Luận văn Nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
NGUYỄN HUY BẢO  
NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU ỨNG NGÀY TRONG TUẦN TRÊN THỊ  
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng  
Mã số  
: 60340201  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG  
TP.HCM - NĂM 2013  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Nghiên cứu hiệu ứng ngày trong tuần trên thị  
trường chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.  
Các thông tin dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích  
dẫn đều có ghi nguồn gốc và các kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại  
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.  
TP.HCM, tháng 12 năm 2013  
Học viên  
Danh mục bảng  
Bảng 1: Thống kê mô tả......................................................................................... 14  
Bảng 2: Thống kê tỷ suất sinh lợi bình quân của các ngày trong tuần .................. 15  
Bảng 3: Kết quả hồi quy mô hình 1 ....................................................................... 17  
Bảng 4: Kết quả hồi quy mô hình 2 ....................................................................... 19  
Danh mục hình  
Hình 1: VN-Index trong giai đoạn nghiên cứu ...................................................... 13  
Hình 2: Biểu đồ tỷ suất sinh lợi theo ngày, giai đoạn 04/03/2002 – 01/03/2013 .. 15  
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
Danh mục bảng  
Danh mục hình  
Tóm tắt………………………………………………………………………….....1  
1. GIỚI THIỆU.................................................................................................... 2  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ...................................................................................... 4  
2.1. Lý thuyết thị trường hiệu quả.........................................................................4  
Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên................................................................................6  
2.2. Tổng quan các nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong tuần ...............................8  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................................................12  
4. KẾT QUẢ........................................................................................................14  
5. KẾT LUẬN .....................................................................................................21  
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................22  
Phụ lục…………………………………………………………………………………..25  
TÓM TẮT  
Bài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu xem hiệu ứng ngày trong tuần có tồn tại  
trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không. Phân tích định lượng của  
nghiên cứu dựa trên dữ liệu là chỉ số VN-Index trong giai đoạn từ ngày 04 tháng  
03 năm 2002 tới ngày 01 tháng 03 năm 2013. Mô hình hồi quy với biến giả được  
sử dụng trong bài nghiên cứu này. Kết quả từ phân tích thực nghiệm cho thấy có  
hiệu ứng ngày trong tuần tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Cụ thể:  
giá của các cổ phiếu vào ngày thứ ba thì thường giảm và ngày thứ sáu thì thường  
tăng.  
1
1. GIỚI THIỆU  
Lý thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi Giáo sư Eugene Fama tại  
University of Chicago Booth School of Business trong luận văn tiến sỹ của mình  
vào đầu những năm 1960s. Lý thuyết này được chấp nhận rộng rãi cho đến những  
năm 1990s thì bị đặt câu hỏi bởi hàng loạt các bất thường xuất hiện trên thị trường.  
Các bất thường (anomalies) là các kết quả thực nghiệm, mà cho đến khi chưa  
được giải thích đầy đủ thì có vẻ như chúng đi ngược lại với tính hiệu quả của thị  
trường. Chẳng hạn sự sụt giảm mạnh mẽ của giá cả chứng khoán trong những thời  
điểm nào đó (như đã xảy ra ở thị trường chứng khoán Mỹ từ ngày 15 tháng 10 đến  
ngày thứ hai đen tối 19 tháng 10 năm 1987), hoặc sự bất thường trong tỷ suất sinh  
lợi trung bình hằng ngày trong tuần của các cổ phiếu trên thị trường. Nghiên cứu  
năm 1980 của French, sử dụng dữ liệu từ năm 1953 đến năm 1977, đưa ra kết quả  
tỷ suất sinh lợi vào các ngày thứ hai thấp hơn nhiều so với những ngày khác trong  
tuần. Ngoài ra, hiệu ứng ngày trong tuần ở thị trường chứng khoán phát triển và  
mới nổi cũng được phát hiện bởi những nhà nghiên cứu như: nghiên cứu của  
Agrawal và Tandon (1994), nghiên cứu của Rahman (2009). Từ những nghiên cứu  
trên, tôi nhận thấy hiệu ứng ngày trong tuần là một hiện tượng bất thường rất phổ  
biến ở thị trường chứng khoán các nước.  
Mục đích của nghiên cứu này nhằm tìm bằng chứng thực nghiệm hiệu ứng  
ngày trong tuần tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Với dữ liệu từ chỉ số VN-  
Index trong giai đoạn từ ngày 04 tháng 03 năm 2002 đến ngày 01 tháng 03 năm  
2013 thì kết quả mô hình hồi quy với biến giả cho thấy hiệu ứng ngày trong tuần  
tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt nam. Giá của các cổ phiếu vào ngày thứ  
ba thì thường giảm, vào ngày thứ sáu thì thường tăng.  
Nghiên cứu được chia thành nhiều phần khác nhau. Phần thứ nhất bao gồm  
những giới thiệu tóm tắt về bài nghiên cứu và tầm quan trọng của nghiên cứu.  
Phần thứ hai cung cấp cơ sở lý thuyết dựa trên những nghiên cứu trong quá khứ.  
Phần thứ ba diễn đạt phương pháp nghiên cứu của nghiên cứu, bao gồm diễn đạt  
về cỡ mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu. Phần thứ tư bao gồm các phân tích về  
2
thống kê mô tả, mô hình hồi quy được sử dụng để phân tích định lượng. Phần năm  
sẽ là kết luận tổng quát vấn đề và cuối cùng là phụ lục các tài liệu tham khảo liên  
quan.  
3
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
Hiệu ứng ngày trong tuần là sự bất thường trong tỷ suất sinh lợi hằng ngày  
trong tuần của các cổ phiếu trên thị trường, cụ thể là giá của các cổ phiếu vào các  
ngày bất thường trong tuần thì thường tăng (giảm). Đây là một hiện tượng bất  
thường được các nhà nghiên cứu tìm thấy ở nhiều nước. Do đó để hiểu rõ hiệu ứng  
ngày trong tuần tôi xin bắt đầu từ lý thuyết thị trường hiệu quả. Trong phần lý  
thuyết thị trường hiệu quả, tôi trình bày thêm lý thuyết bước đi ngẫu nhiên để thấy  
được sự vận động giá cả trên thị trường chứng khoán. Sau đó, tôi sẽ liệt kê kết quả  
của các nhà nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong tuần để hoàn thiện cơ sở lý thuyết  
cho bài nghiên cứu này.  
2.1.Lý thuyết thị trường hiệu quả  
Từ khi thị trường chứng khoán ra đời, đã có rất nhiều lý thuyết dày công  
nghiên cứu phương pháp đầu tư có lợi nhuận cao trên thị trường này như phân tích  
cơ bản, phân tích kỹ thuật... hay các quy tắc mua sau khi giá tăng 2 ngày, mua khi  
có tin xấu, bán khi có tin tốt... Tuy vậy kết quả của nó không thỏa mãn mong  
muốn của những nhà đầu tư. Một nghiên cứu về hoạt động của những nhà môi giới  
chứng khoán đã dẫn đến kết luận rằng tính trung bình, lợi nhuận đem lại từ các  
danh mục đầu tư do họ thực hiện cũng không hơn một danh mục đầu tư được lựa  
chọn ngẫu nhiên. Những nghiên cứu về xu hướng giá của thị trường chứng khoán  
sử dụng số liệu thống kê trong nhiều năm cũng rút ra: chỉ có một điều chắc chắn  
đối với giá cổ phiếu là chúng lên xuống rất thất thường. Nói tóm lại, những nghiên  
cứu trong nhiều thập kỷ qua đưa đến kết luận không thể kiếm lợi nhuận cao trên  
thị trường chứng khoán bằng các quy tắc hay công thức bởi vì nhìn chung nó cũng  
không tốt hơn một cơ cấu đầu tư chứng khoán được đa dạng hóa và lựa chọn ngẫu  
nhiên. Điều này đã khiến cho các nhà lý thuyết tài chính đi sâu nghiên cứu nhằm  
tìm ra câu trả lời tại sao một thị trường tài chính hoạt động tốt lại loại bỏ được tình  
trạng lợi nhuận quá cao trong một thời gian dài.  
4
Giáo sư Fama, trong công trình nghiên cứu mang ý nghĩa bước ngoặc của  
mình, đã định nghĩa thị trường hiệu quả là thị trường mà trong đó giả cả phản ánh  
toàn bộ những thông tin tồn tại trên thị trường. Định nghĩa này sau đó đã trở thành  
kinh điển và là chuẩn mực trong nghiên cứu thị trường hiệu quả. Fama, qua định  
nghĩa vừa nêu, hàm ý rằng: thị trường xử lý thông tin một cách triệt để. Do đó,  
không tồn tại bất cứ một thông tin có liên quan nào đến chứng khoán vốn bị thị  
trường bỏ qua. Và do đó, giá cả chứng khoán vốn trên thị trường luôn ở mức phù  
hợp với mức giá trị nội tại của nó.  
Tuy nhiên, để đưa ra được thuyết thị trường hiệu quả, Fama đưa ra các giả  
định sau:  
Giả định ban đầu và quan trọng về một thị trường hiệu quả yêu cầu có một số  
lượng lớn người tham gia phân tích và đánh giá các thị trường nhằm tối đa hóa lợi  
nhuận và mỗi người độc lập với những người khác.  
Giả định thứ hai: thông tin mới liên quan tới thị trường được công bố theo cách  
thức ngẫu nhiên, và thời điểm quyết định để thông báo độc lập với những thông  
báo khác.  
Giả định thứ ba đặc biệt quan trọng: nhà đầu tư - nhằm tối đa hóa lợi nhuận - điều  
chỉnh giá chứng khoán một cách nhanh chóng phản ánh tác động của thông tin  
mới. Mặc dù sự điều chỉnh giá cả có thể không hoàn hảo, nó vẫn được chấp nhận.  
Điều này có nghĩa là đôi lúc thị trường sẽ điều chỉnh quá mức, đôi lúc nó lại dưới  
mức cần thiết, nhưng ta không thể đoán được những gì sẽ diễn ra ở mỗi thời điểm  
xác định. Giá cả chứng khoán điều chỉnh một cách nhanh chóng bởi vì các nhà đầu  
tư (để tối đa hóa lợi nhuận) luôn cạnh tranh với những người khác.  
Định nghĩa trên, xét về phương diện lý thuyết, đã thể hiện đầy đủ bản chất  
của thị trường hiệu quả. Tuy nhiên, về mặt thực nghiệm, định nghĩa này đã gây  
nên nhiều khó khăn trong việc kiểm định tính hiệu quả của thị trường. Một điều dễ  
nhận thấy đó là các nhà thực nghiệm hầu như không có được một luận cứ định  
lượng cụ thể nào dựa trên câu định nghĩa “phản ánh hoàn toàn mọi thông tin tồn  
tại trên thị trường”. Vấn đề được đặt ra ở đây là, để biết được giá cả chứng khoán  
5
vốn có phản ánh hoàn toàn thông tin trên thị trường hay không, có hai câu hỏi cần  
phải được trả lời: Giá cả trên thị trường chứng khoán vốn được hình thành ra sao?  
Thế nào là phản ánh hoàn toàn và mọi thông tin được phản ánh ở đây cụ thể là gì?  
Để trả lời cho câu hỏi “Giá cả trên thị trường chứng khoán vốn được hình  
thành ra sao?”, các nhà nghiên cứu thực nghiệm buộc phải sử dụng một mô hình  
định giá chứng khoán vốn nhất định. Như vậy, việc xác định giá cả chứng khoán  
vốn có phản ánh các thông tin tồn tại trên thị trường hay không, phụ thuộc rất lớn  
vào tính đúng đắn của mô hình định giá chứng khoán vốn được sử dụng.  
Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên  
Năm 1973 khi Burton Malkiel viết quyển sách "A Random Walk Down  
Wall Street", thì lý thuyết bước đi ngẫu nhiên bắt đầu trở nên phổ biến. Quyển  
sách này có thể được xem như một trong những lý thuyết đầu tư kinh điển nhất  
trên thị trường chứng khoán. Lý thuyết cho rằng sự thay đổi giá của một chứng  
khoán riêng lẻ bất kỳ hay chỉ số chứng khoán của cả thị trường trong quá khứ đều  
không thể dùng để dự báo cho sự thay đổi trong tương lai.  
Nói một cách đơn giản nhất thì lý thuyết bước đi ngẫu nhiên cho thấy giá  
chứng khoán tuân theo bước đi ngẫu nhiên và đó là bước đi không thể tiên đoán  
trước được. Khả năng tăng hay giảm của chứng khoán trong tương lai là tương  
đương nhau. Những người tin theo lý thuyết này tin rằng trong tương lai, thị  
trường không thể giống như những gì nó đã xảy ra vì luôn có những rủi ro tăng  
thêm, đó là những rủi ro không thể biết trước.  
 
      
                
 
   
      
 
    
 
 
trong đó P là giá vào cuối thời kỳ t, D là cổ tức trả trong kỳ t, E(R) là lợi nhuận kỳ  
vọng trong thời gian t, và   là một biến ngẫu nhiên độc lập theo từng kỳ có giá trị  
dự kiến là 0. Mô hình này tương đương với:  
      
 
 
    
            
 
         
 
 
 
    
trong đó R là lợi nhuận kép liên tục hợp quan sát được trong khoảng thời gian t.  
6
Để kiểm tra giả thuyết về hành vi lợi nhuận hàng ngày, nó được giả định rằng, ở  
bất cứ ngày nào trong tuần, lợi nhuận dự kiến là không đổi và các sai số được rút  
ra từ một phân phối bình thường ổn định. Giả định này ngụ ý, ví dụ, rằng lợi  
nhuận kỳ vọng cho mỗi thứ ba đều giống nhau và sai số của mỗi thứ ba được rút ra  
từ cùng một phân phối.  
Điều này được tóm tắt bằng:  
    
            
   
 
 
Với chỉ số dưới d thể hiện cho ngày trong tuần mà lợi nhuận được quan sát.  
Đối với câu hỏi thứ hai, để biết được giá cả có phản ánh hoàn toàn các  
thông tin hay không, nhà nghiên cứu thực nghiệm cần phải xác định xem mọi  
thông tin cần được phản ánh là gì. Biết được bản chất thông tin chính là nhân tố  
cốt lõi để xác định phương pháp kiểm định phù hợp để xác định tính hiệu quả của  
thị trường.  
Các nhà kinh tế thường định nghĩa ba mức độ của thị trường hiệu quả, phân biệt  
bởi mức độ thông tin đã phản ánh trong giá chứng khoán:  
1. Ở mức độ thứ nhất, giá cả phản ánh thông tin đã chứa đựng trong hồ sơ giá  
cả quá khứ. Nó được gọi là hình thức hiệu quả yếu. Nếu các thị trường hiệu  
quả ở mức yếu, thì không thể tạo ra được các siêu tỷ suất sinh lợi liên tục  
bằng cách nghiên cứu tỷ suất sinh lợi quá khứ. Giá cả sẽ theo một bước  
ngẫu nhiên.  
2. Mức độ hiệu quả thứ hai đòi hỏi giá cả phản ánh không chỉ giá cả quá khứ  
mà còn phản ánh tất cả thông tin đã công bố khác, như là thông tin bạn có  
thể có do đọc các báo chí về tài chính. Đây được gọi là hình thức hiệu quả  
vừa phải của thị trường. Nếu các thị trường hiệu quả ở mức vừa phải, giá cả  
sẽ điều chỉnh ngay lập tức trước các thông tin công cộng như là việc công  
bố tỷ suất sinh lợi quý vừa qua, một phát hành cổ phần mới, một đề nghị  
sáp nhập hai công ty,…  
7
3. Cuối cùng, chúng ta có thể hình dung một hình thức hiệu quả mạnh, trong  
đó giá cả phản ánh tất cả thông tin có thể có được bằng cách phân tích tỉ mỉ  
về công ty và về nền kinh tế. Trong một thị trường như vậy, chúng ta sẽ  
quan sát thấy các nhà đầu tư may mắn và không may mắn, nhưng chúng ta  
sẽ không tìm thấy bất kỳ siêu giám đốc đầu tư nào có thể liên tục đánh bại  
thị trường.  
Tuy vậy, Giáo Sư Fama cũng thừa nhận rằng, khó có khả năng tồn tại trên  
thực tế một thị trường hội đủ cả 3 giả định đã nêu ở trên. Đó là lí do tại sao Giáo  
Sư Fama gọi 3 điều kiện trên là 3 điều kiện đủ để tạo nên một thị trường hiệu quả.  
Bởi lẽ, không nhất thiết khi một thị trường là hiệu quả thì phải thỏa mãn một cách  
tuyệt đối cả 3 điều kiện trên. Theo ông, chỉ cần có một số lượng vừa đủ các thành  
viên tham gia thị trường tiếp cận đến các thông tin trên thị trường thì thị trường  
vẫn có thể có tính hiệu quả. Tương tư như vậy, sự bất đồng trong kỳ vọng của các  
nhà đầu tư chưa hẳn là dấu hiệu dẫn đến sự bất hiệu quả của thị trường. Thị trường  
chỉ không hiệu quả khi một hoặc một số nhà đầu tư nào đó, dựa trên lượng thông  
tin có sẵn, xác định được đúng đắn ý nghĩa mà lượng thông tin đó mang lại so với  
phần còn lại của thị trường.  
Giáo Sư Fama cũng lưu ý rằng, tuy các chi phí giao dịch, lượng thông tin  
không được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng các nhà đầu tư và sự bất đồng ý  
kiến giữa các nhà đầu tư chưa hẳn là dấu hiệu của một thị trường không hiệu quả,  
những nhân tố trên là nguyên nhân tiềm tàng của tính bất hiệu quả của thị trường.  
Tóm lại, một kết quả về tính bất hiệu quả của thị trường có thể xuất phát từ  
hai nguyên nhân: do thị trường thật sự không hiệu quả hoặc do mô hình định giá  
chứng khoán vốn không có độ tin cậy cao.  
2.2. Tổng quan các nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong tuần  
Hiệu ứng ngày trong tuần được xem như là sự bất thường trong tỷ suất sinh  
lợi hằng ngày trong tuần của các cổ phiếu trên thị trường. Trong suốt những thập  
kỷ qua, có nhiều nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong tuần đã được thực hiện, tập  
8
trung chủ yếu trên thị trường chứng khoán Mỹ - thị trường chứng khoán phát triển  
nhất trên thế giới.  
Nghiên cứu năm 1981 của Gibbons và Hess, sử dụng dữ liệu từ năm 1962  
đến năm 1978, đưa ra kết quả tỷ suất sinh lợi vào các ngày thứ hai thấp hơn nhiều  
so với những ngày khác và tỷ suất sinh lợi vào ngày thứ sáu cao hơn so với những  
ngày còn lại trong tuần.  
Nghiên cứu của Keim và Stambaugh (1984) sử dụng dữ liệu trên thị trường  
chứng khoán Mỹ từ năm 1928 đến năm 1982 cũng đưa ra kết luận tương tư. Họ  
nhận thấy một cách nhất quán tỷ suất sinh lợi ngày thứ hai âm đối với (1) chỉ số S  
& P Composite ngay từ năm 1928, (2) cổ phiếu giao dịch trao đổi của các doanh  
nghiệp thuộc mọi quy mô, và (3) cổ phiếu OTC được giao dịch. Trong 30 cổ phiếu  
riêng lẻ của chỉ số Dow Jones Industrial, bình quân tương quan tỷ suất sinh lợi  
giữa ngày thứ sáu và ngày thứ hai là cùng hướng và cao nhất của tất cả các cặp  
ngày liên tiếp.  
Nghiên cứu của Berument và Kiymaz (2001) kiểm tra sự hiện diện của hiệu  
ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán biến động bằng cách sử dụng chỉ  
số thị trường S&P 500 trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 10 năm  
1997. Các kết quả cho thấy rằng trong khi tỷ suất sinh lợi cao nhất và thấp nhất  
được quan sát thấy vào ngày thứ tư và ngày thứ hai, thì mức biến động cao nhất và  
thấp nhất tương ứng được quan sát thấy vào ngày thứ sáu và ngày thứ tư.  
Ngoài thị trường chứng khoán Mỹ, các nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong  
tuần trên các thị trường chứng khoán khác cũng được thực hiện.  
Nghiên cứu của Jaffe và Westerfield (1985) đã tìm thấy sự tồn tại hiệu ứng  
ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán Úc, Nhật Bản, Anh và Canada; trong  
đó, ở Nhật Bản, tỷ suất sinh lợi cao nhất xuất hiện vào ngày giao dịch cuối tuần,  
ngày thứ Bảy; đồng thời, tại Úc và Nhật Bản đều xuất hiện hiệu ứng ngày thứ Ba  
là ngày có tỷ suất sinh lợi thấp nhất trong tuần.  
Một nghiên cứu ở 18 quốc gia khác nhau được thực hiện bởi Agrawal và  
Tandon (1994) cho kết quả tỷ suất sinh lợi cao nhất trong tuần ở các quốc gia trên  
9
diễn ra vào ngày thứ tư và thứ sáu, tỷ suất sinh lợi thấp nhất trong tuần tập trung ở  
ngày thứ hai và thứ ba.  
Năm 1990, Ho tiến hành kiểm định hiệu ứng trong tuần trên thị trường  
chứng khoán của 10 nước ở Châu Á Thái Bình Dương cùng với Mỹ và Anh.  
Nghiên cứu cho kết quả 5 nước Châu Á có hiệu ứng ngày thứ hai giống như Mỹ,  
nhưng chỉ có nghiên cứu ở Malaysia và Phillipines có ý nghĩa thống kê. Các nước  
Úc, Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan và Phillipines đều có hiệu ứng ngày thứ ba.  
Ngoài ra, hiệu ứng ngày thứ sáu được tìm thấy ở 6 trong 10 quốc gia châu Á được  
nghiên cứu.  
Nghiên cứu của Rahman (2009) xem xét sự hiện diện của hiệu ứng ngày  
trong tuần tại Dhaka StockExchange (DSE). Mô hình hồi quy biến giả được sử  
dụng chính trong bài ngiên cứu. Các kết quả chỉ ra rằng tỷ suất sinh lợi của ngày  
chủ nhật và ngày thứ hai là âm, tỷ suất sinh lợi của ngày thứ năm dương là có ý  
nghĩa thống kê đáng kể. Kết quả cũng cho thấy rằng tỷ suất sinh lợi hàng ngày  
trung bình giữa hai ngày liên tiếp có ý nghĩa thống kê đáng kể cho cặp thứ hai -  
thứ ba, thứ tư - thứ năm và thứ năm - chủ nhật. Kết quả hồi quy biến giả cho thấy  
chỉ có ngày thứ năm có hệ số tích cực và có ý nghĩa thống kê. Kết luận của tất cả  
các phát hiện là hiệu ứng ngày trong tuần tồn tại tại DSE.  
Nghiên cứu của Hussain, Hamid, Akash, và Khan (2011) xem hiệu ứng ngày  
trong tuần như là một bất thường trên thị trường chứng khoán ở Pakistan. Dữ liệu  
áp dụng trong nghiên cứu này bao gồm giá cổ phiếu hàng ngày của chỉ số KSE-  
100 trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2006 đến tháng năm 2010. Một tuần giao dịch  
thì gồm 5 ngày. Nghiên cứu kết luận rằng tỷ suất sinh lợi ngày thứ ba là dương và  
có ý nghĩa thống kê khá đáng kể. Do đó nó được suy ra rằng có tồn tại hiệu ứng  
ngày trong tuần tại thị trường chứng khoán Pakistan. Bình quân tỷ suất sinh lợi  
của ngày thứ ba là lớn hơn so với các ngày còn lại. Mô hình hồi quy phân tích  
được thực hiện để đáp ứng mục đích chính của nghiên cứu này.  
Lai, Bai, Chang Wei và Luo (2012) nghiên cứu hiệu ứng ngày trong tuần dựa  
trên mô hình kiểm định phi tham số trên thị trường chứng khoán Thâm Quyến ở  
10  
Trung Quốc từ 25/12/1995 đến 31/12/2010. Kết quả của họ cho thấy tỉ suất sinh  
lợi ngày thứ năm thường âm trong toàn bộ thời gian xem xét trên thị trường chứng  
khoán Thâm Quyến và một số giai đoạn phụ khác được lựa chọn.  
Tak-Kee Hui (2005) tìm kiếm hiệu ứng ngày trong tuần trong một mẫu các thị  
trường Châu Á-Thái Bình Dương như Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Đài  
Loan. Kết quả cho thấy không có bằng chứng về sự tồn tại của hiệu ứng ngày  
trong tuần trong tất cả các nước ngoại trừ Singapore. Đối với Singapore, đó là lợi  
nhuận thấp vào thứ hai, thứ ba và lợi nhuận cao vào ngày thứ Tư đến thứ Sáu.  
Đặc biệt hơn, Liano, Liano và Manakyan (1999) xem xét sự hiện diện của hiệu  
ứng ngày trong tuần qua các chính quyền tổng thống khác nhau. Kết quả cho thấy  
hiệu ứng ngày trong tuần xuất hiện trong chính quyền của đảng Dân chủ và đảng  
Cộng hòa. Tuy nhiên, mẫu hình của hiệu ứng ngày trong tuần lại khác nhau giữa  
hai chính quyền quản lý. Cụ thể, tỷ suất sinh lợi tiêu cực vào ngày thứ hai là rõ rệt  
hơn trong đảng Cộng hòa so với đảng Dân chủ. Do đó, muốn giải thích cho tác  
động của hiệu ứng ngày trong tuần nên xét đến các thay đổi của hiệu ứng thông  
qua chính quyền tổng thống.  
Chen, Kwok, Rui (2001) khi xem xét tác động của hiệu ứng ngày trong tuần  
lên thị trường chứng khoán Trung Quốc đã tìm thấy tỷ suất sinh lợi tiêu cực vào  
ngày thứ ba sau ngày 01 tháng 01 năm 1995. Sự bất thường ở ngày thứ ba biến  
mất sau khi xét đến các phân phối không chuẩn và sự lan tỏa từ các nước khác.  
Phát hiện này cho thấy rằng tính đều đặn của hiệu ứng ngày trong tuần ở Trung  
Quốc có thể là do hiệu ứng lan tỏa từ châu Mỹ. Các bằng chứng về ngày trong  
tuần bất thường ở Trung Quốc rõ ràng là phụ thuộc vào phương pháp ước lượng  
và thời gian mẫu. Khi chi phí giao dịch được xét đến, xác suất thu lợi từ các hoạt  
động kinh doanh chênh lệch giá dựa trên các chiến lược kinh doanh ngày trong  
tuần có vẻ rất nhỏ. Kết luận này rõ ràng là phù hợp với một cách tiếp cận thị  
trường hiệu quả.  
Từ những kết quả nghiên cứu trên, ta nhận thấy hiệu ứng ngày trong tuần là  
một hiện tượng bất thường rất phổ biến ở thị trường chứng khoán các nước.  
11  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Tôi sử dụng phương pháp chuẩn của French (1980). Lập luận cơ bản trong bài  
nghiên cứu của French như sau:  
Bài nghiên cứu khảo sát quá trình tạo ra tỷ suất sinh lợi của chứng khoán bằng  
cách so sánh tỷ suất sinh lợi của những ngày khác nhau trong tuần. Bỏ qua những  
ngày nghỉ lễ, tỷ suất sinh lợi của ngày thứ hai đại diện cho một khoản đầu tư ba  
ngày (a three-calendar-day investment) tính theo lịch, từ ngày kết thúc phiên giao  
dịch ngày thứ sáu đến ngày kết thúc phiên giao dịch ngày thứ hai, trong khi tỷ suất  
sinh lợi của những ngày khác trong tuần thể hiện một sự đầu tư một ngày (one-day  
investment). Do đó, nếu lợi nhuận kỳ vọng là một hàm tuyến tính của thời gian  
đầu tư, được đo bằng thời gian lịch, có nghĩa là lợi nhuận trung bình vào thứ hai sẽ  
bằng ba lần so với lợi nhuận trung bình của các ngày khác trong tuần. Tuy nhiên,  
nếu quá trình tạo ra hoạt động diễn trong thời gian giao dịch, lợi nhuận cho tất cả  
năm ngày sẽ thể hiện những khoản đầu tư một ngày và lợi nhuận trung bình sẽ  
giống nhau cho mỗi ngày.  
Dữ liệu nghiên cứu  
Thị trường chứng khoán Việt Namhiện nay đã bước qua tuổi mười bốn, với  
phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 tại Trung tâm giao dịch chứng  
khoán TPHCM (HOSTC). Lúc bấy giờ một tuần chỉ có ba phiên giao dịch. Đến  
ngày 4 tháng 3 năm 2002 thì một tuần có năm phiên giao dịch (từ thứ hai đến thứ  
sáu). Do đó, để phân tích hiệu ứng tuần chính xác thì dữ liệu của tôi sẽ bắt đầu từ  
ngày 04 tháng 03 năm 2002.  
Dữ liệu cho nghiên cứu này được thu thập từ dữ liệu của Sở giao dịch  
chứng khoán TPHCM. Mẫu của nghiên cứu bao gồm chỉ số VN-Index và dữ liệu  
sử dụng là dữ liệu hàng ngày được thu thập trong giai đoạn từ ngày 04 tháng 03  
năm 2002 đến ngày 01 tháng 03 năm 2013. Cỡ mẫu ban đầu bao gồm 2741 quan  
sát. Tuy nhiên, sau khi loại bỏ các bất thường từ những dữ liệu ta còn lại 2692  
quan sát để sử dụng trong phân tích. (Ví dụ, nếu thứ ba là ngày nghỉ lễ, tỷ suất  
sinh lợi của ngày thứ tư sau đó không được tính đến).  
12  
Cách tính toán tỷ suất sinh lợi các ngày trong tuần:  
 
 
         
 
         
 
    
Trong đó:  
-   là tỷ suất sinh lợi ngày thứ t trong tuần.  
 
-   là chỉ số VN-Index tại thời điểm đóng cửa vào ngày thứ t trong tuần.  
 
-   là chỉ số VN-Index tại thời điểm đóng cửa vào ngày thứ (t -1) trong  
    
tuần.  
Hình 1: VN-Index trong giai đoạn nghiên cứu  
Nguồn: Dữ liệu từ Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSX)  
VN-Index trong giai đoạn này đáng chú ý nhất là từ đầu năm 2006 đến cuối  
quý 1 năm 2007. Đây là giai đoạn được xem là phát triển mạnh mẽ nhất của thị  
trường chứng khoán Việt Nam trong lịch sử (VN-Index đạt 1.170,7 điểm vào ngày  
12tháng 03 năm 2007 - mức kỷlục cho đến tận hôm nay). Bên cạnh đó thì giai  
đoạn từ năm 2007 đến đầu năm 2009 chứng kiến xu hướng giảm điểm liên tục,  
VN-Index rơi xuống mức đáy thấp nhất trong lịch sử, đạt 235,5 điểm vào ngày 24  
tháng 02 năm 2009.  
13  
4. KẾT QUẢ  
Bảng 1: Thống kê mô tả  
Thứ hai  
Thứ ba  
Thứ tư  
0.046762  
Thứ năm  
0.098633  
0.035168  
4.698622  
-4.737826  
1.492162  
0.02145  
Thứ sáu  
Mean  
Median  
-0.052572  
-0.123183  
4.648414  
-4.751053  
1.67792  
-0.204455  
-0.106222  
4.642095  
-4.971353  
1.641236  
-0.228765  
3.768375  
0.204266  
0.088509  
4.734822  
-4.795316  
1.475105  
0.242064  
4.440741  
-0.026829  
4.549133  
-4.794682  
1.451096  
-0.112598  
4.389346  
Maximum  
Minimum  
Std. Dev.  
Skewness  
Kurtosis  
0.077901  
3.989064  
4.22886  
Jarque-Bera  
Probability  
21.596  
0.00002  
17.82741  
0.000135  
44.90254  
0
34.64859  
0
52.55508  
0
Sum  
-27.1799  
-109.3835  
1438.412  
25.4388  
1143.384  
54.2481  
1222.374  
111.5292  
1185.885  
Sum Sq. Dev. 1452.755  
Observations 517  
535  
544  
550  
546  
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp dữ liệu và sử dụng phần mềm Eviews 6.0  
Bảng 1 trình bày thống kê mô tả của tỷ suất sinh lợi các ngày trong tuần. Tỷ suất  
sinh lợi trung bình và giá trị tỷ suất sinh lợi thấp nhất đều quan sát thấy ở ngày thứ  
ba (Mean: -0.2044; Minimum: -4.9714). Ngược lại đó, tỷ suất sinh lợi trung bình  
và giá trị tỷ suất sinh lợi cao nhất đều được quan sát thấy ở ngày thứ sáu (Mean:  
0.2042; Maximum: 4.7348). Ngoài ra, độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi trong  
ngày thứ ba là 1.64 (cao thứ hai so với các ngày còn lại trong tuần) cho thấy sự  
biến động lớn của tỷ suất sinh lợi trong ngày này. Độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh  
lợi trong ngày thứ sáu là 1.47 (thấp thứ hai so với các ngày còn lại trong tuần) cho  
thấy sự biến động nhỏ của tỷ suất sinh lợi trong ngày này.  
14  
Hình 2: Biểu đồ tỷ suất sinh lợi theo ngày, giai đoạn 04/03/2002 – 01/03/2013  
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp dữ liệu và sử dụng phần mềm Eviews 6.0  
Bảng 2: Thống kê tỷ suất sinh lợi bình quân của các ngày trong tuần  
Thứ 2  
-0.0913  
-0.1745  
-0.0385  
0.0545  
0.2626  
-0.0550  
Thứ 3  
-0.0781  
-0.2436  
-0.1147  
0.0498  
-0.1925  
0.0548  
Thứ 4  
-0.0705  
-0.0210  
0.2572  
-0.0633  
0.3401  
0.2105  
Thứ 5  
0.0220  
0.1744  
0.1271  
0.1951  
0.7181  
-0.1760  
Thứ 6  
0.0776  
0.1109  
0.3629  
0.3016  
0.5281  
0.2625  
20021  
2003  
2004  
2005  
2006  
2007  
2008  
2009  
2010  
2011  
2012  
20132  
-0.4439  
0.1971  
-0.0702  
-0.3307  
0.0267  
0.5221  
-0.6638  
-0.1989  
-0.1458  
-0.3847  
-0.3111  
-0.3340  
-0.4688  
0.2171  
-0.1969  
-0.0842  
0.2465  
0.7552  
-0.4051  
0.1400  
0.1902  
0.0963  
0.0015  
-0.0134  
-0.2151  
0.4741  
0.0171  
-0.0513  
0.2403  
0.8992  
1: Số liệu trong năm 2002 chỉ lấy từ ngày 04 tháng 03.  
2: Số liệu trong năm 2013 chỉ lấy đến ngày 01 tháng 03.  
15  
Ở 10 trong số 12 năm nghiên cứu, tỷ suất sinh lợi trung bình của ngày thứ  
ba là âm. Ngoài ra, tỷ suất sinh lợi trung bình ở ngày thứ ba thấp hơn so với tỷ suất  
sinh lợi trung bình ở bất kỳ ngày nào khác trong tuần trong suốt 8 năm (so với  
tổng là 12 năm). Như đã trình bày ở phía trên, năm 2008 là năm mà thị trường  
chứng khoán Việt Nam liên tục sụt giảm, chỉ số VN-Index liên tục tạo đáy, đáy  
sau thấp hơn đáy trước, 256,85 điểm vào ngày 10 tháng 12 năm 2008 là mức đáy  
của năm 2008. Đây cũng là nguyên nhân dễ hiểu khi mà tỷ suất sinh lợi trung bình  
của cả năm ngày trong tuần vào năm 2008 đều âm. Đối với ngày thứ sáu thì 10  
trong số 12 năm nghiên cứu tỷ suất sinh lợi trung bình là dương.  
Tóm lại, sau khi phân tích dữ liệu bằng phương pháp thống kê mô tả, tôi  
nhận thấy rất có khả năng hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán  
Việt Nam có tồn tại, cụ thể là vào ngày thứ ba và ngày thứ sáu.  
Mô hình 1:  
                                  
 
 
     
     
     
     
Trong phương trình hồi quy này,   là tỷ suất sinh lợi của VN-Index và  
 
những biến số giả biểu thị ngày trong tuần được quan sát (d2t = thứ hai, d3t = thứ  
tư,d4t = thứ năm, d5t = thứ sáu). Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cho thứ ba được dự liệu  
bởi   trong khi   thông qua   đại diện sự khác nhau giữa tỷ suất sinh lợi kỳ  
 
 
vọng vào thứ ba và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của các ngày khác trong tuần. Nếu tỷ  
suất sinh lợi kỳ vọng cho từng ngày là như nhau, những ước lượng của   đến  
 
  sẽ gần với 0 và giá trị thống kê F đo lường ý nghĩa thống kê của biến giả không  
 
có ý nghĩa.  
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 80 trang yennguyen 20420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu về hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_ve_hieu_ung_ngay_trong_tuan_tren_thi_tru.pdf