Luận văn Đánh giá việc thực hiện quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
CHU VĂN THÁI  
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN SỬ DỤNG  
ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN  
HUYỆN YÊN DŨNG – TỈNH BẮC GIANG  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI  
HÀ NỘI - 2018  
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
CHU VĂN THÁI  
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN SỬ DỤNG  
ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN  
HUYỆN YÊN DŨNG – TỈNH BẮC GIANG  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI  
Mã số: 8 85 01 03  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐÀO ĐỨC MẪN  
HÀ NỘI - 2018  
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
Cán bộ hướng dẫn chính: TS. Đào Đức Mẫn  
Cán bộ chấm phản biện 1: TS. Nguyễn Văn Trị  
Cán bộ chấm phản biện 2: TS. Vũ Thị Thanh Thủy  
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:  
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
Ngày 15 tháng 9 năm 2018.  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan  
Tôi xin cam đoan rằng những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn  
toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và  
pháp luật Việt Nam. Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.  
Hà Nội, ngày … tháng... năm 2018  
Tác giả luận văn  
Chu Văn Thái  
i
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận  
được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ của bạn bè,  
đồng nghiệp, bà con lối xóm và đặc biệt là gia đình luôn bên cạnh cổ vũ và động  
viên cho tôi.  
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và  
biết ơn sâu sắc TS. Đào Đức Mẫn đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời  
gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu Nhà Trường, Khoa  
Quản lý đất đai – Trường Đại Học Tài Nguyên Và Môi Trường Hà Nội đã tận tình  
giúp đỡ chỉ bảo tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Ủy ban nhân dân  
huyện Yên Dũng, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Dũng, chi nhánh  
Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Yên Dũng, Chi cục Thuế huyện Yên Dũng,  
Phòng Thống kê huyện Yên Dũng, cán bộ địa chính và nhân dân của các xã điều tra,  
nghiên cứu đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp các bạn học  
viên cùng lớp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên  
khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Hà Nội, ngày…tháng… năm 2018  
Tác giả luận văn  
Chu Văn Thái  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
v
vi  
THÔNG TIN LUẬN VĂN  
Họ và tên học viên: Chu Văn Thái  
Lớp: CH2B.QĐ  
Khóa: Cao học 2  
Cán bộ hướng dẫn: TS. Đào Đức Mẫn  
Tên đề tài: Đánh giá việc thực hiện quyền sử dụng đất của hộ gia đình,  
cá nhân trên địa bàn huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang  
Thông tin luận văn  
1. Huyện Yên Dũng nằm gần trung tâm Tp. Bắc Giang. Là một vị thuận lợi  
trong giao lưu kinh tế văn hóa xã hội, thu hút vốn đầu.  
2. Công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện cơ bản được thực  
hiện theo đúng quy định của Luật và những văn bản hướng dẫn thi hành luật. Điều  
đó đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để người sử dụng đất thực hiện các QSDĐ  
của mình.Cho thấy công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện ngày càng hoàn thiện  
và chặt chẽ.  
3. Trong giai đoạn 2014 - 2017 với tổng số trường hợp thực hiện QSDĐ là  
9696 trường hợp trong đó gồm: 2.914 trường hợp chuyển nhượng QSDĐ; 2.104  
trường hợp thừa kế QSDĐ; 2.226 trường hợp tặng cho QSDĐ; 2.452 trường hợp thế  
chấp QSDĐ.  
4. Số giao dịch chuyển QSDĐ trên địa bàn huyện diễn ra sôi động, thường  
xuyên và tập trung chủ yếu ở một số xã trung tâm và thị trấn. Bên cạnh những  
trường hợp chuyển QSDĐ đã đăng ký với cơ quan nhà nước còn tồn tại một số giao  
dịch chuyển quyền chưa chủ động thực hiện đăng ký với cơ quan Nhà nước, đặc  
biệt là quyền thừa kế.  
5. Qua kết quả nghiên cứu tại 2 xã và 1 thị trấn đề tài đề xuất được 5 nhóm  
giải pháp để hoàn thiện cơ chế chính sách và thúc đẩy người dân thực hiện tốt trách  
nhiệm và nghĩa vụ khi thực hiện quyền QSDĐ.  
 
vii  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
GCNQSDĐ  
BTNMT  
CT  
Chữ viết đầy đủ  
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  
Bộ Tài nguyên Môi trường  
Chỉ thị  
CP  
Chính phủ  
CV  
Công Văn  
NĐ  
Nghị định  
QĐ  
Quyết định  
TCĐC  
TT  
Tổng Cục Địa Chính  
Thông tư  
TTg  
Thủ tướng chính phủ  
Trung ương  
TW  
UBND  
VPĐKĐĐ  
CHXHCN  
HĐND  
UBMTTQ  
QSDĐ  
CNH-HĐH  
STT  
Ủy ban nhân dân  
Văn phòng đăng ký đất đai  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Hội đồng nhân dân  
Uỷ ban mặt trận tổ quốc  
Quyền sử dụng đất  
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa  
Số thứ tự  
 
viii  
DANH MỤC BẢNG  
 
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt. Ở  
Việt Nam, Nhà nước là đại diện cho nhân dân thực hiện quyền của chủ sở hữu trong  
việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt toàn bộ đất đai trên lãnh thổ. Nhà nước giao  
quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và ban hành các quy định  
cụ thể để các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân dễ dàng thực hiện các quyền và nghĩa vụ  
của người sử dụng đất. Hiến pháp năm 2013 quy định: Đất đai là lãnh thổ thiêng  
liêng của quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, nguồn lực quan trọng phát triển đất  
nước. Vì vậy, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã được  
xác định từ năm 1980 đến nay là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại  
diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.  
Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, hệ thống Pháp luật đất đai ở nước ta  
không ngừng hoàn thiện, trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, nhà nước đã  
giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài với 3 hình thức:  
giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền và cho thuê đất. Quyền của người sử dụng  
đã từng bước mở rộng từ 5 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế  
chấp quyền sử dụng đất [14], đến 9 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho  
thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng quyền sử dụng đất [16]  
và 8 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế  
chấp và góp vốn bằng quyền sử dụng đất [19]. Quyền sử dụng đất được xác định đã tạo  
điều kiện cho người sử dụng đất an tâm đầu tư vào đất đai, đẩy mạnh sản xuất, góp  
phần đẩy mạnh thực hiện CNH - HĐH đất nước. Luật Đất đai có những quy định về  
giao QSDĐ cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng và có những quy định để  
các tổ chức, cá nhân sử dụng đất, dễ dàng thực hiện các QSDĐ. Tuy nhiên các quy  
định pháp luật về thủ tục hành chính liên quan đến thực hiện các quyền sử dụng đất,  
trình độ cán bộ, công chức, cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ quan quản lý Nhà nước  
liên quan đến việc thực hiện các quyền sử dụng đất vẫn còn nhiều bất cập:  
GCNQSDĐ là điều kiện cần thiết cho hoạt động của thị trường QSDĐ, nhưng việc  
   
2
cấp GCNQSDĐ còn phức tạp, khiến người dân không thực hiện. Công tác bồi  
thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho việc xây dựng  
cơ sở hạ tầng, trụ sở cơ quan, đường, trường học, bệnh viện,... còn nhiều bất cập,  
giải phóng mặt bằng còn chậm trễ, cản trở tiến độ đầu tư của các công trình,... mà  
nguyên nhân chủ yếu là giá đất do Nhà nước quy định thấp hơn giá thị trường. Đến  
nay tình hình thực hiện các QSDĐ ở các địa phương vẫn còn nhiều bất cập cần giải  
quyết đó là hiện tượng chuyển dịch QSDĐ và chuyển đổi mục đích sử dụng trong  
nông nghiệp diễn ra tự phát, thị trường giao dịch ngầm về đất đai còn chiếm tỷ lệ  
lớn. Tâm lý người dân mỗi vùng miền có những điểm khác nhau, vùng đồng bằng  
Bắc Bộ mặc dù không còn tham gia trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp nữa nhưng  
người dân vẫn có tâm lý giữ lại đất trong khi đó người dân vùng Tây Nguyên và  
Đồng Bằng Sông Cửu Long lại sẵn sàng bán đất để đi làm thuê cho người khác.  
Vấn đề nông dân không có đất ngày càng tăng.  
Yên Dũng có vị trí tự nhiên thuận lợi cho phát triển và giao lưu kinh tế, văn  
hóa, xã hội cụ thể đó là: Cạnh thành phố Bắc Giang và trên tuyến hành lang kinh tế  
Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng. Với tốc độ đô thị hoá nhanh, giá đất ngày càng  
cao, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đang gặp nhiều khó khăn. Trong giai  
đoạn gần đây huyện Yên Dũng đã chịu tác động rất lớn của quá trình đô thị hoá và  
công nghiệp hoá. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bổ lại đất đai cho các  
nhu cầu phát triển cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu đô thị mới tập trung diễn  
ra rất mạnh. Các hoạt động liên quan đến GCNQSDĐ có xu hướng ngày càng gia  
tăng. Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng thực hiện QSDĐ không đăng ký qua các cơ  
quan quản lý hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định của pháp luật trên địa bàn  
huyện vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Để đánh giá thực trạng việc thực hiện quyền  
của người sử dụng đất nhằm tìm ra những tồn tại và nguyên nhân tại sao để từ đó đề  
xuất giải pháp nhằm đảm bảo quyền của người sử dụng đất cũng như góp phần giúp  
công tác quản lý nhà nước về đất đai được chặt chẽ và tốt hơn. Từ đó tôi tiến hành  
thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá  
nhân trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”.  
3
2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Đánh giá việc thực hiện các quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Yên Dũng  
nhằm tìm ra những tồn tại trong quá trình thực hiện quyền của người sử dụng đất.  
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện đúng, đầy đủ các quyền  
của người sử dụng đất.  
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn  
- Góp phần bổ sung cơ sở khoa học về việc thực hiện quyền sử dụng đất của  
hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn nghiên cứu  
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về quản lý và thực hiện quyền sử dụng  
đất của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn nghiên cứu.  
- Góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai, từ đó thúc đẩy phát  
triển kinh tế xã hội của địa phương.  
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho học viên, sinh  
viên chuyên ngành quản lý đất đai tại các trường đại học và cao đẳng.  
   
4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. Cơ sở lý luận về thực hiện quyền sử dụng đất  
1.1.1. Quyền sở hữu  
Bộ Luật Dân sự, 2015 của nước CHXHCN Việt Nam quy định:  
- Quyền sở hữu: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và  
quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật (Điều 158)  
Quyền sở hữu bao gồm 3 quyền năng:  
- Quyền chiếm hữu: Là quyền của chủ sở hữu nắm giữ, quản lý tài sản thuộc  
sở hữu của mình. Trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật thì người  
không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền sở hữu tài sản.  
- Quyền sử dụng: Là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa  
lợi, lợi tức từ tài sản. Chủ sở hữu có quyền khai thác giá trị tài sản theo ý chí của  
mình bằng cách thức khác nhau. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử  
dụng tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu giao quyền sử dụng, điều này thấy rõ  
trong việc Nhà nước giao QSDĐ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.  
- Quyền định đoạt: Là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài  
sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Chủ sở hữu thực hiện  
quyền định đoạt tài sản của mình theo hai phương thức:  
+ Định đoạt số phận pháp lý của tài sản, tức là chuyển quyền sở hữu tài sản  
của mình cho người khác thông qua hình thức giao dịch dân sự như bán, đổi, tặng  
cho, để thừa kế.  
+ Định đoạt số phận thực tế của tài sản, tức là làm cho tài sản không còn  
trong thực tế.  
1.1.2. Quyền sở hữu toàn dân về đất đai  
Luật đất đai 2013 đã quy định cụ thể hơn về chế độ “Sở hữu đất đai” (Điều  
4), “Quản lý Nhà nước về đất đai” (Điều 22). Với tư cách là đại diện chủ sở hữu  
toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện việc thống nhất quản lý về đất đai trong  
phạm vi cả nước nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng theo đúng quy hoạch, kế  
hoạch sử dụng đất, đảm bảo lợi ích của Nhà nước cũng như người sử dụng. Nhà  
       
5
nước thực hiện đầy đủ các quyền của chủ sở hữu, đó là: quyền chiếm hữu, quyền sử  
dụng và quyền định đoạt.  
1.1.3. Quyền sử dụng đất  
Nhà nước là đại diện cho nhân dân thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất  
đai. Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về đất đai theo quy hoạch,  
kế hoạch và trên cơ sở những quy định của pháp luật. Tuy nhiên, với các quyền  
năng đó, cũng không được hiểu rằng Nhà nước có quyền sở hữu về đất đai mà chỉ là  
đại diện cho toàn dân thực hiện quyền sở hữu đó trên thực tế. “Quyền sử dụng đất”  
là một khái niệm có tính sáng tạo đặc biệt của các nhà luật pháp Việt Nam. Trong  
Luật Đất đai năm 1993 đã xuất hiện khái niệm “quyền sử dụng đất” và “người sử  
dụng đất”, hay nói cách khác là QSDĐ của người sử dụng.  
Nội dung QSDĐ của người sử dụng đất bao gồm các quyền năng luật định:  
Quyền chiếm hữu (thể hiện quyền được cấp GCNQSDĐ, quyền được pháp luật bảo  
vệ khi bị người khác xâm phạm); quyền sử dụng (thể hiện ở quyền khai thác lợi ích  
của đất và được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao) và  
một số quyền năng đặc biệt khác tùy thuộc vào từng thể loại chủ thể và từng loại đất  
sử dụng. Tuy nhiên, nội dung QSDĐ được thể hiện có khác nhau tùy thuộc vào  
người sử dụng là ai, sử dụng loại đất gì và được Nhà nước giao đất hay cho thuê  
đất. QSDĐ của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất bao gồm:  
“Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho  
QSDĐ; quyền thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; quyền được bồi thường khi Nhà nước  
thu hồi đất” (Điều 166, 167 Luật đất đai 2013).  
1.1.4. Chuyển quyền sử dụng đất  
a. Khái niệm chuyển quyền sử dụng đất  
Chuyển quyền sử dụng đất là việc xóa bỏ QSDĐ của chủ thể sử dụng và xác  
lập QSDĐ cho người khác theo quy định của pháp luật thông qua các hình thức  
chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc góp vốn  
bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới.  
Với tư cách là chủ sở hữu đất đai trên phạm vi cả nước, Nhà nước thực hiện  
   
6
quyền của chủ sở hữu đối với đất đai với 3 quyền năng của chủ sở hữu đó là quyền  
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Nhưng trên thực tế, Nhà nước không  
trực tiếp sử dụng đất mà giao đất cho các tổ chức, các chủ sử dụng, đồng thời quy định  
quyền và nghĩa vụ trong quá trình sử dụng đất của Nhà nước. Các tổ chức, hộ gia đình,  
cá nhân chỉ được sử dụng đất trong phạm vi Nhà nước cho phép.  
Để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất và tạo điều kiện cho các quan  
hệ dân sự về đất đai được lưu thông phù hợp với cơ chế thị trường Nhà nước cho  
phép các chủ thể được chuyển quyền sử dụng đất thông qua hình thức: Chuyển đổi,  
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp QSDĐ  
Chuyển quyền sử dụng đất về bản chất là giao dịch dân sự, nhằm làm phát  
sinh, thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong các giao dịch đó.  
Theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Luật đất đai năm 2013: “Chuyển quyền  
sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác  
thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và góp vốn  
quyền sử dụng đất”  
b. Nguyên tắc chuyển quyền sử dụng đất  
Khắc phục nhược điểm trong quy định về chuyển quyền sử dụng đất của Bộ  
luật Dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ quy định về các giao dịch  
chuyển quyền sử dụng đất với tư cách là các giao dịch dân sự, không quy định cụ thể  
trình tự, thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, điều kiện chuyển quyền sử dụng đất. Các  
quy định này được Luật đất đai hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành điều  
chỉnh. Trên tinh thần đó, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định các nguyên tắc cơ bản để  
thực hiện giao dịch chuyển quyền sử dụng đất như sau:  
- Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác sử dụng đất được pháp luật  
cho phép chuyển quyền sử dụng đất mới có quyền chuyển quyền sử dụng đất [19]  
- Khi chuyển quyền sử dụng đất, các bên có quyền thoả thuận về nội dung  
của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất nhưng phải phù hợp với quy định của Bộ  
luật này và pháp luật về đất đai [18].  
- Bên nhận chuyển quyền sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng  
7
thời hạn ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phù hợp với quy hoạch, kế  
hoạch sử dụng đất ở địa phương tại thời điểm chuyển quyền sử dụng đất [18].  
c. Các hình thức chuyển quyền sử dụng đất  
Quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao  
đất bao gồm: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,  
tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; quyền được bồi  
thường khi Nhà nước thu hồi đất ” (Điều 167 Luật Đất đai 2013). Đây không phải là  
quyền sở hữu nhưng là một quyền năng khá rộng và so với quyền sở hữu thì không  
khác nhau là mấy nếu xét trên phương diện thực tế sử dụng đất. Mặt khác Nhà nước  
giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước  
chỉ thu hồi đất vì những lý do đặc biệt, đáp ứng lợi ích quốc gia và công cộng, hết  
thời hạn giao đất không có nghĩa là Nhà nước thu hồi đất mà Nhà nước sẽ tiếp tục  
giao đất cho người sử dụng đất. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước sẽ  
giao đất khác cho người sử dụng hoặc sẽ “đền bù” [14], “bồi thường” [19].  
Như vậy, trên thực tế người được giao quyền sử dụng các loại đất này thực  
hiện các quyền chiếm hữu và sử dụng tương đối toàn diện, còn quyền định đoạt tuy  
có hạn chế trong một số quyền năng cụ thể, song đó chỉ là trên phương diện lý  
thuyết xét trên góc độ pháp lý còn trên thực tế các quyền chuyển đổi, chuyển  
nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ cũng rất gần với khái niệm quyền định  
đoạt. Sau đây là nội dung của từng quyền:  
- Chuyển đổi QSDĐ: Là hành vi chuyển QSDĐ trong các trường hợp:  
nông dân cùng một địa phương (cùng 1 xã, thị trấn) đổi đất (nông nghiệp, lâm  
nghiệp, làm muối, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản) cho nhau để tổ chức lại  
sản xuất, hợp thửa, chỉnh trang đồng ruộng, tiện canh tiện cư hoặc khắc phục sự  
manh mún khi phân phối đất đai công bằng theo kiểu “có tốt, có xấu, có gần, có  
xa”; những người có đất ở trong cùng một địa phương (cùng 1 xã, thị trấn) có  
cùng nguyện vọng thay đổi chỗ ở. Việc chuyển đổi QSDĐ là không có mục đích  
thương mại [6].  
- Chuyển nhượng QSDĐ: Là hành vi chuyển QSDĐ, trong trường hợp  
người sử dụng đất chuyển đi nơi khác, chuyển sang làm nghề khác, không có khả  
8
năng sử dụng hoặc để thực hiện quy hoạch sử dụng đất mà pháp luật cho phép,...  
Trong trường hợp này, người nhận đất phải trả cho người chuyển QSDĐ một khoản  
tiền tương ứng với mọi chi phí họ phải bỏ ra để có được quyền sử dụng đó và số  
đầu tư làm tăng giá trị đất đai. Đặc thù của việc chuyển nhượng QSDĐ là ở chỗ:  
đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân và việc chuyển quyền chỉ thực hiện trong giới  
hạn của thời gian giao đất; Nhà nước có quyền điều tiết phần địa tô chênh lệch  
thông qua việc thu thuế chuyển QSDĐ, thuế sử dụng đất và tiền sử dụng đất; Nhà  
nước có thể quy định một số trường hợp không được chuyển QSDĐ; mọi trường  
hợp chuyển nhượng QSDĐ đều phải đăng ký biến động về đất đai, nếu không sẽ bị  
xem là hành vi phạm pháp pháp luật [6].  
- Cho, tặng, thừa kế QSDĐ: Là hành vi chuyển QSDĐ trong tình huống đặc  
biệt, người nhận QSDĐ không phải trả tiền nhưng có thể phải nộp thuế. Do nhu  
cầu của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội, việc chuyển  
QSDĐ không chỉ dừng lại trong quan hệ dân sự mà có thể phát triển thành các quan  
hệ thương mại, dịch vụ; giá trị chuyển nhượng QSDĐ chiếm một tỉ trọng rất có ý  
nghĩa trong các giao dịch trên thị trường bất động sản [6].  
- Thế chấp QSDĐ: Là một hình thức chuyển QSDĐ trong quan hệ tín dụng.  
Người làm thế chấp vay nợ, lấy đất đai làm vật thế chấp để thi hành trách nhiệm  
vay nợ với người cho vay; đất đai dùng làm vật thế chấp không được chuyển dịch  
vẫn do người thế chấp chiếm hữu sử dụng và dùng nó đảm bảo có một giá trị nhất  
định; khi người thế chấp đến kỳ không thể trả nợ được, người nhận thế chấp có  
quyền đem đất đai phát mại và ưu tiên thanh toán để thu hồi vốn. Thế chấp đất đai là  
cơ sở của thế chấp tài sản trong thị trường bất động sản, trong thế chấp bất động sản  
thì phần lớn giá trị là nằm trong giá trị QSDĐ. Trong trường hợp người vay tiền  
không có QSDĐ để thế chấp thì có thể dùng phương thức bảo lãnh để huy động vốn,  
đó là dựa vào một cá nhân hay tổ chức cam kết dùng QSDĐ của họ để chịu trách  
nhiệm thay cho khoản vay của mình [6].  
- Góp vốn bằng giá trị QSDĐ: Là hành vi mà người có QSDĐ có thể dùng  
đất đai làm cổ phần để tham gia kinh doanh, sản xuất, xây dựng xí nghiệp. Phương  
thức góp vốn bằng QSDĐ là cách phát huy tiềm năng đất đai trong việc điều chỉnh  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 117 trang yennguyen 17220 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Đánh giá việc thực hiện quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_danh_gia_viec_thuc_hien_quyen_su_dung_dat_cua_ho_gi.pdf