Luận văn Một số đặc trưng tu tập của hệ phái Khất Sĩ Từ khởi nguyên cho đến nay

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN THỊ HIỀN  
(Thích nữ Liên Lý)  
MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG TU TẬP CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ  
TỪ KHỞI NGUYÊN CHO ĐẾN NAY  
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC  
TP. Hồ Chí Minh, năm 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN THỊ HIỀN  
(Thích nữ Liên Lý)  
MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG TU TẬP CỦAHỆ PHÁI KHẤT SĨ  
TỪ KHỞI NGUYÊN CHO ĐẾN NAY  
Ngành  
: TÔN GIÁO HỌC  
Mã số  
: 8.22.90.09  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
NGUYỄN THÀNH DANH  
TP. Hồ Chí Minh, năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự  
hướng dẫn của TS. Nguyễn Thành Danh. Các đoạn trích dẫn và số liệu trong  
luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu  
biết của tôi. Luận văn là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công  
trình nào khác.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2018  
Tác giả luận văn  
TRẦN THỊ HIỀN  
LỜI CẢM ƠN  
Luận văn này là thành quả học tập, nghiên cứu của chúng con tại khoa Tôn  
giáo học - Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam ,  
chi nhánh tại Tp. HCM.  
Lời đầu tiên con xin tri ân Học viện Khoa học xã hội - Khoa Tôn giáo học,  
nhà trường chi nhánh tại Tp. HCM cùng Quý thầy cô phụ trách khoa Tôn giáo tại  
phía Nam đã hướng dẫn tận tình, truyền trao những kiến thức, kinh nghiệm quý  
báu trong suốt thời gian con học tại trường.  
Và con cũng thành tâm đê đầu đảnh lễ HT Thích Đồng Bổn và TT Thích  
Đồng Văn đã hết lòng hỗ trợ cho con trong thời gian học tập và hoàn thành luận  
văn tốt nghiệp.  
Cũng thành tâm đảnh lễ cố Sư Bà và Quý sư cô ở Tịnh Xá Ngọc chơn đã hết  
lòng hỗ trợ cho con trong suốt thời gian tạm trú tại Tịnh Xá, trong mọi phật sự để  
con an tâm mà học tập và hoàn thành luận văn.  
Cuối cùng con xin thành kính tri ân quý Ni sư, sư cô và một số đạo hữu phật  
tử gần xa đã hỗ trợ cho con trong việc tìm hiểu nghiên cứu trong thời gian làm đề  
tài luận văn.  
Một lần nữa con xin thành kính tri ân.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2018  
Học viên  
Trần Thị Hiền  
MỤC LỤC  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm thông qua đường biển từ  
Ấn Độ và Trung Quốc sang. Ngay từ đầu Tây lịch, truyện cổ tích đã ghi lại  
Chử Đồng Tử học đạo với một nhà sư Ấn Độ. Tương tự, các truyền thuyết về  
Thạch Quang Phật và Mang Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng  
đạo của Khâu Đà La trong khoảng thời gian 168 – 189 (trung tâm Phật giáo  
Luy Lâu ở nước ta lúc bấy giờ) đều nói đến quá trình giao lưu, tiếp biến Phật  
giáo vào nước ta.  
Đến đời Lý - Trần, đạo Phật tại Việt Nam bước vào giai đoạn cực  
thịnh,đây là thời kỳ vàng son của Phật giáo để lại dấu ấn trong dân tộc Việt. Ở  
giai đoạn này, Phật giáo được coi là quốc giáo, ảnh hưởng, chi phối đến mọi  
mặt trong đời sống người dân Việt.  
Đến thời nhà hậu Lê Phật giáo đi vào giai đoạn suy yếu. Tuy nhiên,  
không vì thế mà Phật giáo mất đi tinh thần “cứu nhân, độ thế” vốn có. Bởi vì,  
mục tiêu của Phật giáo là vì “lòng thương tưởng cho đời”, vì tịnh hóa nhân  
gian mà Phật giáo xuất hiện. Để đạt được cứu cánh đó, Phật giáo luôn thực  
hiện đặc tính “tùy duyên bất biến” hay tinh thần “tứ khế” (khế lý, khế cơ, khế  
thời, khế xứ) để hoằng truyền chánh pháp.  
Khế lý là nói về mặt tư tưởng, nhờ khế lý cho nên Phật giáo có trải qua  
biến cố thăng trầm của lịch sử và vượt thời gian, không gian Phật giáo vẫn  
hợp với chơn lý, vẫn luôn phong phú, sâu sắc giữ được bản chất của mình đó  
là “Vị giải thoát”. Khế cơ là nói về mặt lịch sử, nhờ có khế cơ mà Phật giáo  
dễ dung hòa với phong tục tập quán của từng vùng miền của mỗi quốc gia,  
làng xã để hướng dẫn con người được an lạc về tinh thần, an tâm trong cuộc  
sống. Do vậy, dễ thấy, ở những giai đoạn khác nhau, những tăng sĩ tinh ba của  
Phật Đà luôn “tùy duyên bất biến”, luôn sử dụng nhu nhuyến pháp phương  
 
2
tiện để hoằng Pháp, độ sanh. Dù khi thịnh, lúc suy, nhưng sự vận động, thích  
nghi của Phật giáo ở Việt Nam là minh chứng sống động cho nguyên lý ấy.  
Tại miền Nam Việt Nam,đầu thế kỷ XX ảnh hưởng mạnh mẽ phong  
trào “chấn hưng Phật giáo” do HT Khánh Hòa khởi xướng làm xuất hiện  
nhiều phong trào, khuynh hướng hoằng pháp cũng như tăng tài tinh ba xuất  
hiện đem lại sinh khí mới cho Phật giáo nước nhà. Trong đó phải nói đến sự  
ra đời của đạo Phật Khất sĩ Việt Nam do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng.  
Theo Tổ sư Minh Đăng Quang, chấn hưng Phật giáo phải được đặt trên  
phương diện thực hành chứ không phải hô hào suông. Theo Tổ sư, từng cá  
nhân Tăng sĩ phải ý thức trách nhiệm của mình trước sự tồn vong của đất  
nước và đạo pháp, phải làm một cái gì đó để đóng góp vào công cuộc chấn  
hưng Phật giáo nước nhà, có nghĩa là mỗi tu sĩ phải gương mẫu, nghiêm túc  
hành trì Giới - Định - Tuệ. Tăng sĩ cần lấy Tứ ý Pháp và nếp sống Lục hòa  
làm nền tảng cho việc tu học. Tinh thần này được nhắc tới trong“Chơn lý”:  
“hãy nghĩ đến Đạo, đến Phật, đến chúng sanh... phải nâng cao giới luật, đó  
mới là phận sự của Tăng bảo...”.  
Trong tinh thần chấn hưng Phật giáo nước nhà, Tổ sư đã tư duy quán  
chiếu, thực hành hàng ngày và vận động hàng tứ chúng cùng thực hành những  
giáo điều của Đức Phật để lại với ý nguyện “Nối truyền Thích Ca, chánh pháp”.  
Hơn hết, để đạt được mục tiêu phụng sự đạo pháp, đân tộc Tổ sư mong  
muốn khôi phục lại nếp sống Tăng đoàn thời xưa. Vìvậy, đạo Phật Khất sĩ đã  
được hình thành (1946 – 1954) do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng.  
Đạo Phật Khất sĩ tuân thủ đường lối tu tập hành Tứ ý Pháp, đi con  
đường Trung đạo của Bát chánh đạo, lấy giới luật làm thầy. Tổ sư cho rằng,  
giới luật đạo Phật còn,thì Đạo Phật còn, ở đâu giới luật được trì giữ và hành  
trì thì đạo Phật còn sáng tỏ. Vì vậy, trong những năm truyền dạy, bản thân  
Ngài luôn lấy Giới,Định,Tuệ làm kim chỉ namđể tu tập và chỉ dậy hàng đệ tử  
thực hành để làm tấm gương cho đoàn hậu tấn về sau noi theo.  
3
Vậy nên dù Hệ phái ra đời và phát triển trong thời gian ngắn hơn bảy  
mươi năm, (trong đó thời gian truyền đạo của Tổ sư Minh Đăng Quang  
chỉmười năm đến ngày Tổ sư vắng bóng) nhưng Hệ phái Khất Sĩ đã gây dựng  
được một hệ thống đồ sộ các ngôi Tịnh xá ở trong và ngoài nước. Điều này lý  
giải, sự cuốn hút của đạo Phật Khất Sĩ không chỉ ở mục tiêu hình thành mà  
còn là ở phương tiện hoằng pháp, phương thức tu tập cũng thấu triệt được tinh  
thần “tứ khế” (khế cơ, khế lý, khế xứ, khế thời) như Đức Phật đã từng truyền  
dạy.  
Vì vậy, việc nghiên cứu nét đặc trưng trong tu tập của Hệ phái Khất Sĩ  
không chỉ giúp khẳng định giá trị của Hệ phái mà còn tiếp tục thực tiễn hóa  
phương thức tu tập ấy vào trong đời sống xã hội. Việc luận văn nghiên cứu  
đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ là xuất phát từ bối cảnh này.  
Mặt khác, cho đến thời điểm hiện nay, chúng tôi chưa thấy công trình  
nghiên cứu chuyên sâu nào về đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất Sĩ.  
Với những lý do trên, chúng tôi chọn: “Một số đặc trưng tu tập của Hệ  
phái Khất Sĩ từ khởi đầu cho đến hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ  
ngành Tôn giáo học không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn cả thực tiễn.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Là một Hệ phái sinh sau ra đời muộn nhưng Hệ phái Khất sĩ đã có  
những đóng góp cho Phật giáo Việt Nam. Trong suốt mười năm thuyết  
pháp độ sanh, Tổ sư đã tùy căn cơ trình độ của nhu cầu mà dùng phương  
tiện để hướng dẫn, và những lời dạy của Ngài đã được đúc kết thành Bộ  
Chơn Lý. Bộ Chơn lý có 69 quyển được xây dựng trên nền tảng Kinh, Luật,  
Luận. Đây bộ tài liệu chính mà người viết làm tài liệu để nghiên cứu mà  
người viết tham khảo.  
Ngoài ra, phần lớn những nghiên cứu về hệ phái là do Tu sĩ (Tăng Ni  
viết là chính) như:  
4
Thích Hạnh Thành (2007) Tìm hiểu Phật giáo Khất sĩ ở Nam Bộ Việt  
Nam. Ở đây, tác giả đã nêu lên sự ra đời của Hệ phái Khất sĩ, sinh hoạt, văn  
hóa cũng như cách tổ chức, và những đóng góp của Hệ phái Khất sĩ cho Phật  
giáo Việt Nam. Trong công trình này, tác giả đã khái quát được những nội  
dung cơ bản sau: bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đến nửa đầu thế kỷ  
XX; Đạo Phật ở Nam Bộ trước thời Phật giáo Khất Sĩ ra đời;Phật giáo Khất  
Sĩ của Đại sư Huệ Nhựt (Khất Sĩ Đại Thừa);Hệ phái Khất Sĩ của Tổ Sư Minh  
Đăng Quang; Khất Sĩ của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng do Hòa thượng  
Thiện Phước sáng lập. Trong các Hệ phái này, tác giả chỉ khái quátvề mặt  
giáo lý, sáng tác, giáo dục đạo đức.  
Sự hình thành và phát triển của hệ phái Khất sĩcủaThích Giác Trí  
(2001) đã nêu lên sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩqua ba giai  
đoạn từ: (1944- 1954) (1954-1975) (1975-2000). Đây là sự ra đời của Hệ phái  
Khất sĩ và những hoạt động do Tổ sư Minh Đăng Quang dẫn dắt, và đã có  
đóng góp cho Phật giáo nước nhà. Tác giả cũng nêu lên một số thành tựu của  
Hệ phái Khất sĩ như: Hoằng pháp, giáo lý, kiến trúc. Đây cũng là những nét  
riêng biệt của Đạo Phật Khất Sĩ.  
Tác giả Thích Giác Duyên (2014) trongTìm hiểu về Hệ phái Khất sĩđã  
tổng hợp nhiều nguồn tài liệu, một số văn bản hệ phái và các giáo đoàn (Tăng  
Ni) về lịch sử hình thành và phát triển từ khi Đạo Phật Khất Sĩ ra đời cho đến  
khi Tổ sư thành lập giáo đoàn, tư tưởng chủ đạo trong bộ Chơn lý, và một số  
nét đặc trưng của hệ phái khất sĩ, cũng như những hoạt đông và sự lớn mạnh  
của hệ phái khất sĩ từ khi Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng cho đến nay.  
Thích Giác Toàn (2014) trongÁnh Minh Quangđã trình bày những bài  
thi kệ của Tổ sư để lại, cũng như trích một số bài trong Chơn lý nói về  
phương pháp hành trì cho người đọc để học để hiểu mà hành theo. Cũng như  
5
một số bài thơ ca, kệ để cảm kích về bậc thầy (Tổ sư Minh Đăng Quang)  
trong lễ tưởng niệm về Đức Tổ sư.  
Cố Ni Trưởng Huỳnh Liên cũng có một số tác Phẩm mà Sư bà đã  
chuyển sang thi, kệ bằng Thơ Lục bát, Tứ Cú hay thơ tự do như kinh tụng  
hàng ngày, Tinh Hoa Bí Yếu, đây là những tác phẩm dành cho hàng tu sĩ và  
hàng phật tử của Hệ phái Khất sĩ hành trì hàng ngày dễ tụng, dễ đọc, dễ hiểu,  
dễ thực hành. Trong từng chữ từng câu là những lời dạy, những triết lý sâu xa  
của cố Ni trưởng.  
Tác giả Trần Hồng Liên với Khất thực thật và khất thực giả đăng  
trong Tạp chí khoa học số 1/1989 đã nêu lên hiện tượng khất thực giả ở Tp.  
HCM là một nguyên nhân làm gián đoạn phương pháp tu này của Hệ phái  
khất sĩ hiện nay.  
Năm 2016 trong hội thảo khoa học về Hệ phái Khất sĩ (Hệ Phái Khất  
sĩ: Quá trình hình thành phát triển và hội nhập, Nxb. Hồng Đức (2016), các  
tác giả cũng dành những tham luận khác nhau về Hệ phái này, cụ thể:  
Tác giả Nguyễn Quốc Tuấn với công trình Vài nét về lịch sử và đặc  
điểm của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, đã nêu lên lịch sử hành thành Hệ phái  
gồm 4 giai đoạn (1944-1954) đây là giai đoạn đầu hình thành Đạo Phật Khất  
sĩ việt Nam gồm sự hình thành Tăng đoàn, thành lập Giáo hội Khất sĩ tăng  
già, phương thức sinh hoạt của hệ phái. Giai đoạn hai (1954-1964) là giai  
đoạn đi vào hoạt động, hành trì du tăng lưu hành khắp nơi để đem đạo vào  
đời, phạm vi hạnh đạo được lan xa. Tăng ni phật tử quân số tăng trưởng. Giai  
đoạn ba (1964-1974), giai đoạn này Tăng ni Khất sĩ du phương cần phải có  
giấy tờ tùy thân, thời kỳ này hầu hét Tăng ni ở tại trú xứ tu học là chính sáng  
ra khất thực trì bình sau đó về Tịnh Xá nghĩ ngơi, chiều học Chơn Lý, dành  
thời gian tĩnh tọa thúc liễm thân tâm. Và giai đoạn này đã có quý HT và một  
số Tăng Ni tham gia vào công tác của giáo hội. Giai đoạn bốn (1975- hiện  
6
nay), Tăng ni trong giai đoạn này đã dừng hẳn du hóa vì rất nhiều điều kiện  
khách quan bên ngoài. Hệ phái Khất sĩ lúc này đã được truyền bá khắp nơi  
không những ở trong nước mà được lan rộng ra nước ngoài như ở Mỹ, Úc ,  
Canada... Không những thế, trong bài tham luận này cũng nêu một số đặc  
điểm của Hệ phái Khất sĩ trong đó nhấn mạnh việc Tổ sư Minh Đăng Quang  
đã dung hòa được hai tư tưởng chính của Phật giáo đó là Nam truyền và Bắc  
truyền làm giáo ý chính cho Hệ phái, hình thành nên bộ Chơn Lý và các tăng  
sĩ của Hệ phái dùng phương pháp lấy Giới, Định, Tuệ làm nền tảng tu học  
trên con đường giải thoát.  
Tương tự, Thượng tọa, TS. Thích Đồng Bổn vớiNét thuần Việt ở một hệ  
phái Phật giáo Việt nam đã giới thiệu về sự ra đời của Hệ phái Khất sĩ do Tổ sư  
Minh Đăng Quang sáng lập, với cơ sở giáo lý dựa trên chữ quốc ngữ - tiếng mẹ  
đẻ thuần Việt. Với tâm nguyện đem ánh sáng Phật pháp đến gần với người Việt  
và người dân lao động, nên Tổ sư đã dùng những ngôn từ thuần Việt hay ngôn  
ngữ dân dã, ngôn từ bình dân để giảng dạy. Vì thế khi Đạo Phật Khất sĩ truyền  
bá đến đâu đều được dân chúng ủng hộ và tiếp nhận một cách dễ dàng. Cũng  
như ngôn ngữ viết mà Tổ sư truyền bá là thơ, kệ, văn vần, một thể loại phù hợp  
với dân Nam bộ lúc bấy giờ làm cho dân chúng hiểu dễ hành theo. Về phương  
pháp tu thì hành trì theo hạnh xưa của Phật đắp y mang bát mỗi sáng đi khất  
thực, sống đơn giản. Về kiến trúc cũng khác hẳn với các tông phái hiện có chỉ  
thờ đơn giản một vị Phật Thích Ca, công phu thì tụng hoàn toàn tiếng việt. Cuối  
cùng, tác giả đi đến kết luận: Đây là một Hệ phái thuần Việt.  
Ngoài những công trình kể trên, có một số tác phẩm cùng như những  
bài tham luận, bài nghiên cứu ít nhiều có viết về Hệ phái Khất Sĩ, nhưng hầu  
như ít đề cập đến đặc trưng trong phương pháp tu tập của Hệ phái Khất sĩ do  
Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập; hoặc có chăng đi nữa cũng chỉ khái quát  
một vài nét chung chung mà thôi, nhất là những nội dung cơ bản của phương  
7
pháp hay đường lối tu tập của hệ phái. Vì đây là con đường đưa đến sự bền  
vững lớn mạnh của một tôn giáo nói chung.  
Như trên đã phân tích, tuy là một hệ phái sinh sau ra đời muộn nhưng  
Hệ phái Đạo Phật Khất sĩ đã có những đóng góp cho Phật giáo Việt Nam và  
hành giả hành trì có được sự an lạc nhất định, xây dựng niềm tin vững chắc  
trong lòng dân, có những phương pháp tu tập rõ ràng và nhất là đây lại là một  
hệ phái mang tính thuần Việt. Vì vậy, Đạo Phật khất sĩ khi xuất hiện đã được  
dân chúng tiếp nhận hưởng ứng một cách rộng rãi lan xa.  
Vì những lý do trên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung  
bổ khuyết cho những nghiên cứu trước đó về Hệ phái bằng cách phân tích, chỉ  
ra đặc trưng tu tậpcủa Hệ phái Khất sĩ và trên cơ sở đó chỉ ra phương pháp tu  
tập chính là nền tảng căn bản để giúp cho người thực hành theo được trở về  
vơi bản tánh Phật hiện hữu trong mỗi con người cũng như thanh tịnh thân  
tâm, xa lánh dần tham, sân, si, đạt được an vui hạnh phúc ngay trong hiện tại.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
*Mục đích nghiên cứu của luận văn  
Làm rõ đặc trưng tu tập của hệ phái Khất sĩ do Tổ sư Minh Đăng  
Quang khởi lập từ thời kỳ đầu cho đến hiện nay.  
*Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Làm rõ sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ  
- Làm rõ một số nét đặc trưng cơ bản trong đường lối tu tập của Hệ  
phái Khất sĩ  
- Làm rõ những thành quả của phương pháp tu tập của Hệ phái Khất sĩ.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu:  
Đặc trưng cơ bản trong đường lối tu tập của Hệ phái Khất sĩ  
- Phạm vi nghiên cứu:  
8
Luận văn tập trung vào nội dung đường lối tu tập của Hệ phái Khất sĩ  
giới hạn khảo sát ở một số Tịnh xá tại TP.HCM và vùng lân cận như:  
Tịnh xá Trung Tâm quận Bình Thạnh.  
Pháp viện Minh Đăng Quang  
Tịnh xá Ngọc Phương, quận Gò Vấp  
Tịnh xá Ngọc Phú, quận Tân Bình  
Tịnh xá Ngọc Bình Dĩ An Bình Dương.  
Và một số Tịnh Xá ở Miền Tây.  
Mốc thời gian được tính từ thời kỳ Tổ sư Đăng Minh Quang đề ra cho  
đến nay.  
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp luận  
Luận văn sẽ vận dụng Lý thuyết thực thể tôn giáo trong việc nghiên  
cứu về Hệ phái Khất sĩ dựa trên căn cứ: Niềm tin, thực hành, cộng đồng.  
Niềm tin này được thể hiện qua Thân giáo, Khẩu giáo của Tổ sư y cứ trong  
kinh, luật của Phật dạy và hiển hiện trong hành trì khất thực cho tín đồ biến  
bố thí cúng dường, hay Giới – Định – Tuệ tu tập chính, cũng như đưa ra  
phương pháp dễ thực hành, tạo nên cộng đồng lớn, đáp ứng được nhu cầu tâm  
linh thời bấy giờ và vận dụng vào trong các thời khóa hành trì tu tập của Tăng  
Ni, tín đồ tu theo hệ phái.  
Ngoài ra luận văn còn áp dụng Lý thuyết cấu trúc- chức năng để hiểu  
được phương thức tu tập có chức năng vai trò quan trọng trong việc hành trì,  
để đạt được an lạc, cũng như giúp cho chúng ta thấy được các mối tương quan  
qua lại trong tu tập và duy trì được những đặc thù của hệ phái Khất sĩ.  
-Phương pháp nghiên cứu  
Với đề tài nghiên cứu theo thực thể tôn giáo, người viết sử dụng các  
phương pháp sau đây:  
- Phương pháp lịch sử và thống kê: Giới thiệu lịch sử hình thành và  
9
phát triển của hệ phái Khất sĩ, cũng như thống kê một số phương pháp tu tập,  
những nền tảng cơ bản giáo lý và phương pháp hành trì của hệ phái Khất sĩ.  
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu chương 1 và 2.  
- Phương pháp khảo sát thực địa:  
+ Quan sát tham dự: chúng tôi sẽ tham gia trực tiếp vào những thời  
khóa tu tập để nắm bắt ghi chép tư liệu cho luận văn.  
- Phỏng vấn sâu: chúng tôi sẽ có câu hỏi dược chuẩn bị trước để phỏng  
vấn chư Tăng, Ni và một số tín đồ tu theo hệ phái Khất sĩ để dựa vào đó làm  
căn cư khách quan cho đề tài của mình mà có sự đánh giá nhận xét. Cũng như  
phỏng vấn nhóm, chụp hình, ghi âm.  
- Thu thập và xử lý tài liệu, số liệu, hình ảnh: Người viết sẽ hệ thống  
hóa toàn bộ các tư liệu thu thập được để sử dụng trong đề tài của mình.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn  
- Luận văn góp phần làm rõ về phương pháp tu tập của hệ phái Khất sĩ  
do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng tại Việt Nam. Với mong muốn cho tất  
cả người đệ tử Phật ở Việt Nam nói riêng hay phật tử trên toàn cầu nói chung  
có phương pháp tu tập đễ hành tùy theo căn cơ trình độ của mình để tu tập.  
- Luận văn góp phần khẳng định hiệu quả của phương pháp tu tập của  
Hệ phái Khất sĩ đối với người hành trì.  
- Luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho những công trình  
nghiên cứu sâu hơn về Hệ phái Khất sĩ.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung  
luận văn gồm 3 chương cụ thể:  
Chương 1: Sự hình thành và phát triển của hệ phái Khất sĩ  
Chương 2: Đặc trưng tu tập của Hệ phái Khất sĩ  
Chương 3:Một số thành quả của phương pháp tu tập  
10  
Chương 1  
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ  
1.1. Khái quát tiểu sử Tổ sư Minh Đăng Quang  
1.1.1. Giai đoạn trước khi xuất gia  
Bất cứ một tổ chức nào hay tôn giáo nào muốn hoạt động tốt, duy trì  
bền chắc lâu dài cũng đều có một phương pháp, một kế hoạch,một đường lối  
tu tập riêng để đưa tôn giáo của mình hoạt động xuyên suốt, phát triển vững  
mạnh, duy trì phát triển hơn. Hệ phái khất sĩ cũng không ngoại lệ.  
“Đạo Phật Khất sĩ” là một tôn giáo còn non trẻ và thuần Việt được khai  
sinh ra do Tổ sư Minh Đăng Quangsáng lập ra trong bối cảnh đất nước trong  
thời kỳ đô hộ kiềm kẹp của thực dân Pháp.Phật giáo trong giai đoạn này chịu  
ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thực trạng đạo đức xã hội xuống cấp; việc tu học bê tha  
trì trệ, đời sống tu sĩ nghiêng về cúng tụng cầu xin, xem xăm bói quẻ, biến các tự  
viện thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng dân gian và có tính sở hữu riêng tư, tu sĩ  
không sống đời sống độc thân mà sống đời sống gia đình, không lo trau giồi đạo  
hạnh, nghiêm trì giới luật làm mất niềm tin nơi tín đồ Phật tử...  
Trước thực trạng như vậy,cùng chung với sự bùng nổ sự chấn hưng  
Phật giáo của thế giới, vì vậy chư tôn Hòa thượng đã khởi xướng phong trào  
chấn hưng Phật giáo tại Việt nam, kêu gọi toàn thể Tăng ni đứng lên chấn  
chỉnh lại đường lối tu tập, tự thân nổ lực kết nối đoàn kết tăng ni hành trì giới  
luật,tạo dựng niềm tin trong cộng đồng xã hội thời bấy giờ.  
Trên tinh thần ấy Tổ sư Minh Đăng Quang đã kêu gọi Tăng đồ hãy  
mạnh dạn cùng chung tay với Ngài để chấn chỉnh lại nền Phật giáo nước nhà.  
Theo Tổ sư Minh Đăng Quang, việc chấn hưng Phật giáo phải được thực hành  
trong từng cá nhân của tu sĩ Tăng ni không phải là hô hào suông. Tự thân của  
mỗi tu sĩ phải ý thức nỗ lực, phải biết bổn phận trách nhiệm của mình với đạo  
pháp và dân tộc, phải đứng lên kề vai sát cánh,góp sức cùng chư Tôn Hòa  
     
11  
Thượng chấn hưng Phật giáo nước nhà, mà muốn như vậy thì tự thân của mỗi  
tu sĩ phải thực hiện gương mẫu trước, phải hành trì Giới, Định,Tuệ, phải thực  
hiện nếp sống lục hòa, hành trì Tứ y pháp.  
Trong Chơn lý bài “Tông giáo” Tổ sư có viết: “ Tăng chúng phải đủ  
giới luật để quy hợp cư gia, để gắn liền tông giáo, hầu vẹt bóng mê tín, đem  
cõi đời trở lại ban ngày y như Phật hồi xưa trước kia”... “ hãy nghĩ đến Đạo,  
đến Phật, đến chúng sanh... phải nâng cao giới luật, đó mới là phận sự của  
Tăng bảo... thì tạo nấc thang cho người lên, phải chỉ bờ mé cho người đến,  
phải sắm tàu ghe với người nguy, đó mới là phận sự chánh của Tăng  
già...Thật vậy, chỉ có Tăng chúng mới lập đạo đặng”[21, tr.63].  
Đứng trước hoàn cảnh của đất nước và đạo pháp như vậy, Tổ sư quyết  
tâm thực hành và lập chí nguyện “nối truyền Thích Ca chánh pháp” cũng như  
khuyến hóa tu sĩ thực hiện những gì mà Đức Phật đã dạy,khôi phục nếp sống  
Tăng đoàn xưa.  
Trong bối cảnh đó, “Đạo Phật Khất Sĩ” đã xuất hiện ở Miền nam Việt  
nam do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng và hành theo “Y bát chơn truyền”  
sống đời sống du phương rầy đây mai đó không trụ một chỗ, không bị vướng  
vào một nơi, đi khắp nơi, lấy mọi nơi làm nhà bất cứ nơi đâu gốc cây, nghĩa  
địa, hàng sạp ở chợ làm nơi trú thân để hóa độ chúng sanh. Ngài cho rằng:  
“Đạo Phật là con đường đi đến quả Phật giác chơn. Con đường ấy là Khất sĩ.  
Họ của chư Phật ba đời là Khất sĩ. Khất sĩ là lẽ thật của chúng sanh, mục đích  
của chúng sanh. Khất sĩ là đến với giác chơn, toàn học biết sáng tự nhiên mê  
lầm vọng động” [21, tr.63].  
Tổ sưđã chắt lọc tinh hoa kết hợp bởi hai luồng tư tưởng chính là Bắc  
truyền và Nam Truyềnđể tạo nên “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam”. Vì vậy về  
mặthình thức thì Ngài đắp y, mang bát trì bình khất thực là đặc trưng của Nam  
truyền, về đường lối hành trì Ngài thọ giới, Ngài thọ giữ 250 giới của Bắc  
12  
truyền, còn phương pháp tu tập thì Ngài dung hợp cả hai tư tưởng đúc kết  
thành cái của riêng mình. Trong bộChơn Lý Ngài giải thích rất nhiều về kinh  
điển Đại thừa cũng như kinh điển hệ Nikaya,và trong phương pháp hành thiền  
Ngài đã kết hợp cả hai tư tưởng tạo nên phương pháp riêng cho hệ phái cho  
nên“Hệ phái khất sĩ” được thành lập trong thời Phật giáo Việt Nam đã xuống  
cấp trầm trong về đạo đức làm mất niềm tin nơi dân chúng thời bấy giờ. Cho  
nên với hạnh nguyện đem đạo vào đời ngõ hầu làm lợi ích cho chúng sanh. Với  
tâm nguyện“Nối truyền Thích Ca chánh pháp”.Có thể nói, đây là Hệ phái sanh  
sau ra đời muộn, nhưng mang tính việt hóa từ hình thức cho đến nghi lễ và tu  
tậpnên đã được người dân miền Tây Nam Bộ nói riêng và người dân Việt Nam  
nói chung đón nhận một cách hoan hỷ nồng hậu (cũng bởi người dân cảm nhận  
đây là một Tôn giáo dành riêng cho người Việt).  
Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang, tên thật là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý  
Hườn. Sanh tại Làng Phú Hậu, Tổng Bình Phú, quận Tam Bình, Tỉnh Vĩnh  
Long, nơi được gọi là địa linh nhân kiệt. Thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn  
Tồn Hiếu, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Tỵ (tự Nhàn). Cụ ông và cụ bà đều là  
người phúc đức, nhân hậu sống theo đạo thánh hiền, thực hành câu: “ nhân-  
nghĩa- lễ- trí- tín”, được người đời khen tặng là gia đình “ Nho phong tiết  
thái”. Cụ ông và cụ bà có năm người con, Ngài là con út trong gia đình. Trước  
Ngài có bốn anh chị, cụ bà sanh nở bình thường, riêng Ngài cụ bà thọ thánh  
thai đến mười hai tháng mới khai hoa. [22, tr.12].  
Ngài chào đời vào ngày Tân Tỵ, lúc 10 giờ tối, ngày 26 tháng 9 năm  
Qúy Hợi(1923). Đến ngày 25 tháng 07 năm Giáp Tý (1924) thân mẫu Ngài  
qua đời, hưởng dương 32 tuổi, lúc đó Ngài vừa tròn mười tháng tuổi. Ngài  
được cô (cô út) đem về nuôi 1 tháng, sau đó được bác dâu thứ 8 đem về nuôi  
một tuần, rồi Ngài được gởi về quê ngoại. Bà ngoại Ngài nuôi đến ba tuổi.  
Năm ấy thân phụ Ngài tục quyền là cụ bà Hà Thị Song dưỡng nuôi. Từ đó,  
13  
Ngài được sống trong vòng tay ấm áp của cha và kế mẫu. Cụ ông mất vào  
ngày mồng 5 tháng giêng năm mậu thân (1968) thọ 75 tuổi.  
Tuy được sanh trưởng ởlàng quê, nhưng tính cách của Ngài khác  
thường hơn so với các bạn đồng trang lứa. Ngài thể hiện phong cách đi đứng  
ngồi nằm, ăn mặc v.v... đều toát lên vẽ trang nghiêm điềm đạm. Tuy Ngài còn  
nhỏ nhưng thể hiện lòng từ bi rất rõ, như khi được thân phụ cho tiền đi xe  
ngựa thì Ngài đi bộ, khi hỏi ra mới biết là Ngài luôn nghĩ xót xa cho chú ngựa  
và dùng tiền đó giúp đỡ người khác. Hay khi ở trường lớp thì Ngài luôn chia  
sẽ dụng cụ học tập cho các bạn nghèo trong lớp, hay thường giảng lại bài cho  
các bạn chưa hiểu. Ngoài việc học ở trường, Ngài có trí thông minh khác  
thường như sau khi về nhà Ngài thường đọc lịch sử các danh nhân và kinh  
sám, truyện, sự tích. Đặc biệt đọc đến đâu Ngài nhớ đến đó, và luận giải, phê  
phán có phương pháp rõ ràng.  
Năm 14 tuổi Ngài đỗ bằng Diploma (bằng Cao đẳng). Ngoài giờ học ở  
trường, Ngài thường phụ giúp việc nhà. Ngài luôn thể hiện lòng hiếu kính đối  
với cha mẹ, hòa đồng với mọi người. Ngài theo cha từ nhỏ, đốt hương cúng  
Phật vào mỗi tối. Ngài rất siêng năng nghiên cứu tìm hiểu tường tận sách vở  
giáo lý Đạo Phật. Ngài luôn ghi chép các sử liệu tôn giáo, nhất là Tam giáo  
Thích, Đạo, Nho. Vốn sẵn có tuệ căn, Ngài thường tìm đến các bậc thức giả  
trưởng thượng thời bấy giờ để tham vấn đạo lý. Nhờ vậy, mỗi khi tiếp chuyện  
với những người thiện duyên, Ngài đều lý giải một cách tinh tường và được  
mọi người khâm phục.  
1.1.2.Thời kỳ xuất gia tầm đạo  
Vốn sẵn có căn duyên với Phật pháp, Ngài xin phép thân phụ qua chùa  
Tháp tầm sư học đạo, nhưng thân phụ Ngài quá thương con còn thơ bé nên  
không cho. Qua nhiều đêm suy nghĩ, không thể vì tình cảm riêng tư nhỏ bé  
mà bỏ chí nguyện, nên Ngài quyết chí ra đi.  
14  
Thôi thì thôi, thế thì thôi  
Vẹn nguyền xin chịu lỗi nghì với cha  
Thiếu niên ngày nọ lìa nhà  
Vượt biên giới việt, niên xa dặm ngàn  
Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành  
Ngài rời Việt Nam, đến Campuchia năm 15 tuổi, thọ giáo với ông Lục  
Tà Keo, người mà cha Ngài đã quy y, nên cha Ngài đã gởi gắm. Chính nơi vị  
Thầy đầu tiên này, Ngài đã trải qua thử thách cam go như đào giếng, lấp ao,  
trông coi vườn rẫy, quản lý công nhân các cơ sở sản xuất lò vôi, buôn bán và  
được ông tin tưởng và giao hết tài sản cho Ngài quản lý. Cũng vì vậy mà Ngài  
thấu hiểu được duyên đến duyên đi. Tính chất tạm bợ giả hợp của vật chất, và  
Ngài nhận ra rằng hạnh nghiệp tại gia vừa làm vừa tu giúp đời không phù hợp  
với tâm nguyện xuất trần của mình. Nên Ngài xin phép Thầy trở về việt nam.  
Trở về gặp lúc loạn lạc chiến tranh (Pháp, Nhật thôn tính Việt Nam),  
Ngài ở với thân phụ một thời gian, Ngài lên Sài Gòn làm nhà hàng của người  
Nhật, và sau đó được người quen giới thiệu đến làm cho một hãng buôn lớn ở  
vùng chợ lớn và được chủ hãng buôn gã con gái của ông là Liễu Kim Huê.  
Một thời gian sau Kim Huê sanh một bé gái đặt tên là Kim Liên. Vừa tròn  
một tháng tuổi thì Kim Huê lâm trọng bệnh và qua đời.  
Bấy giờ Ngài nghĩ việc đem con về ông bà Nội, nhờ chị thứ 3 ở Vĩnh  
Long nuôi dưỡng dùm. Nuôi đến 2 tuổi, ông cụ đem cháu về nuôi được vài  
tháng thì Kim Liên ngã bệnh rồi ra đi (chết).  
Gẫm trong trời đất vô cùng  
Nợ duyên âu cũng nghiệp chung muôn loài  
Hay là ý thánh Như Lai  
Muốn cho ôn lại trọn bài đau thương?  
Đau thương là tính vô thường  
15  
Vô thường là tính đoạn trường xưa nay.  
Đây là những bài học đã làm thức tỉnh chí nguyện xuất gia tìm cầu giải  
thoát trong Ngài. Với hạnh nguyện ấy Ngài nhận ra rằng con đường tìm cầu  
thoát khổ đến bến giác không thể không xuất gia như Chư Phật Tổ xưa. Phải  
xa lìa gia đình, vật chất giả tạm, thoát khỏi sợi dây tham ái của gia đình thì  
mới mong có hạnh phúc cho số đông.  
Ngài quyết chí ra đi (vào năm 1944). Rời khỏi Vĩnh Long vào núi Thất  
Sơn (Châu Đốc), đi sâu vào trong hang ẩn tu để dễ bề nghiên cứu về phương  
pháp tu học của hai tông phái Bắc Truyền và Nam Truyền. Sau đó, Ngài  
xuống núi qua đất Hà Tiên định đón thuyền ra Phú Quốc để đi phương xa  
nhưng bị trễ thuyền, Ngài tìm nơi yên tĩnh để tọa thiền. Suốt 7 ngày đêm quán  
chiếu, vào một buổi chiều, Ngài quan sát những chiếc thuyền đánh cá bập  
bềnh trên mặt nước với gợn sóng biển dồn dập tụ tán, Ngài đã chứng ngộ lý  
vô thường, khổ, vô ngã. Nhận biết được sự hợp tan của vạn vật, và thấy được  
cảnh khổ trầm luân của một kiếp người. Ngài tỏ sáng lý pháp “thuyền Bát  
Nhã”. Vào ngày rằm tháng 2 âm lịch 1944, năm đó Ngài tròn 22 tuổi.  
Sau khi đạt đạo Ngài trở về nhà thăm và từ giả gia đình đến núi Tà  
Lơnvà thất Sơn để tu học. Ở đây Ngài được một nữ cư sĩ mời về Linh Bửu Tự  
ở làng Phú Mỹ, tĩnh Mỹ Tho. Tại đây Ngài đối trước Tam Bảo tại Linh Bửu  
Tự 7 ngày đêm thu nhiếp tam nghiệp, phát đại nguyện thọ nhận y bát giới Sa  
Di, rồi cụ túc Tỳ Kheo 250 giới với pháp hiệu Minh Đăng Quang. Ngài phát  
nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp”, noi gương Phật xưa sống đời  
phạm hạnh giải thoát [23, tr.14].  
Năm 1946 Ngài rời chùa Linh Bửu về trú tại nhà ông Võ Văn Nhu ở  
làng Phú Mỹ và bắt đầu truyền đạo cho dân chúng nơi ấy. Bài pháp đầu tiên là  
“Thuyền Bát Nhã”. Vào ngày rằm tháng tư ngày nay là Tịnh Xá Mộc Chơn.  
Năm 1947, Ngài bắt đầu thu nhận đệ tử và thành lập đoàn du tăng khất  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 95 trang yennguyen 16740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Một số đặc trưng tu tập của hệ phái Khất Sĩ Từ khởi nguyên cho đến nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_mot_so_dac_trung_tu_tap_cua_he_phai_khat_si_tu_khoi.pdf