TSTT còn  
khá hạn chếa. Kết quả này thể hiện một số hạn chế  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
aTrong đó, đa phần là chuyển giao công nghệ, kết quả nghiên cứu  
chưa đăng ký xác lập quyền.  
Trích dẫn bài báo này: Tín N M. Mô hình tổ chức và quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ tại Đại học Quốc  
gia Tp. Hồ Chí Minh và một số trường đại học thành viên - thực trạng và giải pháp. Sci. Tech. Dev. J. -  
Eco. Law Manag.; 5(3):1589-1597.  
1589  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1589-1597  
Hình 1: Lưu đồ tổ chức các đơn vị có chức năng quản lý liên quan SHTT tại VNU-HCM  
eo đó, trong khi ban KHCN có chức năng quản lý - ứ ba, mô hình này với cách thức trao quyền quản  
hành chính các lĩnh vực liên quan nghiên cứu khoa  
học, chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ, có thể  
được xem là cơ quan cấp trên theo chiều dọc của các  
Phòng KHCN tại các thành viên và đơn vị trực thuộc  
và là trung tâm đầu mối và kết nối các đơn vị lại với  
nhau, thì IPTC lại được xây dựng thành một trung  
tâm dịch vụ, hỗ trợ cán bộ, các thành viên, đơn vị trực  
thuộc trong việc nhận diện, xác lập quyền sở hữu trí  
tuệ và chuyển giao công nghệ hoạt động theo sự chỉ  
đạo và giám sát của Ban KHCNb ; Bên cạnh đó, ITP  
mặt dù với tên gọi bị giới hạn là Khu công nghệ phần  
mềm, tuy nhiên thật chất lại là một vườn ươm doanh  
nghiệp với đa dạng các doanh nghiệp KHCN, trung  
tâm, viện nghiên cứu đa lĩnh vực được hỗ trợ bước  
đầu khởi nghiệp trước khi vươn ra thị trường chung3.  
lý kết quả sáng tạo thống nhất cho Ban KHCN mang  
tính hành chính giúp công tác quản lý TSTT được  
thống nhất, hiệu quả, chống thất thoát TSTT.  
- ứ tư, cùng với việc hành chính hoá công tác quản  
lý kết quả sáng tạo, việc thành lập các trung tâm hỗ  
trợ, dịch vụ phụ trách các giai đoạn còn lại của chuỗi  
quản trị TSTT, bao gồm: hỗ trợ tư vấn nhận diện,  
phân loại, xác lập quyền, khởi nghiệp và thương mại  
hoá là phù hợp với xu hướng phát triển chung của các  
trường đại học trên thế giới4. Mặt khác, việc thành  
lập các trung tâm dịch vụ, hỗ trợ này cũng góp phần  
giảm chi ngân sách theo định hướng chung của nhà  
nước về sự tự chủ về tài chính. Với cơ chế này, IPTC  
sẽ chủ động hơn trong việc liên kết với các đối tác là  
cơ quan nhà nước cũng như doanh nghiệp trong việc  
hỗ trợ xác lập quyền và thương mại hoá TSTT.  
Hạn chế  
Bên cạnh các mặt đã được trong mô hình này, mô  
hình quản trị TSTT VNU-HCM hiện tại vẫn còn tồn  
tại một số hạn chế như5:  
- ứ nhất, chưa có hệ thống cơ sở pháp lý mang tính  
ràng buộc chung, thống nhất cho tất cả các đơn vị  
thành viên, trực thuộc dẫn đến việc thành lập và hoạt  
động các bộ phận quản trị TSTT tại các đơn vị thành  
viên chưa đồng bộ. Mỗi trường một kiểu chưa có sự  
thống nhất.  
Ưu điểm và hạn chế  
Ưu điểm  
Với việc hoàn thiện hệ thống quản trị TSTT từ giai  
đoạn sáng tạo đến hỗ trợ nhận diện, phân loại, xác  
lập quyền, khởi nghiệp và thương mại hoá như hiện  
nay, mô hình quản trị TSTT tại VNU-HCM có nhiều  
ưu điểm vượt trội, tương đồng với một số mô hình tại  
các trường đại học Nhật Bản4 như:  
- ứ nhất, mô hình này đã khép kín được chuỗi quy  
trình quản trị TSTT từ từ giai đoạn tạo lập (sáng tạo)  
đến thương mại hoá (giai đoạn và là mục tiêu chính  
của chuỗi quản trị TSTT).  
- ứ hai, mô hình này đã đa dạng hoá cách thức hỗ  
trợ đối với nhà khoa học, từ hỗ trợ nghiên cứu đến  
tư vấn nhận diện, xác lập quyền, đến khởi nghiệp và  
thương mại hoá. Điều này giúp người sáng tạo, các  
nhà khoa học thuận lợi tập trung hoàn toàn cho quá  
trình nghiên cứu chuyên môn của mình.  
- ứ hai, chưa có cơ chế rõ ràng cho sự liên kết giữa  
các bộ phận quản trị TSTT tại các thành viên với nhau  
dẫn đến thiếu cơ chế cho sự hợp tác, chia sẽ thông tin  
giữa các đơn vị này.  
- ứ ba, chưa xác định rõ ràng mối quan hệ giữa  
IPTC với các đơn vị thành viên. ật vậy, với vị trí là  
một trung tâm hỗ trợ như hiện tại, IPTC không phải  
là đơn vị quản lý của các bộ phận quản trị TSTT của  
các đơn vị thành viên. Vì vậy mối liên hệ này chỉ dừng  
bông thường, Giám đốcIPTC sẽdo 1 lãnh đạo Ban KHCN kiêm  
nhiệm  
1590  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1589-1597  
lại ở việc phối hợp, nếu các đơn vị không tích cực phối tại Trường đều nắm bắt cơ bản về sở hữu trí tuệ và vai  
hợp thì hiệu quả hoạt động của IPTC sẽ bị gián đoạn. trò của sở hữu trí tuệ đối với bản thân từng người, góp  
- ứ tư, với tư cách pháp lý là trung tâm trực thuộc phần nâng cao giá trị của sự sáng tạo, tuân thủ pháp  
VNU-HCM, IPTC không phải là đơn vị hành chính luật và khai thác TSTT hiệu quả hơn6.  
Ưu điểm và hạn chế của mô hình  
và cũng không phải là doanh nghiệp, đều này làm cho  
IPTC vừa không ra được các quyết định mang tính  
bắt buộc với các đơn vị vừa không thể hoạt động kinh  
doanh như một doanh nghiệp thực thụ. Đều này gây  
khó khăn rất nhiều cho sự chủ động trong hoạt động  
của IPTC với các thành viên và đối tácc.  
Với cách tiếp cận và sự tích cực hoạt động của Phòng  
TTPCSHTT mô hình quản trị TSTT tại Trường ĐH  
Khoa học Tự nhiên đã đạt được nhiều thành công  
như:  
- Xây dựng được hệ thống văn bản quy định khá đầy  
đủ cho công tác quản trị TSTT tại trường như: Quy  
chế quản trị tài sản trí tuệ 2016 (quy chế tạm thời năm  
2013); quy chế quản lý và sử dụng tài liệu mật; Quy  
định về công bố thông tin; …  
- Xây dựng được ý thức chấp hành pháp luật nói chung  
và pháp luật sở hữu trí tuệ nói riêng cho toàn thể  
người học và người lao động thông qua các buổi sinh  
hoạt công dân đầu khoá, tập huấn, hội thảo chuyên đề  
mang tính bắt buộc với người học và người lao động  
kết hợp với các khoá đào tạo chuyên sâu cho toàn thể  
người lao động sau khi đã kích thích được sự tò mò  
của nhân sự7.  
- Hình thành được ý thức tham khảo ý kiến chuyên  
môn trước khi tiến hành các hoạt động liên quan  
đến sở hữu trí tuệ trong toàn thể người lao động tại  
Trường.  
Mô hình quản trị TSTT tại một số trường  
thành viên  
Về cơ bản, qua tìm hiểu tác giả nhận thấy tại các  
Trường ĐH thành viên VNU-HCM đang có 02 xu  
hướng mô hình quản trị TSTT:  
Một là, mô hình thành lập bộ phận chuyên trách.  
Mô hình này thường là thành lập Phòng anh tra  
Pháp chế Sở hữu trí tuệ như Trường ĐH Khoa học  
Tự nhiên (Hình 2) và ĐH Khoa học Xã hội và Nhân  
văn (Hình 3).  
Hai là, quy định chức năng quản trị TSTT thuộc  
Phòng Khoa học Công nghệ (hoặc tên gọi khác tuỳ  
Trường), bao gồm: Trường ĐH Bách Khoa (Hình 4),  
Trường Đại học Công nghệ ông tin, Trường ĐH  
Quốc tế và Trường ĐH Kinh tế - Luật.  
- Nâng cao khả năng xác lập quyền sở hữu trí tuệ và  
giá trị thương mại hoá đối với các đối tượng nghiên  
cứu tại trường một cách rõ rệt.  
Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, tác giả  
nhận thấy mô hình quản trị TSTT tại Trường ĐH  
Khoa học Tự nhiên trong quá trình vận hành còn một  
số tồn tại sau:  
Mô hình thành lập bộ phận chuyên trách  
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên  
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên được xem là một  
trong những trường tiên phong trong cả nước nói  
chung và tại VNU-HCM nói riêng trong việc xây  
dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý, hạ tầng và đào tạo  
nguồn nhân lực chuyên trách cho công tác quản trị  
TSTT.  
eo đó, xét thấy tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ  
đối với công tác nghiên cứu, giảng dạy và sự phát triển  
chung của Trường, là một trường chuyên đào tạo và  
nghiên cứu khoa học cơ bản đến ứng dụng cao quy  
mô lớn trong cả nước, số lượng TSTT được sáng tạo  
tại trường vô cùng lớn nhưng chưa được phát hiện và  
khai thác xứng tầm.  
- Vẫn chưa thống nhất được vai trò và mối quan  
hệ giữa các đơn vị chức năng, đặc biệt là quan hệ  
giữa Phòng TTPCSHTT (Cụ thể bộ phận SHTT)  
với Phòng Khoa học Công nghệ (KHCN). eo đó,  
trong khi Phòng KHCN quản lý đề tài, các công trình  
nghiên cứu và kết quả thu được thì Phòng TTPC-  
SHTT lại thực hiện việc hỗ trợ xác lập quyền, đào tạo  
nguồn nhân lực. Với cách phân công nhiệm vụ như  
hiện tại, Phòng TTPCSHTT sẽ bị thụ động trong công  
tác giám sát nguồn đầu vào cho việc xác lập quyền  
SHTT đối với các kết quả thu được mà Trường là chủ  
sở hữu, đồng chủ sở hữu, dễ làm mất, thất thoát TSTT  
của Trường. Trong khi, các số liệu liên quan đến công  
tác quản trị TSTT do Phòng TTPCSHTT quản lý thì  
việc báo cáo các vấn đề này lại thuộc trách nhiệm của  
Phòng KHCN dẫn đến sự không đồng bộ trong công  
tác báo cáo trong khi Phòng TTPCSHTT vẫn chịu  
trách nhiệm báo cáo song song.  
Từ năm 2012, Trường đã bắt đầu cử nhân sự đào tạo  
chuyên sâu về công tác quản trị TSTT.  
Năm 2013, thành lập Phòng anh tra Pháp chế - Sở  
hữu trí tuệ (Phòng TTPCSHTT). Đây được xem là  
một trong những trường đại học tiên tại VNU-HCM  
có phòng chuyên trách về công tác QTTSTT.  
Nhờ có sự nhận thức và đồng thuận từ rất sớm về vai  
trò của công tác QTTSTT đến sự phát triển chung của  
Trường, đến nay, hầu hết người học, đội ngũ lao động  
- Về công tác thương mại hoá TSTT sẽ do Phòng  
KHCN phụ trách, trong khi Phòng TTPCSHTT lại  
cVí dụ: gặp khó khăn khi được yêu cầu xuất hoá đơn dịch vụ,…  
1591  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1589-1597  
Hình 2: Mô hình quản trị TSTT tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên  
quản lý về thông tin TSTT (bao gồm: xác lập quyền, anh tra - Pháp chế - Sở hữu trí tuệ chuyên trách về  
lĩnh vực này.  
tình trạng,…) và chịu trách nhiệm liên quan các thủ  
tục pháp lý như hợp đồng, hỗ trợ đàm phán,…  
- Việc thương mại hoá TSTT đa phần do các tác giả  
chủ động tìm đối tác. Hiện tại chưa có cơ chế hỗ trợ  
kết nối nhà khoa học, nghiên cứu với doanh nghiệp  
hiệu quả mặt dù có rất nhiều bộ phận có chức năng  
này. Một phần của vấn đề là tất cả các bộ phận phụ  
trách đều không độc lập với Trường, dẫn đến mọi  
hoạt động đều phải thông qua quy trình, thủ tục hành  
chính phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian và công đoạn  
nên thường sẽ lỡ mất cơ hội thương mại hoá vì đối tác  
cảm thấy quá phức tạp.  
Tương tự như Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, mặt  
dù được lập muộn hơn nhưng Phòng anh tra - Pháp  
chế - Sở hữu trí tuệ Trường ĐH Khoa học Xã hội và  
Nhân văn được tổ chức chặt chẽ và chuyên nghiệp với  
ít nhất 3 chuyên viên tốt nghiệp ngành luật (trong đó  
có 2 thạc sĩ luật) đã phát huy được hiệu quả của mình.  
Về cơ bản, mô hình quản trị TSTT tại Trường ĐH  
Khoa học Xã hội và Nhân văn khá giống với Trường  
ĐH Khoa học Tự nhiên. Tuy nhiên, mô hình giữa 2  
trường vẫn có nhiều điểm khác biệt cơ bản bao gồm:  
Mối quan hệ giữa Phòng anh tra - Pháp chế - Sở  
hữu trí tuệ với các đơn vị khác; hạ tầng hỗ trợ công  
tác chuyên môn được đầu tư.  
Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Ưu điểm và hạn chế của mô hình  
Với bề dày lịch sử về đào tạo và nghiên cứu khoa học  
trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hàng đầu  
Việt Nam, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn  
đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của công tác  
quản trị TSTT tại Trường thông qua việc thành lập  
Ban Quản trị TSTT và cử nhân sự tham dự nhiều lớp  
tập huấn, đào tạo chuyên sâu về quả trị TSTT.  
Trong lúc hoạt động của Ban QT TSTT còn chưa phát  
huy được hiệu quả tuyệt đối trong công tác thay đổi  
cách tiếp nhận của người học và người lao động đối  
với sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đạo văn và chống đạo văn  
thì sự phát triển và hội nhập nhanh chóng của Trường  
đòi hỏi phải có một cơ chế hiệu quả hơn. Năm 2016,  
Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn đã đổi tên  
và bổ sung chức năng Phòng TTPC trực thuộc trường  
thành Phòng anh tra - Pháp chế - Sở hữu trí tuệ  
thuộc trường8. Đây là đơn vị chuyên trách trách cấp  
trường thực hiện nhiệm vụ quản trị tài sản trí tuệ song  
song Ban Quản trị TSTT.  
Ngoài những ưu điểm có được tương tự mô hình tại  
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, mô hình quản trị  
TSTT của Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn  
còn khắc phục được số khuyết điểm thường thấy của  
các mô hình quản trị TSTT khác như:  
- Việc giao cho Phòng TT-PC-SHTT làm đầu mối xử  
lý các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ đã xác định  
mối liên hệ cơ bản của các đơn vị trong trường liên  
quan đến lĩnh vực này. eo đó, Phòng KHCN sẽ có  
nghĩa vụ cung cấp tình hình nghiên cứu khoa học và  
kết quả nghiên cứu cho Phòng TT-PC-SHTT làm đầu  
mối quản lý.  
- Để khắc phục nhược điểm chậm trễ trong việc tiếp  
cận kết quả nghiên cứu khoa học của Phòng TT-PC-  
SHTT, Trường đã cho xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu  
nghiên cứu khoa học và kết quả dùng chung cho các  
đơn vị được cấp quyền. Qua đó, trong lúc chờ báo cáo  
đầy đủ, chính thức của Phòng KHCN, Phòng TT-PC-  
SHTT có thể chủ động theo sát tình hình nghiên cứu  
và kết quả cần xác lập quyền để kịp thời tham mưu  
Đến năm 2019, Ban Quản trị TSTT kết thúc nhiệm  
vụ lịch sử của mình và Trường hiện tại chỉ còn Phòng hiệu quả.  
1592  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1589-1597  
Hình 3: Mô hình QTTSTT tại Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Bên cạnh những ưu điểm đã được khắc phục, mô hình  
của Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn vẫn  
chưa cho thấy vai trò của các đơn vị trong việc hỗ trợ  
thương mại hoá sản phẩm trí tuệ. Trong khi đó, việc  
khai thác, thương mại hoá tài sản trí tuệ được xem là  
động lực cho mọi sự sáng tạo thì lại được đơn vị để  
ngõ.  
KHUYẾN NGHỊ MÔ HÌNH QUẢN TRỊ  
TSTT TẠI VNU-HCM VÀ CÁC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH VIÊN  
Mô hình quản trị TSTT tại VNU-HCM  
Từ những giá trị tích cực và hạn chế của Mô hình  
quảntrị TSTT tại VNU-HCM, tác giảđề xuấtmôhình  
quản trị TSTT tại VNU-HCM theo hướng giữ mô  
hình hiện tại đồng thời chuyển IPTC sang cơ chế hoạt  
động dịch vụ hoàn toàn nhằm tăng cường khả năng  
linh động trong hoạt động và có thể chủ động liên  
hệ các doanh nghiệp, đối tác trong việc chuyển giao  
TSTT, là đầu mối nhận đặt hàng nghiên cứu (Hình 5).  
Ngoài ra, IPTC còn có thể chủ động cung cấp dịch vụ  
cho các chủ thể khác kể cả các chủ thể không thuộc  
VNU-HCM.  
Mô hình giao nhiệm vụ quản trị TSTT cho  
Phòng phụ trách khoa học công nghệ  
Mặc dù có cùng mô hình về vị trí thực hiện nhiệm vụ  
quản trị TSTT tuy nhiên, ứng với mỗi trường theo mô  
hình này lại có cách tiếp cận, bố trí khác nhau.  
Trong khi tại Trường ĐH Bách khoa ngoài việc giao  
nhiệm vụ cho Phòng KHCN và Dự án9 chịu trách  
nhiệm quản trị TSTT thì tại đơn vị này còn có Trung  
tâm ươm tạo Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ  
giúp hỗ trợ công tác thực thi hoá ý tưởng, kết quả  
nghiên cứu trước khi vào thị trường10. Đây là mắc  
xích quan trọng trong việc hỗ trợ đầu ra cho nghiên  
cứu khoa học mà các mô hình trước chưa làm được.  
Tuy nhiên, đối ngược với mô hình 1, tại các Trường  
thuộc mô hình này tác giả không nhận thấy hoạt động  
chuyên sâu về đào tạo nhân lực, hỗ trợ nhà nghiên cứu  
trong việc nhận diện, phân loại, xác lập quyền sở hữu  
trí tuệ. Việc làm này khiến cho các nhà nghiên cứu  
hầu hết không nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình  
trước, trong và sau nghiên cứu. Trong khi các chủ thể  
quan tâm phải sử dụng dịch vụ bên ngoài hoặc các  
Trường thành viên khác (ví dụ: Phòng TTPCSHTT,  
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên) để được hỗ trợ. Điều  
này ít nhiều làm thất thoát TSTT của Trường.  
Mô hình  
Hình 5  
Diễn giải  
Với mô hình mới như đề xuất, mô hình quản trị TSTT  
VNU-HCM gồm các chủ thể chính:  
• Ban KHCN: tiếp tục giao Ban KHCN công tác  
quản lý hành chính về nghiên cứu khoa học,  
sở hữu trí tuệ như hiện tại. Như đã trình bày,  
với cách bố trí này Ban KHCN thực hiện chức  
năng quản lý hành chính trong việc quản lý kết  
quả nguyên cứu khoa học sẽ hiệu quả, tránh  
thất thoát, mất TSTT của VNU-HCM. Đồng  
thời, Ban KHCN có đủ quyền yêu cầu các bộ  
phận phụ trách quản trị TSTT tại các trường đại  
học thành viên báo cáo hoạt động để kịp thời  
định hướng phát triển chung, đồng bộ và chia  
sẽ thông tin quản trị toàn hệ thống.  
Tại các trường còn lại, tác giả nhận thấy hầu hết chưa  
có hoạt động rõ ràng và nhân sự chuyên trách cho hoạt  
động quản trị TSTT.11,12  
1593  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1589-1597  
Hình 4: Mô hình quản lý TSTT tại Trường ĐH Bách Khoa  
Hình 5: Mô hình quản lý TSTT tại VUN-HCM kiến nghị  
• IPTC: để phát huy hiệu quả hoạt động của IPTC,  
lập quyền cho các đối tượng; là đầu mối hỗ trợ  
các nhà nghiên cứu làm việc với ITP yêu cầu  
được hỗ trợ khởi nghiệp khi cần; chủ động liên  
hệ các doanh nghiệp đối tác để chào bán công  
nghệ, TSTT đã được xác lập quyền, nhận đặt  
hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp và báo cáo lại  
Ban KHCN để giao các đơn vị thành viên phù  
hợp; tiếp nhận dịch vụ từ các chủ thể có nhu  
cầu bên ngoài nếu còn nguồn lựce. Việc chuyển  
đổi IPTC không gặp nhiều khó khăn về nhân sự  
khi có thể sử dụng toàn bộ đội ngũ nhân lực như  
hiện tại và có thể bổ sung khi cần thiết.  
nhằm khắc phục các hạn chế của trung tâm này  
như hiện trạng. Tác giả đề xuất VNU-HCM  
nên xem xét thành lập một công ty thuộc sở  
hữu VNU-HCMd trên cơ sở chuyển đổi từ IPTC  
hiện nay. Việc này giúp IPTC hoạt động theo  
cơ chế doanh nghiệp, vừa đáp ứng nhiệm vụ  
được VNU-HCM giao vừa cung cấp dịch vụ cho  
các chủ thể khác để chủ động nguồn thu. eo  
đó, cơ cấu của IPTC sẽ bao gồm đại diện chủ  
sở hữu (Hội đồng thành viên), giám đốc sẽ do  
Hội đồng thành viên (VNU-HCM chỉ định) với  
chức năng: tiếp nhận hồ kết quả nghiên cứu,  
TSTT cần tư vấn từ Ban KHCN; tổ chức cung  
cấp dịch vụ tư vấn nhận diện, phân loại, xác  
• ITP: tiếp tục phát huy vai trò hỗ trợ của ITP cho  
các hoạt động khởi nghiệp như hiện tại.  
dĐề xuất Công ty TNHH 1TV với vốn sở hữu ban đầu 100% của  
VNU-HCM  
eChỉ thực hiện sau khi ưu tiên thực hiện nhiệm vụ được Ban  
KHCN giao.  
1594  
       
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1589-1597  
việc giảm gánh nặng nhân sự, tác giả đề xuất các  
trường đại học thành viên nên thành lập công  
ty thuộc sở hữu của trường nhằm thực hiện  
các nhiệm vụ nhà trường giao thông qua Phòng  
KHCN và các chủ thể khác có nhu cầu tương  
tự như Công ty TNHH 1 TV IPTC đã được đề  
xuất tại VNU-HCM. Công ty này sẽ giúp các  
nhà nghiên cứu của trường được hỗ trợ nhanh  
chóng và hiệu quả từ việc dịch vụ chuyên nghiệp  
và chuyên trách, đồng thời nhà trường cũng  
chủ động được công việc khi có thể giao nhiệm  
vụ thông qua Phòng KHCN. Trong trường hợp  
nhận thấy chưa thật sự cần thiết thành lập công  
ty, các trường có thể sử dụng dịch vụ của IPTC.  
Tuy nhiên, việc sử dụng dịch vụ của IPTC sẽ tồn  
tại một số hạn chế cho trường khi không thể giao  
nhiệm vụ cho IPTC; số lượng hồ sơ cần được  
hỗ trợ tại IPTC dự kiến sẽ rất lớn, gây ra tình  
trạng quá tải; đồng thời các trường không thể  
chủ động hoạt động khi có nhu cầu.  
Mô hình quản trị TSTT tại các trường đại học  
thành viên  
Tương tự, từ những kết quả hoạt động tích cực của  
một số mô hình quản trị TSTT tại Trường ĐH Khoa  
học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân  
văn, Trường ĐH Bách Khoa và khắc phục một số hạn  
chế từ các mô hình đang vận hành của các trường đại  
học thành viên, tăng cường sự thống nhất trong toàn  
hệ thống và sự gắn kết, phối hợp giữa các bộ phận,  
đơn vị, tác giả đề xuất mô hình quản trị TSTT chung,  
mang tính cơ bản tại các trường đại học thành viên  
(Tuỳ vào đặt thù hoạt động, ngành nghề thành viên  
đang đào tạo sẽ có các điều chỉnh phù hợp với đối  
tượng TSTT phát sinh) như Hình 6.  
Mô hình  
Hình 6  
Diễn giải  
Mô hình quản trị TSTT tại các trường thành viên  
được đề xuất (Hình 6) gồm các cấu thành cơ bản sau:  
KẾT LUẬN  
Nhìn chung, qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy tại  
VNU-HCM và hầu hết các trường đại học thành viên  
đều đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác  
sáng tạo và quản trị tài sản trí tuệ từ rất sớm mặc  
dù mức độ quan tâm có khác nhau. Tuy nhiên, để  
công tác QTTSTT tại đơn vị được hiệu quả, thiết  
nghĩ VNU-HCM và các trường đại học thành viên  
cần nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện mô hình  
QTTSTT mang tính đặc thù và hiệu quả cho riêng  
mình. Trong quá trình hoàn thiện hệ thống, hướng  
tới sự đặc thù và hiệu quả, VNU-HCM và các trường  
đại học thành viên có thể tham khảo một số mô hình  
rất thành công được chia sẽ tại Nhật Bản và Hàn Quốc  
từ đó có giải pháp xây dựng và hoàn thiện mô hình  
phù hợp hơn.  
• Phòng phụ trách KHCN, SHTT của trường: với  
mô hình này đây được xem là cơ chế trung tâm  
của hoạt động quản trị TSTT tại các trường đại  
học thành viên, tác giả đề xuất thống nhấtnhiệm  
vụ quản lý khoa học và quản trị TSTT cho một  
đơn vị duy nhất. Việc phân công thống nhất này  
giúp trường thống nhất quản lý công tác nghiên  
cứu khoa học, kết quả nghiên cứu và TSTT phát  
sinh, từ đó nhà trường dễ dàng quản lý TSTT  
tránh thất thoát, mất và hỗ trợ thương mại hoá  
tốt hơn. Bên cạnh đó, công tác thống kê, báo  
cáo và chia sẽ dữ liệu cũng được nhanh chóng  
hơn. Từ đó, tác giả đề xuất thành lập mới, xác  
nhập, hoặc điều chuyển bộ phận quản trị TSTT  
hiện tại của các đơn vị về Phòng có chức năng  
quản lý KHCN của Trường (gọi chung là Phòng  
KHCN)f. Việc giao cho Phòng quản lý khoa học  
đảm nhiệm công tác quản trị TSTT của trường  
là phù hợp vì không xáo trộn cơ cấu nhân sự,  
chỉ luân chuyển hoặc tuyển mới, từ đó tạo sự ổn  
định và thống nhất các giai đoạn quản trị TSTT  
từ tạo lập đến thương mại hoá được quản lý chặc  
chẽ và khép kín.  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
TSTT: Tài sản trí tuệ  
SHTT, IP: Sở hữu trí tuệ  
QTTSTT, IAG: quản trị tài sản trí tuệ  
VNU-HCM: Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh  
IPTC: Trung tâm chuyển giao công nghệ và sở hữu trí  
tuệ  
ITP: Khu công nghệ phần mềm  
KHCN: Khoa học công nghệ  
TTPCSHTT, TT-PC-SHTT: anh tra Pháp chế Sở  
hữu trí tuệ  
• Công ty cung cấp dịch vụ tư vấn nhận diện, phân  
loại, xác lập quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao  
công nghệ: để công tác tư vấn, hỗ trợ hoạt động  
nhận diện, phân loại, xác lập quyền sở hữu trí  
tuệ và chuyển giao công nghệ hiệu quả, bên cạnh  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Tác giả xin cam đoan rằng không có bất kì xung đột  
lợi ích nào trong công bố bài báo.  
fVề tên gọi của Phòng sẽ do đặc thù của từng trường đại học thành  
viên và do Hiệu trưởng quyết định.  
1595  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(3):1589-1597  
Hình 6: Mô hình QTTSTT tại các trường thành viên kiến nghị  
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ  
Tác giả chịu trách nhiệm về nội dung toàn bài báo.  
8. Cơ cấu tổ chức Phòng TT-PC-SHTT trường ĐH Khoa học  
xã hội và nhân văn;Available from: http://ttpc.hcmussh.  
9. Cơ cấu tổ chức Phòng KHCN và Dự án trường ĐH Bách  
10. Cơ cấu tổ chức Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp trường  
ĐH Bách khoa;Available from: https://www.hcmut.edu.vn/vi/  
11. Cơ cấu tổ chức Phòng Quản lý khoa học trường ĐH Quốc  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ  
2. Cục Sở hữu trí tuệ. Phụ lục 1 Báo cáo thường niên năm 2013-  
2018. Hà Nội: Bộ Khoa học công nghệ. 2018;.  
3. Hỗ trợ khởi nghiệp tại ITP;Available from: https://itp.vn/vi/ho-  
4. Cục Sở hữu trí tuệ. Mô hình quản trị TSTT trong các trường  
đại học của Nhật Bản và Hàn Quốc. Hà Nội: Bộ Khoa học công  
nghệ. 2014;.  
5. Quyền H. Hội thảo tổ chức và quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ  
tại các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp thực  
trạng và giải pháp. Hà Nội: Bộ Khoa học công nghệ. 2017;.  
6. Cơ cấu tổ chức Phòng TTPCSHTT trường ĐH Khoa học tự  
nhiên;Available from: https://www.hcmus.edu.vn/ttpcshtt.  
7. Tài liệu chuyên đề quyền tác giả dánh cho sinh  
viên Trường ĐH Khoa học tự nhiên;Available from:  
12. Cơ cấu tổ chức Phòng Đào tạo - Sau đại học - Khoa học công  
nghệ trường ĐH Công nghệ thông tin;Available from: https:  
1596  
                         
Science & Technology Development Journal – Economics - Law and Management, 5(3):1589-1597  
Review article  
Open Access Full Text Article  
The model of organization and management of intellectual  
property activities in Viet Nam National University Ho Chi Minh  
City and the universities members - current situation and solutions  
Ngo Minh Tin*  
ABSTRACT  
Currently, intellectual property in general and the organization and management of intellectual  
property activities (Intellectual asset governance) in particular are being paid special attention by  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
most economic organizations because of their enormous contributions to the asset value of the  
organization. In recent years, along with the general development trend of the whole country and  
industries, universities, the origin of creativity, the beginning of most intellectual asset have gradu-  
ally recognized the value of the contribution of IP to sustainable development, the universities have  
initially built and operated their Intellectual asset governance models in order to find the appropri-  
ate model as Intellectual asset governance is only effective when we have the most suitable model  
of governance. Given the rising trend, VietNam National University Ho Chi Minh City (VNU-HCM)  
and its member universities soon tested and operated their models. After nearly 10 years of oper-  
ation, no official summary report on the efficiency obtained from each model is conducted. With  
observable data, however, the author found that each model has its advantages and certain limita-  
tions. In this article, the author analyzes the Intellectual asset governance models in VNU-HCM and  
its member universities, followed by the proposal of a suitable model for corporate governance for  
each subject.  
Key words: Intellectual asset governance, intellectual property, intellectual asset, intellectual-  
property management  
University of Economics and Law,  
VNU-HCM, Vietnam  
Correspondence  
Ngo Minh Tin, University of Economics  
and Law, VNU-HCM, Vietnam  
Email: [email protected].vn  
History  
• Received: 19-12-2020  
• Accepted: 22-5-2021  
• Published: 26-5-2021  
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.743  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Tin N M. The model of organization and management of intellectual property  
activities in Viet Nam National University Ho Chi Minh City and the universities members - current  
situation and solutions. Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.; 5(3):1589-1597.  
1597  
pdf 9 trang yennguyen 11300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình tổ chức và quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ tại Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và một số trường đại học thành viên - Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_to_chuc_va_quan_ly_hoat_dong_so_huu_tri_tue_tai_dai.pdf