Luận văn Phân tích hiệu năng hệ thống phân phối khóa lượng tử dựa trên vệ tinh sử dụng kỹ thuật chuyển tiếp

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG  
-------***-------  
NGUYỄN THỊ THUỲ TRANG  
PHÂN TÍCH HIỆU NĂNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI  
KHÓA LƯỢNG TỬ DỰA TRÊN VỆ TINH SỬ DỤNG  
KỸ THUẬT CHUYỂN TIẾP  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT  
( Theo định hướng ứng dụng)  
Hà Nội - 2021  
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG  
-------***-------  
NGUYỄN THỊ THUỲ TRANG  
PHÂN TÍCH HIỆU NĂNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI  
KHÓA LƯỢNG TỬ DỰA TRÊN VỆ TINH SỬ DỤNG  
KỸ THUẬT CHUYỂN TIẾP  
Chuyên ngành: Kỹ thuật viễn thông  
Mã số: 8.52.02.08  
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT  
( Theo định hướng ứng dụng)  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
PGS.TS.ĐẶNG THẾ NGỌC  
Hà Nội - 2021  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.  
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai  
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.  
Người viết luận văn  
Nguyễn Thị Thuỳ Trang  
LỜI CẢM ƠN  
Luận văn này đã khép lại quá trình học tập, nghiên cứu của học viên tại Học  
viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Học viên xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới  
Thầy hướng dẫn, PGS.TS.Đặng Thế Ngọc đã định hướng nghiên cứu và tận tình  
giúp đỡ, trực tiếp chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Đồng thời học  
viên cũng xin bày tỏ lòng biết ơn Lãnh đạo Học viện, các thầy cô của Khoa Đào tạo  
sau đại học, Khoa Viễn thông 1 tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.  
Trân trọng!  
Hà Nội, tháng 11 năm 2020  
Học viên  
Nguyễn Thị Thùy Trang  
 
MỤC LỤC  
 
v
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
 
vii  
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT  
Thuật ngữ  
AES  
Thuật ngữ Tiếng Anh  
Thuật ngữ Tiếng Việt  
Tiêu chuẩn mã hoá nâng cao  
Điốt thu quang thác  
Advanced Encryption Standard  
Avalanche Photodiode  
Amplified Spontaneous  
Emission  
APD  
ASE  
Bộ phát xạ khuếch đại  
AWGN  
BPSK  
CV  
Additive White Gaussian Noise  
Binary Phase Shift Keying  
Continuous Variable  
Direct Detection  
Nhiễu Gauss trắng cộng  
Điều chế pha nhị phân  
Biến liên tục  
DD  
Tách sóng trực tiếp  
Mức độ tự do  
DoF  
DPS  
DT  
Degrees of Freedom  
Differential-Phase-Shift  
Double Threshold  
Khóa dịch pha nhị phân  
Hai ngưỡng  
DV  
Discrete Variable  
Biến rời rạc  
FPGA  
Field Programmable Gate Arrays Vi mạch dùng cấu trúc mảng  
phần tử logic có thể lập trình  
FSL  
FSO  
GG  
Free-space Loss  
Suy hao không gian tự do  
Truyền quang không gian tự do  
Phân phối Gamma-Gamma  
Hạ tầng trên cao  
Free Space Optical  
Gamma-Gamma  
HAP  
IM  
High Altitude Platform  
Intensity Modulation  
Light Emitting Diode  
Low Earth Orbit  
Điều chế cường độ  
LED  
LEO  
LOS  
MG  
Điot phát sáng  
Quỹ đạo trái đất tầm thấp  
Đường truyền thẳng  
Light Of Sight  
Mixture-Gamma  
Phân phối hỗn hợp Gamma  
Công suất tạp âm tương đương  
Điều chế khóa đóng-mở  
Bộ định hướng, bắt và bám  
Tỷ lệ lỗi bit lượng tử  
NEP  
OOK  
PAT  
QBER  
Noise Equivalent Power  
On-Off Keying  
Pointing Acquisition Tracking  
Quantum Bit Error rate  
 
viii  
QICT  
Quantum Communication and  
Information Technologies  
Quantum Key Distrubution  
Quantum Not Destruction  
Quantum Status Transmission  
Radio Frequency  
Thông tin lượng tử và công nghệ  
truyền thông  
QKD  
QND  
QST  
RF  
Phân phối khoá lượng tử  
Không phá huỷ lượng tử  
Trạng thái lượng tử  
Tần số vô tuyến  
RSA  
SIM  
Rivest–Shamir–Adleman  
Mã hoá RSA  
Subcarrier Intensity Modulation Điều chế cường độ sóng mang  
phụ  
SW  
Switch  
Chuyển mạch  
TRNG  
UAV  
URA  
True Random number generator Bộ tạo số ngẫu nhiên thực  
Unmanned aerial vehicle  
Phương tiện không người lái  
Tấn công máy thu trái phép  
Unauthorized receiver attack  
1
LỜI MỞ ĐẦU  
Việc bảo mật thông tin ngày càng được quan tâm, đặc biệt là những thông tin  
được truyền qua cơ sở hạ tầng mạng Internet không được bảo mật. Phương pháp  
bảo mật phổ biến nhất là sử dụng khóa mật mã dựa trên các thuật toán mật mã.  
Trong phương pháp này, bên gửi hợp pháp (Alice) và bên nhận hợp pháp (Bob)  
phải chia sẻ khóa bí mật qua kênh công khai không an toàn [1]. Tuy nhiên, vấn đề  
nằm trong việc phân phối khóa nghĩa là làm sao hai bên gửi và nhận phải thông báo  
một cách bảo mật cho nhau về khóa bí mật được sử dụng để mã hóa thông tin. Để  
giải quyết được vấn đề này, rất nhiều giao thức phân phối khóa đã được đề xuất.  
Một trong những giao thức phân phối khóa nhận được nhiều sự quan tâm hiện nay  
là giao thức phân phối khóa lượng tử (QKD), trong đó hai bên gửi và nhận có thể  
trao đổi khóa bí mật qua kênh lượng tử, thậm chí cả khi có mặt của bên nghe trộm  
thứ ba (Eve) [2],[3].  
Phân phối khóa lượng tử (QKD) là một phương thức truyền thông an toàn  
thực hiện một giao thức mật mã liên quan đến các thành phần của cơ học lượng tử.  
QKD cho phép người gửi và người nhận tạo ra một khóa bí mật ngẫu nhiên được  
chia sẻ mà chỉ họ biết, sau đó có thể được sử dụng để mã hóa và giải mã các thông  
điệp. Các giao thức phân phối khoá này dựa trên việc mã hoá thông tin lên các biến  
rời rạc (DV) như pha hay sự phân cực của photon. Nhược điểm của các giao thức  
này là tốc độ và hiệu quả của việc tách sóng từng photon tại phía thu bị hạn chế.  
Khác với các hệ thống DV, trong luận văn, mô hình QKD mã hoá thông tin khoá  
trên các biến liên tục như biên độ hay pha của xung ánh sáng cũng như cường độ  
sóng mang quang được điều chế.  
Để phân phối khóa bí mật sử dụng giao thức DV/CV-QKD giữa Alice và  
Bob, các môi trường truyền dẫn khác nhau gồm mạng truyền thông sợi quang,  
truyền thông quang qua không gian (FSO) dưới mặt đất [4],[5] và FSO dựa trên vệ  
tinh đã được nghiên cứu một cách rộng rãi [6],[7]. Trong đó, phương pháp phân  
phối khóa lượng tử dựa trên sợi quang đã được nghiên cứu và rất nhiều ứng dụng đã  
 
2
được triển khai, nhưng đây chỉ là phương pháp sử dụng cho các đầu cuối cố định.  
Tuy nhiên, có rất nhiều ứng dụng thực tế, bao gồm cả trong đời sống hàng ngày hay  
trong quân đội, mà trong đó đầu cuối sử dụng là các thiết bị di động, ví dụ như các  
mạng xe cộ, đòi hỏi các giải pháp QKD vô tuyến. Trong bối cảnh đó, FSO, một hệ  
thống dễ thực thi và có chi phí hợp lý, có thể được sử dụng để truyền khóa lượng tử  
tới các trạm di động [8]. Cũng như các hệ thống FSO khác, hệ thống QKD dựa trên  
FSO chịu rất nhiều ảnh hưởng của môi trường khí quyển như hấp thụ, tán xạ,... làm  
hạn chế khoảng cách truyền dẫn [9]. Nhận thấy tính thiết thực của đề tài, học viên  
xin chọn hướng nghiên cứu “Phân tích hiệu năng hệ thống phân phối khóa lượng tử  
dựa trên vệ tinh sử dụng kỹ thuật chuyển tiếp” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp  
thạc sỹ của mình. Mục tiêu chính mà luận văn hướng tới là phân tích hiệu năng qua  
các tham số hiệu năng của mô hình QKD/FSO dựa trên vệ tinh khi sử dụng kỹ thuật  
chuyển tiếp tại hạ tầng trên cao (HAP). Tham số hiệu năng mà luận văn hướng tới  
là tốc độ khoá bí mật. Bố cục luận văn gồm 3 chương chính:  
Chương 1: Tổng quan về phân phối khoá lượng tử  
Chương 2: Mô hình kênh quang không gian tự do  
Chương 3: Phân tích hiệu năng hệ thống QKD dựa trên vệ tinh sử dụng  
kỹ thuật chuyển tiếp  
Trong phần Kết luận, luận văn tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính của  
luận văn cùng với những bàn luận xung quanh đóng góp mới cả về ưu điểm và hạn  
chế từ đó đưa ra những gợi mở cần tiếp tục nghiên cứu.  
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN PHỐI KHOÁ  
LƯỢNG TỬ  
Tóm tắt: Phân phối khóa lượng tử (QKD), một tên gọi khác của mật mã lượng  
tử, là ứng dụng tiên tiến nhất của công nghệ truyền thông và thông tin lượng tử  
(QICT). Giao thức QKD đầu tiên được đề xuất vào năm 1984, và kể từ đó, nhiều  
giao thức hơn đã được đề xuất. QKD sử dụng cơ học lượng tử để cho phép trao đổi  
an toàn các khóa mật mã. Để có độ tin cậy cao về tính bảo mật của các giao thức  
QKD, các giao thức đó phải được chứng minh là an toàn trước mọi cuộc tấn công.  
Trong chương này của luận văn sẽ thảo luận và trình bày các chứng cứ bảo mật  
của các giao thức QKD. Phân tích khả năng bảo mật của các giao thức QKD dựa  
trên các khái niệm vật lý cơ bản về lượng tử ứng dụng trong các giao thức phân  
phối khóa lượng tử khác nhau. Chương 1 luận văn cung cấp ngắn gọn nền tảng của  
QKD và cũng xác định các khái niệm cơ bản về bảo mật trong các giao thức QKD.  
1.1 Vai trò của phân phối khoá lượng tử  
Hiện nay có rất nhiều thuật toán mã hoá hiện đại như chuẩn mã hóa tiên tiến  
(AES) rất khó bị phá vỡ nếu như không có khóa, nhưng hệ thống này có một nhược  
điểm là khóa phải được biết từ cả hai phía. Như vậy mọi thuật toán mã hoá, bài toán  
truyền thông kín quy về bài toán làm sao phân phối những khóa này một cách an  
toàn – bản tin được mã hoá có thể được an toàn gửi đi theo một kênh công khai.  
Giải pháp cho bài toán này là sử dụng một đối tượng mang an toàn để vận chuyển  
khóa từ nơi gửi đến nơi nhận như mô tả hình 1.1.  
Hình 1.1: Mô hình phân phối khoá  
     
4
Giả sử, Alice muốn gửi cho Bob một tin nhắn bí mật, như một bản giao dịch  
ngân hàng, thông tin chính trị….trên một kênh truyền thông có thể không an toàn.  
Để làm việc này, Alice và Bob phải chia sẻ một khóa bí mật – đó là một số nhị phân  
dài. Sau đó Alice có thể mã hóa tin nhắn của mình thành “mật mã” bằng một khóa  
chung với thuật toán mã hóa, ví dụ như AES. Mật mã sau đó có thể được truyền đi  
bằng một kênh dữ liệu bình thường, khi đó bên tấn công sẽ không thể hiểu được và  
Bob có thể sử dụng khóa đó để giải mã tin nhắn. Trái với phương pháp truyền thống  
của sự phân phối khóa, mật mã lượng tử đảm bảo sự an toàn của khóa đó. Khóa  
cũng có thể thường xuyên thay đổi, do đó làm giảm nguy cơ bị đánh cắp hoặc bị suy  
ra bởi một phép phân tích thống kê giải mã của mật mã.  
Bất cứ phương pháp phân phối nào dựa trên con người cũng làm tổn hại các  
khóa do tự ý hoặc bị ép buộc tiết lộ. Trái lại, mật mã lượng tử hay sự phân phối  
khóa lượng tử chính xác hơn, mang lại một phương pháp tự động phân phối các  
khóa bí mật bằng sợi quang hoặc không gian tự do. Đặc trưng của phân phối khóa  
lượng tử là vốn dĩ an toàn: Giả sử rằng các định luật của thuyết lượng tử là đúng, thì  
chúng ta có thể chứng minh khóa đó không thể bị bên tấn công thu được mà không  
có sự phát hiện của người gửi và người nhận. Hơn nữa, phân phối khóa lượng tử  
cho phép khóa thay đổi thường xuyên, làm giảm nguy cơ mất trộm khóa hoặc “giải  
mã”, trong đó bên nghe trộm phân tích thông tin đánh cắp trong tin nhắn mã hóa để  
suy luận ra khóa bí mật.  
Các vấn đề còn tồn tại trong việc tạo và trao đổi khóa trong mã hóa khóa đối  
xứng và mã hóa không đối xứng được giải quyết bằng khái niệm phân phối khóa  
lượng tử (QKD).  
1.2 Nguyên lý hoạt động giao thức phân phối khoá lượng tử  
Phân phối khóa lượng tử sử dụng các tính chất của cơ học lượng tử, dùng để  
phân phối khóa hệ mật mã đối xứng. Trước khi đến với phần mô tả về nguyên lý  
hoạt động của QKD, luận văn sẽ giới thiệu các khái niệm và nguyên tắc cơ bản  
cùng với mô tả về cơ học lượng tử được sử dụng để thực hiện phân phối khóa lượng  
 
5
tử, từ những khái niệm vật lý cơ bản về cơ học lượng tử để khái quát hoá lên  
nguyên lý hoạt động của giao thức phân phối khoá lượng tử.  
1.2.1 Các khái niệm vật lý cơ bản về cơ học lượng tử  
a. Cơ sở vật lý hình thành mật mã lượng tử  
Những tính chất vật lý đặc biệt của cơ học lượng tử đã đặt nền móng lý thuyết  
cho một lĩnh vực mới - thông tin và tính toán lượng tử. Những tính chất đặc biệt đó  
của thông tin lượng tử cũng xây dựng nên một cơ chế mật mã mới – mật mã lượng  
tử.  
Mật mã lượng tử (Quantum Cryptography – QC) với những đặc tính hoàn toàn  
khác với các cơ chế mật mã truyền thống, cho phép đảm bảo sự an toàn vô điều kiện  
cho các thông điệp gửi trên mạng. Mặc dù xây dựng các máy tính lượng tử là rất  
phức tạp và chưa khả thi trong một tương lai gần, nhưng việc gửi và nhận thông tin  
lượng tử đã được thực hiện thành công trên các hạt ánh sáng (photon). Thực chất  
vật lý lượng tử đã tham gia từ lâu vào sự phát triển của Tin học và Công nghệ thông  
tin vì tính chất của các Transistor khắc trên các vi mạch của các máy tính cá nhân  
ngày nay, phát minh từ năm 1947 bởi Bardeen, Brattain và Shockley, chỉ có thể lý  
giải bằng lý thuyết vật lý lượng tử. Tuy nhiên phải đợi đến đầu những năm 80 của  
thế kỷ XX, các nhà vật lý mới có khả năng tác động và quan sát các đối tượng  
lượng tử đơn lẻ như photon, nguyên tử, i-on,… Chính khả năng tác động và quan  
sát các hạt cơ bản này là nguồn gốc ra đời của ngành thông tin lượng tử, trong đó  
các đối tượng lượng tử nguyên tố sẽ cho phép xây dựng vật lý các bit lượng tử hay  
qubit. Những nguyên lý cơ bản của vật lý lượng tử được sử dụng trong thông tin và  
mật mã lượng tử là:  
Nguyên lý bất định của Heisenberg: Người ta không bao giờ có thể xác định  
chính xác cả vị trí lẫn vận tốc của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại  
lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác.  
Định lý không thể sao chép (no-clonning): Dựa trên nguyên lý bất định, vì  
không thể biết chắc chắn trạng thái một hệ thống lượng tử, nên không thể sao chép  
hoàn hảo một hệ thống lượng tử bất kỳ.  
 
6
Tính chất vướng víu lượng tử (entanglement): Một hệ thống lượng tử có thể  
tương liên với một hay nhiều hệ thống lượng tử khác. Mỗi phân hệ sinh ngẫu nhiên  
ra trạng thái của mình và không một phân hệ nào có trạng thái cố định.  
Từ lâu, các nhà vật lý đã biết rằng ánh sáng vừa có bản chất hạt, vừa có bản  
chất sóng. Một photon có thể xem như một điện trường thu nhỏ dao động. Hướng  
dao động của điện trường được định nghĩa là sự phân cực của photon. Một đặc tính  
của photon phân cực là khi người ta cho chúng đi qua một bộ lọc phân cực thì các  
photon, hoặc là bị bộ lọc hấp thụ, hoặc được truyền đi nhưng với sự phân cực của  
bộ lọc. Sau khi ra khỏi bộ lọc bị mất hoàn toàn thông tin về góc phân cực trước đó  
của photon, hay nói một cách khác, không thể sao lại trạng thái phân cực của một  
photon để thực hiện nhiều phép đo sự phân cực của photon với các bộ lọc phân cực  
khác nhau.  
Như vậy, khi cho một chùm photon đi qua một bộ lọc phân cực, các photon  
thu được sẽ có cùng mặt phẳng phân cực của bộ lọc. Đây chính là nguyên tắc lập  
mã cho photon. Bộ lọc phân cực cũng được dùng để xác định trạng thái phân cực  
của photon. Ví dụ nếu nguồn photon chỉ gồm những photon có các góc phân cực 0°  
và 90° thì dùng một bộ lọc 0°, người ta có thể xác định được chính xác những  
photon 0° (qua) và 90° (không qua). Thao tác này gọi là phép đo phân cực của  
photon. Một cặp bộ lọc phân cực trực giao để lập mã hoặc đo photon được gọi là  
một cơ sở (base). Người ta có thể sử dụng một cơ sở như vậy để biểu diễn các giá trị  
0 và 1 bằng các photon.  
Hai cơ sở trực giao được sử dụng để mã hóa/đo các bit 0 và 1 cho các photon  
là: thẳng (0°/90°) - ký hiệu  
và chéo (45°/135°) - ký hiệu . Trong hệ cơ sở  
thẳng, các photon có góc phân cực 0° được tương ứng với bit 1, photon có phân cực  
90° với bit 0. Tương tự trong hệ cơ sở chéo, các bit này sẽ tương ứng với các  
photon có góc phân cực lần lượt là 45° và 135°. Theo lý thuyết, dễ thấy rằng nếu  
các photon không cùng cơ sở với bộ đo, chúng ta sẽ thu được kết quả hoàn toàn  
ngẫu nhiên.  
7
Bằng những kết quả nghiên cứu mới, các nhà Vật lý đã chứng minh được rằng:  
việc sử dụng các tính chất kỳ lạ của vật lý lượng tử lại dẫn đến ứng dụng cụ thể đầu  
tiên của Thông tin lượng tử là truyền khóa mật mã hoàn toàn đảm bảo không thể tấn  
công.  
b. Quantum bit (Qubit)  
Một qubit (Quantum bit) hay bit lượng tử là một đơn vị thông tin lượng tử.  
Trong đó một qubit miêu tả một hệ cơ học lượng tử có hai trạng thái cơ bản thường  
0  
1  
tương ứng với hai trạng thái phân cực thẳng dọc và phân  
được ký hiệu  
và  
cực thẳng ngang của photon. Sự khác biệt so với bit cổ điển là trạng thái  
cũng  
0  
1  
:
có thể ở dạng chồng chất cơ lượng tử của  
0  1  
Đối với trạng thái chuẩn hóa  
kiện chuẩn hóa . Phương trình này phù hợp với hai vectơ cơ sở bất kỳ  
và  
=
+
(1.1)  
, các biên độ phức α và β bị giới hạn bởi điều  
2  
+
2 =1  
0  
1  
.
và  
c. Đo lường lượng tử  
Đo lường lượng tử là hành động dùng các thiết bị trong lượng tử để quan sát  
của không gian Hilbert hai chiều của trạng thái  
trạng thái của các photon phân cực. Trong mật mã lượng tử, đo lường là một hành  
động không thể tách rời, dựa vào trạng thái phân cực của các photon để quyết định  
xem bit cổ điển tương ứng của trạng thái là 0 hay 1.  
Một khái niệm cần quan tâm khi nghiên cứu cơ học lượng tử là cơ sở. Cơ sở  
được tạo thành từ cặp đôi trực chuẩn. Điều đó có nghĩa là nếu hai trạng thái | và  
trong cùng cơ sở * (có thể là cơ sở thẳng hoặc cơ sở chéo) luôn có tích vô  
hướng của hai vector bằng 0. Một trạng thái photon bất kỳ được đo trong cơ sở *,  
thì kết quả đo lường chỉ có thể cho là | hoặc  
.
Xét bốn trạng thái cơ bản của lượng tử là , , , , ta có tích vô hướng của  
hai vectơ trạng thái và bằng 0. Như vậy cặp , được gọi là cặp đôi trực  
8
chuẩn, cặp đôi này tạo lên cơ sở thẳng . Tương tự từ  
chuẩn tạo lên cơ sở chéo .  
,
cũng là cặp đôi trực  
Khi đo lường lượng tử, một photon phân cực được sinh ra trong cơ sở nào sẽ  
được đo lường đúng trong cơ sở đó. Photon sinh ra trong cơ sở thẳng và trạng  
thái phân cực của photon là hoặc  
trạng thái phân cực là hoặc . Cũng như vậy, photon sinh ra trong cơ sở chéo   
và trạng thái phân cực của photon là hoặc thì sau khi ta đo lường photon ta  
cũng được trạng thái phân cực là hoặc .  
thì sau khi ta đo lường photon ta cũng được  
1.2.2 Nguyên lý hoạt động của giao thức phân phối khoá lượng tử  
Phân phối khóa lượng tử sử dụng các tính chất của cơ học lượng tử nêu trên,  
dùng để phân phối khóa hệ mật mã đối xứng. Trong phân phối khóa lượng tử, sử  
dụng hai kênh truyền là kênh truyền lượng tử và kênh truyền thông thường. Kênh  
truyền lượng tử là kênh truyền sử dụng kỹ thuật lượng tử để truyền đi các qubit  
thông qua cáp quang hoặc không gian. Kênh truyền thông thường là kênh truyền  
công khai sử dụng kỹ thuật TCP/IP… Mô hình phân phối khóa lượng tử giữa Alice  
(người gửi) và Bob (người nhận), tùy theo giao thức cụ thể được chia ra làm các  
bước cụ thể, nhưng nhìn chung gồm bốn giai đoạn:  
+ Giai đoạn 1: Alice thực hiện mã hóa các bit cổ điển vào các photon phân  
cực (qubit), rồi chuyển các qubit này cho Bob. Bob thực hiện đo lường các qubit  
này, để thiết lập khóa ban đầu.  
+ Giai đoạn 2: Alice và Bob loại ra các bit mà Alice và Bob không sử dụng  
cùng cơ sở là các qubit được Alice tạo ra trong một cơ sở, nhưng Bob đo lường  
trong cơ sở khác.  
+ Giai đoạn 3: Alice và Bob đánh giá tỷ lệ lỗi. Nếu tỷ lệ lỗi lớn quá giới hạn  
lỗi họ sẽ hủy phiên truyền khóa và thực hiện lại phiên truyền khóa khác.  
+ Giai đoạn 4: Alice và Bob sử dụng kỹ thuật “làm mịn khoá” để đồng nhất  
khoá giữa Alice và Bob, hai bên thu được khoá đã làm mịn và tăng tính bảo mật làm  
giảm thông tin của Eve về khoá, họ thu được khoá cuối cùng.  
 
9
1.2.3 Các giao thức phân phối khóa lượng tử  
Các giao thức phân phối khóa khác nhau sẽ khác nhau cách trao đổi khóa trong  
thực tế. Một điểm khác biệt cơ bản để phân loại nhiều loại giao thức QKD hiện có  
là phương thức thông tin được mã hóa, QKD có thể được phân loại thành hai  
phương thức chính là biến rời rạc (discrete varable-DV) và biến liên tục (continous  
variable-CV). Để hiểu rõ hơn về CV và DV có một ví dụ như sau, nếu có một máy  
phát hiện photon đơn lẻ, sẽ có các thời điểm là phát hiện và không phát hiện, ứng  
với trường hợp có photon chạm vào và không chạm vào máy phát hiện. Xét trên  
phương diện toán học, kết quả của máy phát hiện là tập hợp của việc (chạm, không  
chạm), số lượng kết quả đo được là rời rạc, do vậy có thuật ngữ DV. Mặt khác, nếu  
một máy phát hiện homodyne có điện trường của ánh sáng tới. Các kết quả đo của  
phép đo là hình chiếu của pha và biên độ của điện trường ánh sáng liên tục lên các  
trục cầu phương. Phép chiếu này mang lại một giá trị liên tục như một kết quả đo  
lường, do đó có thuật ngữ CV.  
a. Giao thức phân phối khóa BB84  
Phương pháp đầu tiên phân phối khóa mật mã trong những trạng thái lượng tử  
được đề xuất vào năm 1984 bởi các nhà vật lý lý thuyết Charles Bennett tại IBM và  
Gilles Brassard tại trường đại học Montreal, được biết đến là giao thức BB84.  
Trong giao thức, người gửi (Alice) truyền một chuỗi đơn photon phân cực đến  
người nhận (Bob), bằng cách tiến hành phép đo lượng tử và truyền thông công khai,  
người gửi có thể thiết lập một khóa chia sẻ và kiểm tra xem bên nghe lén (Eve) có  
chặn được bit nào thuộc khóa này trên đường đi hay không.  
Giao thức BB84 không những cho phép chúng ta kiểm tra việc nghe trộm, mà  
còn đảm bảo Alice và Bob có thể thiết lập một khóa bí mật, dẫu cho Eve đã xác  
định được một số bit trong chuỗi nhị phân chia sẻ của Alice và Bob. Giao thức  
BB84 được Bennett và Brassard đề xuất năm 1984, tên của giao thức được lấy theo  
2 chữ cái đầu của tên hai tác giả và năm phát minh BB84 là giao thức phân phối  
khóa lượng tử đầu tiên được đề xuất.  
 
10  
Trong giao thức BB84, Alice mã hóa mã hóa các bit cổ điển vào các photon  
phân cực trong hai cơ sở chéo và cơ sở thẳng. Nghĩa là khi nào Alice muốn gửi cho  
Bob một qubit, Alice sẽ chọn một trong bốn trạng thái của qubit được quy ước trong  
bảng 1.1. Sau đó Alice gửi các trạng thái này cho Bob thông qua kênh truyền lượng  
tử.  
Bảng 1.1: Các cơ sở thẳng và chéo  
Basis  
0
1
Bước đầu tiên trong BB84 là truyền lượng tử. Alice tạo một bit ngẫu nhiên (0  
hoặc 1) và sau đó chọn ngẫu nhiên một trong hai cơ sở của Alice (trong trường hợp  
này là thẳng hoặc chéo) để truyền. Sau đó Alice chuẩn bị trạng thái phân cực photon  
tùy thuộc vào giá trị bit và cơ sở, như được minh họa trong bảng trên. Ví dụ, bit 0  
được mã hóa theo cơ sở thẳng  
như một trạng thái phân cực đứng, và bit 1 được  
mã hóa theo cơ sở chéo như một trạng thái phân cực chéo. Alice sau đó truyền  
một photon đơn lẻ ở trạng thái được chỉ định cho Bob, sử dụng kênh truyền lượng  
tử. Quá trình này sau đó được lặp lại từ giai đoạn bit ngẫu nhiên, Alice ghi lại trạng  
thái lượng tử, cơ sở và thời gian của mỗi photon được gửi đi.  
Theo cơ học lượng tử (đặc biệt là tính không xác định lượng tử), không có  
phép đo nào có thể phân biệt được giữa bốn trạng thái phân cực khác nhau, vì chúng  
không phải tất cả đều trực giao. Phép đo duy nhất có thể là giữa hai trạng thái trực  
giao bất kỳ (cơ sở trực chuẩn). Ví dụ, đo trong cơ sở thẳng cho kết quả ngang hoặc  
đứng. Nếu photon được tạo ra là ngang hoặc thẳng đứng (như là một trạng thái  
riêng) thì giá trị này đo được trạng thái chính xác, nhưng nếu photon được tạo là 45°  
hoặc 135° (các đường chéo) thì phép đo tuyến tính thay vào đó trả về ngang hoặc  
thẳng một cách ngẫu nhiên. Hơn nữa, sau phép đo này, photon bị phân cực ở trạng  
thái mà nó được đo (ngang hoặc thẳng), tất cả thông tin về phân cực ban đầu của  
photon sẽ bị mất đi.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 75 trang yennguyen 24001 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phân tích hiệu năng hệ thống phân phối khóa lượng tử dựa trên vệ tinh sử dụng kỹ thuật chuyển tiếp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phan_tich_hieu_nang_he_thong_phan_phoi_khoa_luong_t.pdf