Chế định xác lập quyền đối với nhãn hiệu mùi của pháp luật Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu – Kinh Nghiệm cho Việt Nam

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(2):1389-1394  
Bài tổng quan  
Open Access Full Text Article  
Chế định xác lập quyền đối với nhãn hiệu mùi của pháp luật Hoa Kỳ  
và Liên minh Châu Âu – Kinh Nghiệm cho Việt Nam  
Ngô Minh Tín*, Trần Thị Thu Thảo  
TÓM TẮT  
Trong bài viết này, dưới góc độ phân tích quy định của pháp luật Hoa Kỳ và pháp luật của Liên  
minh Châu Âu, cũng như thực tiễn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu mùi nói riêng và  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
nhãn hiệu phi truyền thống nói chung tại Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu từ đó tác giả đề xuất kinh  
nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện quy định pháp luật; quy trình, cách thức thẩm  
định và xác lập quyền đối với nhãn hiệu mùi nhằm đáp ứng xu thế hợp tác toàn diện toàn cầu và  
yêu cầu nội luật hoá theo cam kết của Việt Nam tại Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên  
Thái Bình Dương. Theo đó, tại các vòng đàm phán của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương  
(tiền thân của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) các bên tham gia  
đàm phán thường xuyên bất đồng quan điểm liên quan đến phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ  
nói chung và bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu mùi nói riêng.  
Đây cũng là một trong những lý do quan trọng dẫn đến sự thất bại của các vòng đàm phán và  
việc rút lui khỏi Hiệp định của Hoa Kỳ. Ngoài ra, trong tương lai, quyền sở hữu trí tuệ nói chung  
và quyền đối với nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu phi truyền thống nói riêng sẽ tiếp tục là chủ đề  
đàm phán quan trọng quyết định đến sự thành công của các hiệp định tự do thương mại thế hệ  
mới. Vì vậy, việc sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong việc xác lập và bảo vệ quyền đối với đối  
tượng này góp phần giúp Việt Nam chủ động hơn trong đàm phán.  
Từ khoá: Nhãn hiệu mùi, nhãn hiệu phi truyền thống, nhãn hiệu, sở hữu trí tuệ  
cấp thiết để đáp ứng cam kết của chúng ta theo Hiệp  
định. Trên cơ sở phân tích, đánh giá và so sánh quy  
định pháp luật của 2 nền pháp lý lâu đời trong việc  
chấp nhận xác lập quyền nhãn hiệu đối với các dấu  
hiệu không nhìn thấy được là Hoa Kỳ (US) và Liên  
Minh Châu Âu (EU) từ đó rút ra một số bài học kinh  
nghiệm cho Việt Nam khi tiến hành thay đổi các quy  
định pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng như góc độ tiếp  
cận để đáp ứng yêu cầu của Hiệp định và quá trình  
hội nhập hiệu quả.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong thương mại hiện đại, nhãn hiệu luôn đóng vai  
trò vô cùng quan trọng đối với sự thành công của  
doanh nghiệp. Ngoài việc giúp doanh nghiệp phân  
biệt sản phẩm/dịch vụ của mình với các doanh nghiệp  
khác nhãn hiệu còn giúp tăng khả năng nhận diện  
của khách hàng đối với sản phẩm/dịch vụ của doanh  
nghiệp mình.  
Tại Việt Nam, để thực hiện thành công công nghiệp  
hoá hiện - đại hoá đất nước, dưới sự lãnh đạo của  
Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành hội nhập ngày càng  
sâu, rộng với nền kinh tế toàn cầu thông qua việc tham  
gia các hiệp ước thương mại tự do thế hệ mới trong  
đó đáng chú ý và có vai trò quan trọng trong thời gian  
gần đây là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ  
xuyên ái Bình Dương (gọi tắt là CPTPP). eo cam  
kết tại Hiệp định, Việt Nam phải mở rộng phạm vi  
bảo hộ đối với nhãn hiệu bao gồm tất cả các dấu hiệu  
không nhìn thấy được1a. Trong khi đó, pháp luật về  
sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện tại chỉ bảo hộ nhãn hiệu  
khi đáp ứng điều kiện phải là dấu hiệu nhìn thấy được.  
Vì vậy, việc thay đổi quy định pháp luật Việt Nam về  
mặt pháp lý và thực tiễn cùng với góc độ tiếp cận là  
Trường Đại học Kinh tế-Luật,  
ĐHQG-HCM, Việt Nam  
Liên hệ  
Ngô Minh Tín, Trường Đại học Kinh tế-Luật,  
ĐHQG-HCM, Việt Nam  
Email: [email protected].vn  
Lịch sử  
BẢO HỘ NHÃN HIỆU MÙI TẠI HOA  
KỲ VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU  
• Ngày nhận: 19/12/2020  
• Ngày chấp nhận: 30/3/2021  
• Ngày đăng: 18/4/2021  
eo nghĩa thông thường, nhãn hiệu là “dấu hiệu  
riêng của nơi sản xuất dán hoặc in trên mặt hàng”2  
hoặc là một tên hoặc biểu tượng cho thấy nó được tạo  
bởi một công ty cụ thể và không thể được sử dụng  
bởi công ty khác nếu không có sự cho phép3b. Tuy  
nhiên, về mặt pháp lý, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ ế  
giới (WIPO) đã định nghĩa “Nhãn hiệu là dấu hiệu  
dùng để phẩn biệt sản phẩm, dịch vụ của một doanh  
nghiệp với sản phẩm và dịch vụ của một doanh nghiệp  
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i2.742  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
b“a name or symbol on a product that shows it was made by a par-  
ticular company, and that it cannot be used by other companieswith-  
out permission”  
a Điều 18.8, CPTPP.  
Trích dẫn bài báo này: Tín N M, Thảo T T T. Chế định xác lập quyền đối với nhãn hiệu mùi của pháp  
luật Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu – Kinh Nghiệm cho Việt Nam. Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.;  
5(2):1389-1394.  
1389  
   
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(2):1389-1394  
khác và nhãn hiệu được bảo hộ bởi luật Sở hữu trí tuệ mùi hương được yêu cầu bảo hộ không cần thiết cho  
4 c. eo đó, các dấu hiệu được nhắc đến trong định việc sử dụng sản phẩm hoặc cho bất kỳ mục đích sử  
”
nghĩa này gần như là vô tận. Dựa trên định nghĩa dụng nào của sản phẩm hoặc mùi hương không là yếu  
này, có nhiều quốc gia đã chấp thuận bảo hộ các dấu tố quyết định đến giá thành hoặc giá trị của sản phẩm.  
hiệu không nhìn thấy được trong đó bao gồm cả âm Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng, một đặc điểm  
của nhãn hiệu không được đăng ký bảo hộ nếu nó  
mang tính chức năng, và đặc điểm đó là “cần thiết  
cho việc sử dụng hoặc cho mục đích của sản phẩm  
hoặc ảnh hưởng đến giá thành hoặc giá trị của sản  
phẩm”11. Do đó, giả sử nếu như một mùi hương được  
sử dụng rộng rãi và đóng vai trò là một nhãn hiệu  
được nhiều người biết đến, tuy nhiên, mùi hương đó  
lại đóng vai trò là một chức năng quan trọng, một yếu  
tố ảnh hưởng đến quyết định hành vi tiêu dùng của  
thanh, mùi hương như là nhãn hiệu từ rất sớm có thể  
kể đến đó là Hoa Kỳ, Liên Minh Châu Âu, Australia5  
hay Canada6.  
Như vậy, có thể nhận định, nhãn hiệu mùi hương là  
những nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ quốc  
gia đối với các dấu hiệu là mùi hương có khả năng  
phân biệt sản phẩm/dịch vụ của chủ thể kinh doanh  
này với chủ thể kinh doanh khác.  
người mua sẽ không thoả mãn tiêu chí này12  
(2) Khả năng phân biệt  
.
Bảo hộ nhãn hiệu mùi tại Hoa Kỳ  
Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong trong lĩnh vực bảo hộ  
nhãn hiệu phi truyền thống nói chung và nhãn hiệu  
mùi nói riêng. Nhãn hiệu mùi đầu tiên trên thế giới  
được Hoa Kỳ cấp bằng bảo hộ là “mùi hương hoa đại  
(Phumeria Blossoms) cho sản phẩm chỉ may và chỉ  
thêu7. Kể từ thời điểm này, Cơ quan Giải quyết tranh  
chấp nhãn hiệu Hoa Kỳ cho rằng “mùi hương có thể  
có khả năng đóng vai trò là một nhãn hiệu để xác định  
và phân biệt hàng hóa”. Đây được xem là nền móng  
đầu tiên cho bảo hộ nhãn hiệu mùi tại Hoa Kỳ và thế  
giới8.  
eo Điều 1127, Mục 45, Đạo luật Lanham của Hoa  
Kỳ9“Nhãn hiệu bao gồm bất kỳ từ, tên, dấu hiệu hoặc  
thiết bị nào hoặc là sự kết hợp các yếu tố trên (1) được  
sử dụng bởi con người, hoặc (2) Người đó có ý định sử  
dụng trong kinh doanh và thực hiện việc đăng ký thành  
lập theo Đạo luật này, nhằm xác định và phân biệt hàng  
hóa của họ, bao gồm cả sản phẩm độc quyền từ của nhà  
sản xuất này với nhà sản xuất khác để chỉ ra nguồn gốc  
của hàng hóa”. Với quy định này, pháp luật Hoa Kỳ  
đã chấp nhận dấu hiệu mùi hương được bảo hộ nhãn  
hiệu tương đồng như các dấu hiệu truyền thống khác.  
eo yều cầu của Đạo luật Lanham, quyền sở hữu đối  
với nhãn hiệu mùi hương phát sinh trên cơ sở người  
sử dụng đầu tiên10 và phải thoả mãn 02 điều kiện:  
một là mùi hương phải có khả năng phân biệt; và hai  
là, dấu hiệu mùi hương phải không mang tính chức  
năng khi mùi hương được thêm vào sản phẩm8. Vì  
vậy, Sau khi tiếp nhận hồ sơ, thẩm định viên sẽ tiến  
hành thẩm định 02 yếu tố này.  
Khi thoả mãn điều kiện về tính chức năng, các thẩm  
định viên sẽ tiến hành đánh giá khả năng phân biệt  
của mùi hương này so với các dấu hiệu mùi hương  
khác. Việc đánh giá dấu hiệu mùi hương có khả năng  
phân biệt không tương tự như đối với các dấu hiệu  
truyền thống khác. Sau khi có kết luận đánh giá, nếu  
mùi hương đã đăngký được kết luận có khả năng phân  
biệt thì người nộp đơn có thể đăng ký trong Sổ đăng  
bạ chính, hoặc nếu chưa thể chứng minh được mùi  
hương có khả năng phân biệt hay không người nộp  
đơn có thể đăng ký theo Sổ đăng bạ phụ13 và được  
quyền bổ sung minh chứng về khả năng phân biệt  
thông qua việc sử dụng trong thời hạn 5 năm kể từ  
ngày đăng ký tại Sổ đăng bạ phụ, khi đó, người nộp  
đơn có thể làm đơn đăng ký nhãn hiệu trong Sổ đăng  
bạ chính8.  
Trong hai điều kiện được đặt ra theo pháp luật Hoa  
Kỳ, rõ ràng người nộp đơn và thẩm định viên không  
quá khó khăn để chứng minh một mùi hương không  
có tính chức năng. Tuy nhiên, để chứng minh mùi  
hương đáp ứng khả năng phân biệt thực sự không dễ  
dàng kể cả với thẩm định viên14  
.
Bên cạnh đó, ngoài các quy định mang tính đặc thù,  
nhãn hiệu mùi hương còn phải tuân thủ các nguyên  
tắc cứng đối với nhãn hiệu khác như đính kèm đơn  
đăng ký là bản mô tả chi tiết bằng văn bản của dấu  
hiệu14 và mẫu thử tương ứng. Trong khi đó, USPTO  
lại không có bất kỳ hướng dẫn cụ thể nào về nội dung  
cần cung cấp trong bản mô tả mùi hương và mẫu thử  
ngoài việc bắt buộc “mẫu thử phải chứa đựng mùi  
hương”15. Chính vì vậy, đến nay tại Hoa Kỳ chỉ còn  
hơn 10 nhãn hiệu mùi đang được bảo hộ. Tuy nhiên,  
một điểm cộng cho USPTO là cho phép người nộp  
đơn có thể chứng minh khả năng phân biệt của mùi  
hương thông qua quá trình sử dụng trong thời hạn  
5 năm kể từ ngày được ghi nhận trong Sổ đăng bạ  
phụ15. Hiện tại, ít nhất 6 nhãn hiệu mùi hương đã  
(1) Tính chức năng  
Để chứng minh được mùi hương không mang tính  
chức năng, Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ  
(United States Patent and Trademark Office - USPTO)  
yêu cầu người nộp đơn phải nộp bằng chứng cho thấy  
c“A trademark is a sign capable of distinguishing the goods or ser-  
vices of one enterprise from those of other enterprises. Trademarks  
are protected by intellectual property rights.”  
1390  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(2):1389-1394  
được đăng ký vào Sổ đăng bạ phụ và hiện các đăng ký chứng minh tính phân biệt của mùi hương vốn không  
dễ dàng19d  
.
này vẫn còn hiệu lực. Trong số này, một nhãn hiệu đã  
đáp ứng được khả năng phân biệt thông qua việc sử  
dụng và được ghi nhận vào Sổ đăng bạ chính là mùi  
hương hỗn hợp bao gồm xạ hương, vani, hoa hồng,  
và oải hương cho dầu dưỡng tóc, kem cho tóc, kem  
dưỡng ẩm, tạo kiểu tóc8.  
Như vậy, trở ngại lớn nhất trong quá trình xác lập  
quyền đối với nhãn hiệu mùi tại Hoa Kỳ là chứng  
minh khả năng phân biệt của mùi đăng ký. Tuy nhiên,  
việc mở rộng khả năng phân biệt qua quá trình sử  
dụng đã góp phần tăng cơ hội bảo hộ đối với nhãn  
hiệu mùi.  
(2) Được ghi tên trên Sổ đăng ký nhãn hiệu của EU  
eo Khoản 4, Điều 3, Cam kết thực hiện quy định  
của EU số 2018/626 (EUTMIR), để mùi hương có  
thể được ghi trên Sổ đăng ký nhãn hiệu của EU, mùi  
hương phải được thể hiện dưới bất kỳ hình thức thích  
hợp nào bằng cách sử dụng công nghệ thường có sẵn,  
miễn là nó có thể được sao chép trên Sổ đăng ký một  
cách rõ ràng, chính xác, khép kín, dễ tiếp cận, dễ hiểu,  
bền và khách quan để cho phép người có thẩm quyền  
chính và công chúng xác định một cách rõ ràng và  
chính xác đối tượng của sự bảo hộ dành cho chủ sở  
hữu của nó và kèm với đó là một bản mô tả. Yêu cầu  
về tính “rõ ràng, chính xác, khép kín, dễ tiếp cận, dễ  
hiểu, bền và khách quan” đã được bổ sung án lệ Sieck-  
BảohộnhãnhiệumùitạiLiênMinhChâuÂu  
mann có hiệu lực trước đó20  
.
eo Điều 4, Sắc lệnh về nhãn hiệu 2017/1001 và Điều  
4, Quy chế 2015/2436 của EU16, nhãn hiệu được định  
nghĩa là “bất kỳ dấu hiệu nào, đặc biệt là các từ, bao  
gồm tên cá nhân, hoặc kiểu dáng, chữ cái, chữ số, màu  
sắc, hình dạng của hàng hóa hoặc bao bì của hàng hóa  
hoặc âm thanh, miễn là các dấu hiệu đó có khả năng:  
(a) phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh  
nghiệp này với doanh nghiệp khác; và (b) được ghi trên  
Sổ đăng ký nhãn hiệu của EU (Sổ đăng ký), cho phép  
các cơ quan có thẩm quyền và công chúng xác định đối  
tượng rõ ràng và chính xác của bảo vệ dành cho chủ  
sở hữu”. Định nghĩa này được đánh giá là có nhiều  
tiến bộ hơn so với Quy định về Nhãn hiệu Cộng đồng  
40/94/EC17 đã được sửa đổi khi đã loại bỏ cụm từ “có  
khả năng được biểu thị bằng đồ họa”, cụm từ này được  
xem là rào cản và nguyên nhân chính dẫn đến việc chỉ  
có 1 nhãn hiệu được chấp thuận tại EU và đã hết hiệu  
lực năm 2007 trước khi được sửa đổi.  
Mặc dù đã thực hiện hàng loạt điều chỉnh hỗ trợ việc  
đăng ký xác lập quyền đối với nhãn hiệu mùi hương  
được hiệu quả hơn, tuy nhiên, việc bảo hộ nhãn hiệu  
mùi tại EU vẫn gặp rất nhiều khó khăn21. Lý giải cho  
điều này, một số học giả cho rằng có hai nguyên nhân  
chính: một là, hiện nay chưa có bất kỳ công nghệ nào  
có thể xác định chính xác mùi hương “một cách rõ  
ràng, chính xác, khép kín, dễ hiểu, bền và khách quan”  
theo yêu cầu22; hai là, về bản chất, mùi hương được  
cảm nhận một cách chủ quan của mỗi cá nhân, mỗi  
cá nhân sẽ có cách tiếp nhận mùi hương tùy vào sở  
thích, đặc điểm vùng miền mà khiến việc “cảm nhận  
mùi hương một cách khách quan là rất khó23  
.
Như vậy, có thể thấy, mặc dù cơ quan lập pháp của EU  
đã rất tích cực thay đổi quy định về bảo hộ nhãn hiệu  
mùi theo hướng ngày càng tích cực, tuy nhiên, việc  
bảo hộ hiệu quả đối với các nhãn hiệu không nhìn  
thấy được nói chung và nhãn hiệu mùi nói riêng đòi  
Việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu tại EU cũng như hỏi nhất thiết phải có sự hỗ trợ tích cực từ công nghệ  
cũng như tư duy và trình độ của các thẩm định viên  
tiếp nhận.  
tại nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam phải  
tuân thủ nguyên tắc nộp đơn đầu tiên theo quy định  
của Công ước Paris. Ngoài ra, nhãn hiệu đăng ký phải  
đáp ứng: (1) đạt được khả năng phân biệt; và (2) được  
ghi tên trong Sổ đăng ký nhãn hiệu của EU.  
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT  
NAM  
Từ những quy định pháp luật và thực tiễn về xác lập  
và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu mùi  
tại US và EU, để xây dựng và vận hành cơ chế xác lập  
và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả, Việt  
Nam cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:  
ứ nhất, điều chỉnh các quy định về nhãn hiệu theo  
hướng phù hợp các cam kết tại các điều ước quốc tế  
đã và sẽ có hiệu lực trong đó có Hiệp định. eo đó,  
chúng ta cần thay đổi điều kiện bảo hộ nhãn hiệu tại  
Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung  
(1) Khả năng phân biệt  
Khác với USPTO, tại EU, khả năng phân biệt có mùi  
hương được hướng dẫn khá chi tiết, theo đó, mùi  
hương được ghi nhận có khả năng phân biệt khi trung  
bình số lượng người tiêu dùng có thể phân biệt nhãn  
hiệu này với nhãn hiệu khác trong tất cả các quốc gia  
là thành viên EU18. Khả năng phân biệt này có thể  
đạt được do tự thân nhãn hiệu đáp ứng khả năng phân  
biệt hoặc có được thông qua quá trình sử dụng. Điều  
này theo chúng tôi là hợp lý và tương đồng với pháp  
luật Hoa Kỳ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình  
dĐiều 31 Sắc lệnh về nhãn hiệu 2017/1001.  
1391  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(2):1389-1394  
năm 2009, 2019 theo hướng loại bỏ cụm từ “nhìn thấy môn của thẩm định viên, Cục Sở hữu trí tuệ cũng cần  
được”. Việc điều chỉnh này vừa đáp ứng cam kết bảo tổ chức nâng cao khả năng sử dụng ứng dụng khoa  
hộ nhãn hiệu âm thanh theo Hiệp định đồng thời là học kỹ thuật của thẩm định viên trong quá trình thẩm  
viên gạch đầu tiên mở đường cho việc chấp nhận xác định.  
lập, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các nhãn hiệu ứ năm, thay đổi tư duy, góc độ tiếp cận của thẩm  
phi truyền thống khác trong đó có nhãn hiệu mùi.  
định viên trong quá trình thẩm định đơn đăng ký  
ứ hai, bổ sung quy định rõ ràng và cụ thể về các nhãn hiệu. Trong khi quá trình thẩm định nhãn hiệu  
tiêu chí xác định khả năng phân biệt của các dấu hiệu của US và EU là tìm cách chứng minh các dấu hiệu  
thông qua quá trình sử dụng. Như đã phân tích tại không được bảo hộ để không chấp nhận đơn đăng ký.  
Mục 2, cả US và EU đều chấp nhận khả năng phân biệt Điều đó đồng nghĩa với việc nếu không tìm được các  
của nhãn hiệu qua quá trình sử dụng. Quy định này dấu hiệu này thì chủ đơn sẽ được cấp văn bằng bảo hộ.  
đã chứng minh được hiệu quả của mình trong việc Trong khi đó, theo hướng dẫn tại Mục III.17 quy chế  
cởi bỏ một phần khó khăn trong việc chứng minh của thẩm định nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam lại quy  
các chủ thể. Tuy nhiên, cả US và EU vẫn chưa thật sự định quy trình chấp nhận đơn được áp dụng ngược lại  
tận dụng tốt cơ chế này bởi vì chưa có bất kỳ tiêu chí theo hướng các thẩm định viên sẽ tìm các dấu hiệu có  
hướng dẫn cụ thể nào trong việc đánh giá tính phân khả năng phân biệt để chấp nhận đơn, nếu không tìm  
biệt qua quá trình sử dụng. Việc quy định các tiêu chí được thì sẽ ra quyết định từ chối bảo hộ nhãn hiệu.  
này một cách cụ thể giúp người nộp đơn có thể chủ Có thể thấy cách tiếp cận này rõ ràng đã làm hạn chế  
động chuẩn bị các tài liệu nhằm chứng minh dấu hiệu đi khả năng được bảo hộ của nhãn hiệu do tính đặc  
đang được sử dụng là nhãn hiệu đạt được khả năng thù khó xác định đặc tính, khả năng phân biệt của  
phân biệt thông qua quá trình sử dụng cũng như giúp nhãn hiệu phi truyền thống tại Việt Nam mặc dù luật  
thẩm định viên Cục Sở hữu trí tuệ có căn cứ chính xác Sở hữu trí tuệ và các văn bản pháp luật liên quan đã  
để đánh giá.  
được điều chỉnh.  
ứ ba, quy định rõ yêu cầu về hình thức thể hiện của  
nhãn hiệu mùi. ật vậy, tại EU số lượng nhãn hiệu  
mùi sở dĩ được chấp nhận rất hạn chế mặc dù pháp  
luật khá cởi mở là do các vấn đề về kỹ thuật trong việc  
xác định hình thức thể hiện của nhãn hiệu mùi. Hình  
thức thể hiện nhãn hiệu mùi đóng vai trò quan trọng  
KẾT LUẬN  
Nhãn hiệu mùi là một loại nhãn hiệu đặc biệt và đã  
được các quốc gia phát triển quan tâm từ rất lâu. Tuy  
nhiên, tại Việt Nam đây vẫn là một phạm trù còn khá  
mới cần được nghiên cứu và làm rõ. Mặc dù đã được  
trong quá trình thẩm định hình thức và nội dung của thừa nhận và bảo hộ từ rất sớm trên thế giới, tuy nhiên  
đơn vì vậy nếu chúng ta chọn cách quy định chỉ cần vì nhiều lý do cả khách quan lẫn chủ quan dẫn đến  
bản mô tả tương tự với Pháp luật US hay EU thì đòi việc xác lập và bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu mùi  
hỏi phải yêu cầu chi tiết nội dung bắt buộc tối thiểu còn gặp rất nhiều khó khăn nếu không muốn nói là  
phải có trong bản mô tả hoặc có thể quy định theo kém hiệu quả tại các nước kể cả các nước phát triển  
hướng cụ thể hoá hình thức thể hiện của mùi hương như US và EU.  
đáp ứng yêu cầu theo hướng liệt kê24  
.
Từ các phân tích từ quy định pháp luật của US và  
ứ tư, hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật trong thẩm EU đến thực tiễn áp dụng tại các thực thể này có  
định nhãn hiệu đặc biệt là nhãn hiệu không nhìn thấy thể thấy để được bảo hộ nhãn hiệu mùi cần phải đáp  
được như âm thanh, mùi hương. Do tính chất đặc ứng ít nhất điều kiện đó là khả năng phân biệt. Đây  
trưng của nhãn hiệu phi truyền thống nói chung và được xem là điều kiện khó khăn nhất đối với một mùi  
của nhãn hiệu mùi nói riêng là khó đánh giá thông hương muốn được bảo hộ nhãn hiệu. Về quy định  
qua cảm quan, chủ yếu do cảm nhận của từng người, này, mỗi quốc gia có cách đánh giá, góc độ tiếp cận  
nên rất khó có thể giữ được yếu tố khách quan trong khác nhau dẫn đến hiệu quả cũng khác biệt. Ngoài ra,  
quá trình thẩm định. Vì vậy, rút kinh nghiệm từ sự trong khi Hoa Kỳ sẽ ngừng đánh giá nếu mùi hương  
thất bại của EU trong việc bảo hộ nhãn hiệu mùi, với đăng ký có tính chức năng do lo sợ sẽ trùng lậ với  
lợi thế là quốc gia gia công công nghệ hàng đầu khu phạm vi bảo hộ của sáng chế thì Liên Minh Châu Âu  
vực và trên thế giới, Việt Nam chúng ta cần chủ động lại đòi hỏi mùi hương phải được thể hiện một cách rõ  
ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình thẩm định ràng, chính xác, khép kín, dễ tiếp cận, dễ hiểu, bền và  
quyền sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu mùi nói khách quan để cho phép người có thẩm quyền chính  
riêng. Việc sử dụng các ứng dụng công nghệ cao đòi và công chúng xác định một cách rõ ràng và chính xác  
hỏi thẩm định viên vừa có kiến thức chuyên môn về đối tượng của sự bảo hộ dành cho chủ sở hữu của nó.  
thẩm định nhãn hiệu vừa phải sử dụng thành thạo các Nhìn chung, với cách quy định và tình hình thực tiễn  
công cụ hỗ trợ. Vì vậy ngoài nâng cao trình độ chuyên áp dụng tại US và EU cho thấy, để thực hiện việc xác  
1392  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 5(2):1389-1394  
lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu  
mùi, Việt Nam cần tập trung cải thiện 5 vấn đề: (1)  
điều chỉnh các quy định về nhãn hiệu theo hướng phù  
hợp các cam kết tại các điều ước quốc tế đã và sẽ có  
hiệu lực trong đó có CPTPP; (2) bổ sung quy định rõ  
ràng và cụ thể về các tiêu chí xác định khả năng phân  
biệt của các dấu hiệu thông qua quá trình sử dụng; (3)  
quy định rõ yêu cầu về hình thức thể hiện của nhãn  
hiệu mùi; (4) hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật trong  
thẩm định nhãn hiệu đặc biệt là nhãn hiệu không nhìn  
thấy được như âm thanh, mùi hương; (5) thay đổi tư  
duy, góc độ tiếp cận của thẩm định viên trong quá  
trình.  
5. Australia Government IP Australia;Available from:  
6. Interpretation, Trademarks Act 1985 amended on 2019.  
Canada. 2019;Available from: https://laws-lois.justice.gc.ca/  
7. Gladwell M. TRADEMARK PICKS UP THE SCENT. Washington  
DC (USA): The Washington Post. 1990;.  
8. Burgett JM. Hmm…What’s That Smell? Scent Trademarks-A  
United States Perspective. Illinois (USA): INTA. 2009;31.  
9. Lanham Law. USA. 1946;.  
10. Nguyêntắcnộpđơnđầutiên”firsttofile”. 2019;Availablefrom:  
peals. 1982;6(1):2182. Available from: https://supreme.justia.  
12. Functionality Doctrine Law and Legal Definition;Available  
13. Scent, Fragrance, or Flavor. USA. 2018;Available from:  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
CPTPP: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ  
xuyên ái Bình Dương  
US: Hoa Kỳ  
EU: Liên Minh Châu Âu  
WIPO: Tổ chức Sở hữu Trí tuệ ế giới  
USPTO: Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ (United  
States Patent and Trademark Office)  
EUTMIR: Cam kết thực hiện quy định của EU số  
2018/626  
14. TMEP. Trademark Manual of Examining Procedure. 2018;Avail-  
able from:  
15. Galbo F. Making Sense of the Nonsensical: A look at Scent  
Trademarks and their Complexities. 2017;Available from:  
16. Directive (EU) 2015/2436 of the European Parliament and of  
the Council to approximate the laws of the Member States re-  
lating to trade marks. European Union. 2015;.  
17. Council Regulation (EC) No 40/94. (1993, December 20). Euro-  
pean Union;.  
18. Bovemij Verzekeringen NV v Benelux-Merkenbureau. First  
Chamber. 2006. C-108/05;.  
19. Regulation (EU) 2017/1001 of the European Parliament and  
of the Council of 14 June 2017 on the European Union trade  
mark. European Union. 2017;.  
TUYÊN BỐ VỀ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Nhóm tác giả xin cam đoan rằng không có bất kì xung  
đột lợi ích nào trong công bố bài báo.  
20. Sieckmann R.  
273/00.  
Bundespatentgericht (Germany). 2002;C-  
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC  
GIẢ  
Tác giả Ngô Minh Tín và tác giả Trần ị u ảo  
cùng chịu trách nhiệm về nội dung toàn bài báo.  
Trong đó, tác giả Ngô Minh Tín chịu trách trách  
nhiệm chính về nội dung toàn bài báo.  
21. EUIPO. 2017;Available from: https://euipo.europa.eu/tunnel-  
22. Adekola TA. Abolition of Graphical Representation in EU  
Trademark Directive: Should Countries with Similar Provisions  
Follow EU’s Footsteps? Journal of Intellectual Property Rights.  
2019;.  
23. Cook T. European Union Trademark Law and its proposed re-  
vision. Journal of Intellectual Property Rights. 2013;.  
24. Nghiên cứu về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống - Bảo hộ  
nhãn hiệu mùi. 2020;Available from: http://www.noip.gov.vn/  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Văn kiện Hiệp định CPTPP và các Tóm tắt;Available from:  
2. Phê H. Từ điển Tiếng Việt. Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng. 2003;.  
3. Cambridge Dictionary;Available from: https://dictionary.  
4. ;Available from: https://www.wipo.int/trademarks/en/.  
1393  
                                               
Science & Technology Development Journal – Economics - Law and Management, 5(2):1389-1394  
Review  
Open Access Full Text Article  
Provisions on establishing rights to scent trademark of the US and  
European Union law - Experience for Vietnam  
Ngo Minh Tin*, Tran Thi Thu Thao  
ABSTRACT  
Based on the perspective of analyzing the provisions of the laws of the United States and the laws of  
the European Union, as well as the practice of protecting non-traditional trademarks in the United  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
States and the European Union, in particular intellectual property rights to the Scent trademark,  
proposals are made for Vietnam in the process of completing legal provisions, processes, methods  
of assessment and establishing the rights of Scent trademark rights to meet the global trend and  
domestic law requirements under the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific  
Partnership's commitments. Accordingly, in the negotiation rounds of the Trans-Pacific Partnership  
Agreement (the precursor of the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Part-  
nership), the parties participating in the negotiation often disagree on the scope of protection of  
intellectual property rights, and non-traditional trademarks, sound trademarks, scent trademarks  
in particular. This is also one of the important reasons for the failure of negotiations and the with-  
drawal from the US Agreement. Besides, in the future, intellectual property rights and trademark  
rights, non-traditional trademarks in particular, will continue to be important negotiating topics  
that determine the success of the new generation of the free trade agreement. Therefore, the early  
improvement of the legal system in the establishment and protection of the rights to this object  
contributes to helping Vietnam be more active in negotiation.  
Key words: Intellectual property, non-traditional trademark, scent trademark, trademark  
University of Economics and Law,  
VNU-HCM, Vietnam  
Correspondence  
Ngo Minh Tin, University of Economics  
and Law, VNU-HCM, Vietnam  
Email: [email protected].vn  
History  
• Received: 19/12/2020  
• Accepted: 30/3/2021  
• Published: 18/4/2021  
DOI :10.32508/stdjelm.v5i2.742  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Tin N M, Thao T T T. Provisions on establishing rights to scent trademark of the US  
and European Union law - Experience for Vietnam. Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.; 5(2):1389-1394.  
1394  
pdf 6 trang yennguyen 18620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chế định xác lập quyền đối với nhãn hiệu mùi của pháp luật Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu – Kinh Nghiệm cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfche_dinh_xac_lap_quyen_doi_voi_nhan_hieu_mui_cua_phap_luat_h.pdf