Luận văn Tạo động lực cho người lao động tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn vật liệu xây dựng Minh Anh

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRỊNH TRƯỜNG XUÂN  
TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG  
TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN  
VẬT LIỆU XÂY DỰNG MINH ANH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH  
HÀ NỘI, 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRỊNH TRƯỜNG XUÂN  
TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG  
TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN  
VẬT LIỆU XÂY DỰNG MINH ANH  
Ngành: Quản trị kinh doanh  
Mã số: 8.34.01.01  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS BÙI VĂN HUYỀN  
HÀ NỘI, 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những kết quả  
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan, luận văn cũng  
chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào. Nội dung đảm bảo  
tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn  
trách nhiệm trước pháp luật.  
Tác giả  
Trịnh Trường Xuân  
MỤC LỤC  
PHỤ LỤC.................................................................................................................83  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
TNHH  
Nội dung chữ viết tắt  
Trách nhiệm hữu hạn  
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ  
BẢNG  
HÌNH  
 
BIỂU  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong giai đoạn phát triện hiện nay, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh  
tế quốc tế đang diễn ra hết sức mạnh mẽ và đã trở thành một xu thế tất yếu, Việt Nam  
cũng là một phần của xu thế ấy. Trước một môi trường luôn biến động, với nhiều cơ  
hội nhưng cũng không ít thách thức như hiện nay, do vậy những chiến lược mang tính  
cải cách và tiến bộ liên tục được đề xuất và thực hiện nhằm đem lại cho nền kinh tế sự  
phát triển không chỉ nhanh mà còn bền vững hơn để có thể nâng tầm quốc gia trong  
khu vực cũng như toàn thế giới. Trong tất cả những yếu tố đóng góp vào sự phát triển  
của nền kinh tế, yếu tố con người luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng và có tính ảnh  
hưởng đến hầu khắp mọi mặt của nền kinh tế. Vì vậy, công tác quản lý con người luôn  
là công tác được chú trọng hàng đầu trong mọi tổ chức, doanh nghiệp. Nếu công tác  
quản lý con người được xem là cánh cửa mở ra những tiềm năng và cơ hội phát triển  
mạnh mẽ cho tổ chức, doanh nghiệp, các hoạt động, cơ chế và chính sách tạo động lực  
lao động chính là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đó. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý  
phải có một cái nhìn thông suốt, nắm chắc bản chất, nội dung vấn đề cũng như các học  
thuyết, mô hình quản lý để có thể tìm ra cho tổ chức một phương án phù hợp với đặc  
điểm, điều kiện của họ. Từ đó có thể phát huy hết khả năng, tiềm năng nguồn nhân lực  
của mình.  
Sự hội nhập và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đang khiến Việt Nam trở thành  
một điểm thu hút đầu tư lý tưởng, một đối tác đáng chú ý trong các hoạt động kinh tế.  
Ngày càng có nhiều hơn các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài đặt vấn đề hợp tác với các  
đối tác Việt Nam nhằm thâm nhập và khai thác thị trường một cách bài bản và hiệu quả  
hơn. Nhưng những đối tác nước ngoài này cũng đòi hỏi ở doanh nghiệp Việt Nam những  
tiêu chí chặt chẽ về năng lực chuyên môn, quản lý, kinh nghiệm v.v… Công ty TNHH Vật  
liệu xây dựng Minh Anh là một trong số những doanh nghiệp Việt Nam đã thành công  
trong việc trở thành một đối tác tin cậy của những doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực  
xây dựng và công nghiệp nội thất. Mặc dù là một doanh nghiệp mới nhưng Minh Anh  
1
cũng đã xây dựng cho mình những chiến lược phát triển đúng đắn và phù hợp với mô hình  
công ty, trong đó không thể không kể đến các hoạt động về tạo và nâng cao động lực lao  
động cho đội ngũ nhân sự. Để có thể hiểu hơn về thực tế hoạt động tạo động lực của Công  
ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh, những thành tựu cũng như hạn chế trong các hoạt  
động tạo động lực của doanh nghiệp để từ đó đi đến kết luận, rút ra các bài học cũng như  
giải pháp, khuyến nghị phù hợp, tác giả tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn  
“Tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH vật liệu xây dựng Minh Anh”.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Trong thời gian qua lĩnh vực nhân sự nói chung, tạo động cho người lao động riêng  
đã được quan tâm và được nhiều người nghiên cứu. Mỗi công trình nghiên cứu có những  
cách tiếp cận khác nhau, ở phạm vi trên quy mô cả nước cho đến những phạm vi nhỏ như  
địa bàn tỉnh hay cả ở tổ chức, tập đoàn, doanh nghiệp. Có đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và  
các luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ với chủ đề liên quan, có thể kể đến một số nghiên cứu sau:  
Nghiên cứu trên thế giới  
“Nghiên cứu việc tạo động lực cho người lao động tại những tổ chức quy mô lớn  
tại Cộng hòa Síp” xuất bản năm 2012 tại Đại học châu Âu Síp, của tác giả Lycourgos  
Hadjiphanis đã nghiên cứu những tổ chức có quy mô lớn của một nền kinh tế có quy mô  
nhỏ ở Châu Âu và nghiên cứu các tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn trong quy mô  
nền kinh tế không lớn. Nghiên cứu về tình hình Cộng hòa Síp tuy có sự khác biệt về địa lý  
và văn hóa nhưng tác giả đã có lý giải hết sức thú vị về điều mấu chốt là lý giải được việc  
tạo động lực lao động ảnh hưởng ra sao đến hiệu quả làm việc của người lao động trong  
những tổ chức có quy mô lớn.  
Chuyên đề nghiên cứu về “Động lực làm việc ở nhân viên và hiệu quả làm việc  
của tổ chức” của tác giả Ovidiu Iliuta tại trường Đại học Kinh tế Bucharest năm 2013, đã  
tiến hành nghiên cứu và chỉ ra trong nền kinh tế mở có nhiều đối thủ cạnh tranh và phương  
thức cạnh tranh nên việc các doanh nghiệp quan tâm tới công tác tạo động lực cho người  
lao động mang tầm quan trọng trong chiến lược dài hạn, việc tạo động lực cho người lao  
động được chứng minh là có liên quan tới quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh  
doanh của doanh nghiệp.  
2
“Tạo động lực làm việc – Phải chăng chỉ có thể bằng tiền?” của tác giả Business  
Edge xuất bản năm 2006 của Nhà xuất bản Trẻ, nêu ra vấn đề thông qua nhiều phương  
thức khác nhau để tạo động lực cho người lao động, không chỉ qua mỗi công cụ tài chính  
là tiền. Bởi xuất phát từ thực tiễn rất nhiều nhà lãnh đạo, quản lý đã phải tự đặt câu hỏi tại  
sao khi tăng lương mà nhân sự vẫn rời bỏ tổ chức, tại sao người lao động chỉ hết giờ mà  
không hết việc. Tiền có thể là công cụ tạo động lực với đối tượng này, nhưng lại không  
phải là nhân tố kích thích người khác làm việc. Nhà quản lý cần xác định mục tiêu làm  
việc của người lao động để tìm công cụ kích thích phù hợp.  
Nghiên cứu trong nước  
“Tạo động lực lao động bằng kích thích phi vật chất tại Công ty TNHH một thành  
viên thiết bị lưới điện - EEMC” của Tạ Bích Huyền, Khoa Quản trị nhân lực, Trường Đại  
học Lao Động Xã Hội. Bài viết được thực hiện nghiên cứu cơ sở lý luận về tạo động lực  
lao động bằng kích thích phi vật chất sau đó trình bày những phân tích, đánh giá về thực  
trạng tại công ty và đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện việc tạo động lực lao động bằng  
kích thích phi vật chất.  
“Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động trong các công  
ty xây dựng công trình giao thông – trường hợp nghiên cứu tại Công ty cổ phần Quản lý  
xây dựng giao thông Thái Nguyên” (2017) của tác giả Lê Ngọc Nương và cộng sự. Kết  
luận của nghiên cứu đã chỉ ra quan hệ với đồng nghiệp và thu thập là các nhóm yếu tố có  
ảnh hưởng khá nhiều đến động lực làm việc của người lao động tại công ty. Là những gợi  
ý quan trọng cho việc thực hiện luận án dựa trên cơ sở quan điểm của quản lý nhà nước về  
kinh tế.  
“Hoàn thiện công tác tạo động lực ở Công ty TNHH cửa sổ nhựa Châu Âu (Euro  
Window)” của tác giả Đỗ Thị Thu, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Đã đưa ra cơ sở lý  
luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp một cách khá đầy đủ. Tuy nhiên đề tài  
chưa đi sâu phân tích các chính sách đang thực hiện tại Công ty, chưa làm rõ ảnh hưởng  
của các chính sách, chế độ đó đến công tác tạo động lực lao động tại Công ty. Các giải  
pháp để tạo động lực lao động mà tác giả đề xuất chủ yếu còn mang tính khái quát.  
3
Kết quả của những nghiên cứu trên đây đóng vai trò là nội dung đối chiếu với thực  
tế tình hình tạo động lực tại doanh nghiệp mà đề tài đang nghiên cứu cũng như đóng vai  
trò làm nội dung định hướng cho những giải pháp và khuyến nghị trong công tác tạo động  
lực cho người lao động tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
Tìm hiểu công tác quản trị nhân lực về tạo động lực cho người lao động tại Công ty  
TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực hiện công tác tạo  
động lực cho người lao động tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh, luận văn đề  
xuất một số giải pháp thực tiễn nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động  
tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về động lực lao động và tạo động lực lao động;  
phân tích thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH Vật liệu  
xây dựng Minh Anh; tìm ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân hạn chế.  
Thu thập và phân tích các tài liệu, số liệu thứ cấp, sơ cấp liên quan tới công tác tạo  
động lực cho người lao động trong doanh nghiệp, các tài liệu thông tin nội bộ về Công ty  
TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh.  
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để phân tích và xử lý dữ liệu, số liệu phục vụ  
cho công tác phân tích, đánh giá thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại  
Công ty từ đó đưa ra giải pháp tạo động lực cho người lao động phù hợp.  
Đưa ra một số giải pháp nhằm tạo động lực lao động hơn nữa cho nhân sự tại Công  
ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu:  
Tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh.  
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Về nội dung: Nghiên cứu công tác tạo động lực cho người lao động, đó là các hoạt  
động tạo động lực cả về vật chất và tinh thần cho người lao động tại Công ty TNHH Vật  
liệu xây dựng Minh Anh.  
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề tạo động lực lao động bằng kích  
thích vật chất và phi vật chất tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh.  
Về thời gian: Do thời gian có hạn luận văn sử dụng dữ liệu thứ cấp từ phòng hành  
chính nhân sự, phòng tài chính kế toán để phân tích dự liệu và được phân tích thực trạng  
của công ty trong khoảng từ năm 2013 đến năm 2017, giải pháp trong luận văn có ý nghĩa  
đến năm 2020.  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp thu thập số liệu  
Thông tin thứ cấp: Số liệu được thu thập từ các tài liệu, báo cáo của bộ phận  
Nhân sự và các phòng ban chức năng khác như phòng hành chính nhân sự, phòng  
tài chính kế toán để phân tích thực trạng nguồn nhân lực và các chính sách quản trị  
nhân lực đối với nhân viên của Công ty.  
Thông tin sơ cấp: Sử dụng bảng hỏi để đánh giá mức độ hài lòng của người  
lao động đối với các biện pháp tạo động lực về mặt tài chính (lương, thưởng, phụ  
cấp), các biện pháp tạo động lực về mặt tinh thần (phân công, đánh giá công việc,  
các chương trình đào tạo, văn hóa doanh nghiệp, chế độ thăng tiến, vv…).  
Đối tượng điều tra: Nhân viên tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh.  
Nội dung bảng hỏi: Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc, mức độ  
hài lòng với công việc của nhân viên. Các câu hỏi theo hình thức trắc nghiệm, có 03  
sự lựa chọn là “Rất hài lòng”, “Hài lòng”, “Không hài lòng”. Ý kiến khác và đề xuất  
của người lao động đối với tình hình tạo động lực của Công ty, với hình thức viết tự  
luận.  
Cơ cấu bảng hỏi: Thông tin các đối tượng thực hiện trả lời bảng hỏi (Họ tên,  
độ tuổi, giới tính phòng ban, chức danh, v.v…). Kết cấu của mẫu điều tra được trình  
bày ở Phụ lục kèm theo.  
5
Địa điểm khảo sát: Tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh.  
Thực hiện: Khảo sát được tiến hành trong ngày. Số lượng phiếu được trực  
tiếp phát ra với 30 phiếu, thu về 30 phiếu hợp lệ.  
* Phương pháp tổ chức khảo sát:  
Thu thập danh sách người lao động tiến hành khảo sát và kế hoạch khảo  
sát tại các phòng ban khác nhau thuộc Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh  
Anh, đồng thời đã được Ban lãnh đạo Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh  
Anh thông qua.  
Toàn bộ người lao động được khảo sát tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng  
Minh Anh được thông báo trước 01 ngày về thời gian tiến hành khảo sát.  
Phiếu khảo sát (bảng hỏi) được in ra 30 bản và phát trực tiếp tới từng người  
lao động được khảo sát.  
Người lao động sẽ tiến hành làm khảo sát trong vòng 45 phút và trả lại phiếu  
khảo sát trực tiếp cho điều tra viên (nội dung khảo sát của người lao động được bảo  
mật và chỉ được truy cập bởi điều tra viên).  
* Phương pháp thống kê và thống kê phân tích  
Phương pháp này được sử dụng để phân tích số liệu sau khi thu thập số liệu  
qua tài liệu cụ thể tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh và xử lý số liệu  
đã được thu thập.  
Phương pháp phân tích tổng hợp dựa vào số liệu thống kê được tổng hợp, phân  
tích để thấy được nhu cầu, mức độ hài lòng của người lao động đối với công việc.  
* Phương pháp quan sát:  
Quan sát tình hình thực tế về tạo động lực cho người lao động tại Công ty  
TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh.  
* Phương pháp xử lý số liệu:  
Các phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, dự báo, v.v… để  
tiến hành xử lý, đánh giá các dữ liệu, các thông tin thu thập được, qua đó đưa ra các  
nhận định, đề xuất các giải pháp.  
* Phương pháp so sánh:  
6
Qua kết quả thống kê tổng hợp so sánh kết quả đạt được giữa các năm và đưa  
ra kết luận cho các đánh giá về tạo động lực cho người lao động trong Công ty.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn  
6.1. Ý nghĩa lý luận  
- Hệ thống hóa các lý thuyết có liên quan đến tạo động lực cho người lao động.  
- Phản ánh thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH  
Vật liệu xây dựng Minh Anh, những ưu và nhược điểm.  
- Vận dụng lý luận vào thực tế, đề tài nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể  
nhằm đẩy mạnh tạo động lực cho người lao động áp dụng riêng cho Công ty TNHH vật  
liệu xây dựng Minh Anh. Thông qua đó giúp củng cố đội ngũ nhân sự, tạo thế mạnh trong  
công cuộc đổi mới và phát triển của Công ty. Mặt khác, đề tài cũng góp phần khẳng định  
lại vai trò của tạo động lực cho người lao động nói chung, cũng có thể áp dụng một phần  
trong công tác tạo động lực cho người lao động trong các công ty TNHH nói riêng cũng  
như các doanh nghiệp của Việt Nam.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Phân tích, đánh giá thực trạng tạo động lực cho người lao động, làm rõ những ưu  
điểm, hạn chế, tìm ra nguyên nhân của hạn chế, đề xuất các giải pháp về công tác tạo động  
lực cho người lao động tại Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh. Kết quả nghiên  
cứu luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý trong Công ty về việc xây dựng  
các chính sách tạo động lực cho người lao động.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung đề  
tài được kết cấu thành 3 chương.  
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tạo động lực cho người lao động trong doanh  
nghiệp  
Chương 2: Thực trạng về tạo động lực cho người lao động tại Công ty TNHH Vật  
liệu xây dựng Minh Anh  
Chương 3: Phương pháp và giải pháp về hoạt động tạo động lực cho người lao  
động của Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Minh Anh  
7
 
Chương 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC  
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP  
1.1. Khái quát về động lực và tạo động lực lao động  
1.1.1. Động lực lao động  
Một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với sự thành bại trong  
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp giai đoạn hiện nay chính là nguồn nhân  
lực. Thái độ của người lao động đối với công việc sẽ phần lớn quyết định năng suất  
lao động và từ đó là hiệu quả hoạt động của tổ chức. Do vậy việc tạo động lực lao  
động luôn là nội dung thường trực và hàng đầu trong chiến lược quản trị nhân sự tại  
các doanh nghiệp.  
Đã có rất nhiều quan điểm cũng như khái niệm hình thành về động lực lao  
động cả trong nước lẫn nước ngoài, tiêu biểu:  
Theo Gareth R. Jones và Jennifer M. George trong cuốn “Contemporary  
Management” phát hành năm 2008, động lực lao động được hiểu là “những tác  
động về tâm lý giúp xác định xu hướng hành vi của người lao động trong tổ chức  
cũng như mức độ nỗ lực và trung thành của người lao động đối với tổ chức”.  
Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn  
Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động  
để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. [6, tr. 134]  
Còn theo quan điểm của PGS. TS Bùi Anh Tuấn trong “Giáo trình hành vi  
tổ chức, động lực lao động lại được định nghĩa là những nhân tố bên trong con  
người, kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng  
suất và hiệu quả cao, được biểu hiện bằng sự nỗ lực, sự sẵn sàng và say mê đối với  
công việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân”. [13, tr. 89]  
Căn cứ theo hai quan điểm nêu trên, có thể nhận thấy các nhà nghiên cứu nước  
ngoài đã đi vào chi tiết về nguồn gốc động lực là những tác động về mặt tâm lý, trong  
khi đối với nghiên cứu của PGS. TS Bùi Anh Tuấn, động lực lại là những nhân tố  
8
     
(chưa xác định) bên trong con người. Tuy nhiên quan điểm của của PGS. TS Bùi Anh  
Tuấn lại nêu ra cụ thể mục đích của động lực là để đạt được mục tiêu của tổ chức chủ  
quản lao động cũng như bản thân người lao động. Dựa trên hai quan điểm tiêu biểu  
này, khái niệm “động lực lao động” có thể được tổng hợp là “những yếu tố về mặt tâm  
lý của người lao động, kích thích họ làm việc tích cực, nỗ lực và trung thành với tổ  
chức để nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.  
1.1.2. Tạo động lực cho người lao động  
Động lực lao động là yếu tố về mặt tâm lý bên trong người lao động, tuy  
nhiên lại được tạo ra bởi các tác động bên ngoài (thuộc về bên trong và bên ngoài tổ  
chức chủ quản người lao động) và chỉ hình thành trong quá trình lao động. Do vậy,  
để có thể nghiên cứu và tìm ra phương pháp cũng như chiến lược tạo động lực lao  
động hiệu quả, nghiên cứu các tác động bên ngoài người lao động là điều tiên quyết.  
Đối với quan điểm về tạo động lực lao động, theo “Giáo trình tâm lý học lao  
động” của Thạc sĩ Lương Văn Úc “ tạo động lực lao động được định nghĩa là tổng  
hợp các biện pháp, phương pháp và cách ứng xử của tổ chức (được xây dựng và  
thực hiện một cách có hệ thống nhưng cũng linh động) bởi các nhà quản lý nhằm  
tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được  
các mục tiêu của tổ chức”. [14, tr. 145]  
1.1.3. Các học thuyết về động lực lao động  
1.1.3.1. Học thuyết nhu cầu của Maslow (Abraham Maslow)  
Abraham Maslow (1908 – 1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ, ông được  
biết đến là người đầu tiên đưa ra phát hiện con người là động vật có nhu cầu. Theo  
quan điểm của Maslow, con người luôn mong muốn được thỏa mãn nhiều nhu cầu  
khác nhau trong cuộc sống, và những nhu cầu đó được chia thành 05 loại cụ thể với  
thứ tự đáp ứng như sau:  
Nhu cầu sinh lý (vật chất): Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản  
thân cuộc sống con người như ăn, mặc, ở, nước uống.  
Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự  
đe dọa mất việc làm, mất tài sản.  
9
Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Là những nhu cầu được quan hệ với  
những người khác để trao và nhận tình cảm, sự quý mến, sự chăm sóc hay sự hợp tác.  
Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận  
và tôn trọng và nhu cầu tự tôn trọng mình.  
Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được  
biến các khả năng, tiềm năng của mình thành hiện thực, hoặc là nhu cầu đạt các  
thành tích mới, nhu cầu sáng tạo.  
Hình 1.1: Hệ thống nhu cầu Maslow  
Theo Maslow, những nhu cầu ở bậc cao hơn sẽ chưa thể được hình thành khi  
những nhu cầu ở bậc thấp hơn chưa được thỏa mãn.  
1.1.3.2. Học thuyết về sự kỳ vọng (Victor H.Vroom)  
Công thức của Victor H. Vroom:  
Hấp lực x Mong đợi x Phương tiện = Sự động viên  
Trong đó:  
Hấp lực (phần thưởng): sức hấp dẫn cho một mục tiêu nào đó.  
Mong đợi (thực hiện công việc): niềm tin của nhân viên rằng nếu nỗ lực làm  
việc thì nhiệm vụ sẽ được hoàn thành.  
Phương tiện (niềm tin): niềm tin của nhân viên rằng họ sẽ nhận được đền đáp  
khi hoàn thành nhiệm vụ.  
Theo Victor Vroom, con người luôn khao khát và nỗ lực một cách cụ thể để  
đạt được những thành quả nhất định và những thành quả đó phải đem đến những  
phần thưởng hoặc sự đền đáp tương xứng. Học thuyết của ông chú trọng vào mối  
10  
 
quan hệ giữa nỗ lực - thành tích - kết quả và từ đó gợi ý cho người lao động có  
những định hướng đúng đắn trong công việc, đồng thời cũng giúp các nhà quản trị  
nhân sự xây dựng được các cơ chế phần thưởng tương xứng với những thành tích  
mà người lao động đạt được.  
Học thuyết của Vroom dựa theo tính logic là khi con người mong muốn hay  
khát khao một điều gì, họ sẽ gia tốc nội tâm và hành động để đạt được điều đó.  
Chẳng hạn, một người muốn được thăng tiến và thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa  
thành tích xuất sắc với việc được thăng tiến, khi chăm chỉ có thể đạt kết quả cao thì  
sẽ thúc đẩy họ chăm chỉ làm việc nhằm đạt được mong muốn của bản thân.  
1.1.3.3. Học thuyết về hệ thống hai yếu tố (Frederick Herzberg)  
Theo Frederick Herzberg đưa ra lý thuyết 2 yếu tố về sự thỏa mãn công việc  
và tạo động lực. Frederick Herzberg chia ra các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn hay  
không thỏa mãn trong công việc thành 2 nhóm sau:  
Nhóm yếu tố thúc đẩy: Là các yếu tố then chốt và thuộc về bên trong công  
việc. Chính là các nhân tố tạo nên sự thỏa mãn, sự thành đạt, sự thừa nhận thành  
tích, bản chất bên trong của công việc, trách nhiệm và chức năng lao động, sự thăng  
tiến. Đây là những nhu cầu cơ bản của người lao động khi tham gia làm việc.  
Nhóm yếu tố duy trì: Là các yếu tố thuộc về môi trường tổ chức như các  
chính sách và chế độ quản trị của Công ty, sự giám sát công việc, điều kiện làm việc,  
tiền lương, những mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, địa vị, công việc ổn định.  
Theo Herzberg, có hai nhóm nhân tố ảnh hưởng tới động lực của con người,  
về cơ bản thì chúng độc lập với nhau và tác động tới hành vi theo những cách khác  
nhau. Ông thấy rằng khi con người cảm thấy không hài lòng với công việc của  
mình, thường có thể là do cơ chế, chính sách của tổ chức họ làm việc không thỏa  
đáng; do việc giám sát công việc quá chặt chẽ và không phù hợp; do các điều kiện  
làm việc chưa được tốt; lương bổng chưa xứng đáng và đảm bảo tính công bằng;  
các mối quan hệ công việc có nhiều bất ổn. Ngược lại, họ sẽ cảm thấy hài lòng với  
công việc khi đạt được những kết quả mong muốn; được thừa nhận; có được những  
tiến bộ và thăng tiến nhất định hay những sự tăng trưởng như kỳ vọng.  
11  
1.2. Nội dung, các nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá hiệu quả tạo  
động lực cho người lao động  
1.2.1. Nội dung tạo động lực cho người lao động  
Muốn xây dựng được doanh nghiệp, tổ chức của mình phát triển bền vững  
thì các nhà quản lý phải đưa ra được các biện pháp, giải pháp nhằm kích thích được  
người lao động hăng say lao động, tận tâm với công việc, phát huy được khả năng  
sáng tạo cũng như trách nhiệm đối với công việc. Đó chính là vấn đề tạo động lực  
cho người lao động trong doanh nghiệp.  
1.2.1.1. Xác định nhu cầu của người lao động  
Mỗi người khi tham gia vào một tổ chức, doanh nghiệp đều có những nhu  
cầu khác nhau về mặt vật chất và tinh thần. Có người cống hiến và nhiệt huyết với  
công việc của mình vì công việc đó được trả lương cao, có những chế độ đãi ngộ về  
mặt tài chính hợp lý, cạnh tranh; có người mong muốn nhận được sự công nhận,  
đánh giá cao về những đóng góp của mình nhưng cũng có những người lại muốn  
học hỏi, tích lũy nhiều kinh nghiệm và kỹ năng hơn nữa, v.v… Do vậy việc tạo  
động lực cho nhân sự trong các tổ chức đòi hỏi các nhà quản lý nói chung và quản  
trị nhân sự nói riêng cần có sự đầu tư nghiên cứu chi tiết và sâu sắc.  
Trong tất cả các yếu tố quyết định sự thành công của một tổ chức, yếu tố con  
người luôn luôn giữ vai trò quan trọng nhất. Cùng với đó, việc tạo động lực và thôi  
thúc những con người trong tổ chức phát huy những khả năng và phẩm chất tốt nhất  
để đóng góp vào công việc với hiệu quả cao nhất là điều không hề dễ dàng. Đây có  
thể coi là một vấn đề phức tạp và trừu tượng vì nó liên quan đến tâm lý học; về bản  
chất, con người luôn có những mặt tâm lý khác nhau, do đó để có thể thống nhất các  
cá nhân trong một tập thể, để có thể thực hiện thành công mục tiêu chung của cả tổ  
chức thì phải có những phương pháp và cách thức thật khéo léo, tác động vào  
những nhu cầu và mục đích của người lao động. Có thể nói rằng, người lao động  
làm việc là để thoả mãn những lợi ích và nhu cầu mà mình đặt ra cho bản thân và  
gia đình, vì thế doanh nghiệp nào biết cách tác động vào những yếu tố đó thì đã  
12  
 
thành công trong việc kích thích họ làm việc và cống hiến cho tổ chức, đây là mục  
đích vô cùng quan trọng đối với tất cả các tổ chức hiện nay.  
1.2.1.2. Các biện pháp kích thích bằng vật chất  
Chế độ lương công bằng và hợp lý  
Tiền lương là một nội dung quan trọng trong chính sách nhân sự của tất cả các  
tổ chức, doanh nghiệp, đây là yếu tố quyết định phần lớn năng lực và hiệu quả quản  
lý của doanh nghiệp cũng như khả năng khai thác tiềm năng của người lao động. Tiền  
lương, thưởng thiếu công bằng, hợp lý, chưa phản ánh và gắn với trách nhiệm, chất  
lượng công việc. Chính sách lương luôn cần có tính hệ thống, bài bản để thực sự trở  
thành đòn bẩy về mặt tài chính kích thích năng suất và hiệu quả làm việc. Một doanh  
nghiệp với chính sách lương hợp lý và cạnh tranh sẽ thu hút và lưu giữ được những  
nhân viên giỏi, xây dựng được đội ngũ làm việc trung thành và cống hiến cho doanh  
nghiệp với hiệu quả cao nhất. Tiền lương phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:  
+ Tiền lương phải đảm bảo đời sống người lao động và gia đình họ ít nhất ở  
mức trung bình so với xã hội, không chỉ đáp ứng các nhu cầu cơ bản của họ mà còn  
phải giúp họ có được sự tích luỹ.  
+ Tiền lương phải dựa trên cơ sở đồng thuận giữa người có sức lao động và  
người sử dụng sức lao động.  
+ Tiền lương phải thoả đáng so với sự cống hiến của người lao động và phải  
công bằng. Một chính sách lương công bằng thể hiện ở sự tương quan về mức lương  
giữa những người lao động trong cùng một tổ chức cũng như tại các đơn vị khác  
cùng ngành.  
+ Tiền lương phải đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu: Một chế độ tiền  
lương đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu sẽ có tác động trực tiếp và tích cực tới thái độ và hành  
vi của người lao động; đồng thời cũng giúp tăng hiệu quả của hoạt động quản lý.  
Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương: Trả lương ngang nhau cho  
lao động với vị trí, trình độ, năng lực và mức độ cống hiến ngang nhau là như nhau.  
Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân.  
Sử dụng các loại phụ cấp lương. Khi người lao động phải làm việc trong điều  
kiện không thuận lợi hoặc không ổn định mà khi trong lương cơ bản chưa được tính  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 99 trang yennguyen 16420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tạo động lực cho người lao động tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn vật liệu xây dựng Minh Anh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tao_dong_luc_cho_nguoi_lao_dong_tai_cong_ty_trach_n.pdf