Luận văn Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN NHẬT QUÂN  
BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT  
NÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC  
HÀ NỘI- năm 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN NHẬT QUÂN  
BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT  
NÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Ngành  
: Luật kinh tế  
Mã số  
: 838.01.07  
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN MINH ĐỨC  
HÀ NỘI - năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan:  
Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn  
trực tiếp của thầy TS.Trần Minh Đức. Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều  
được trích dẫn rõ ràng, và trung thực, tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa  
điểm công bố.Mọivi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá,tôi xin chịu hoàn toàn  
trách nhiệm.  
Tác giả luận văn  
Trần Nhật Quân  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1  
CHƯƠNG 1. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI  
THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP........................ 7  
1.1. Sự cần thiết phải bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ................. 7  
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi  
đất nông nghiệp.......................................................................................................... 7  
1.3. Cơ cấu của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.... 10  
1.4. Các yêu cầu đối với pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp....................................................................................................................... 11  
1.5. Các yếu tố tác động đến pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp....................................................................................................................... 12  
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ  
NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI  
TỈNH BÌNH ĐỊNH................................................................................................. 15  
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đấtnông  
nghiệp tại tỉnh Bình Định......................................................................................... 15  
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp tại tỉnh Bình Định......................................................................................... 36  
2.3. Đánh giá những kết quả đạt được qua việc áp dụng pháp luật về bồi thường khi  
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp áp dụng tại Bình Định ...................................... 55  
CHƯƠNG 3. NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT  
VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI  
TỈNH BÌNH ĐỊNH................................................................................................. 59  
3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp từ thực tiễn tỉnh Bình Định .......................................................................... 59  
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất  
nông nghiệp từ thực tiễn tỉnh Bình Định ................................................................. 62  
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp từ thực tiễn tỉnh Bình Định .......................................................................... 64  
KẾT LUẬN............................................................................................................. 72  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
STT  
01  
02  
03  
04  
05  
06  
07  
08  
09  
10  
11  
12  
Kí hiệu  
Nguyên nghĩa  
CNH - HĐH  
GCNQSDĐ  
GPMB  
KT  
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  
: Giải phóng mặt bằng  
: Kinh tế  
LĐĐ  
: Luật Đất đai  
MTTQVN  
NN  
: Mặt trận tổ quốc Việt Nam  
: Nông nghiệp  
SDĐ  
: Sử dụng đất  
TLSX  
THĐ  
: Tư liệu sản xuất  
: Thu hồi đất  
UBND  
XH  
: Ủy ban nhân dân  
: Xã hội  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Số hiệu  
bảng  
2.1.  
Tên bảng  
Trang  
Diện tích phân bố các loại đất của tỉnh Bình Định  
16  
2.2.  
Diện tích, cơ cấu sử dụng đất đaitỉnh Bình Định từ năm 2010 đến 202 17  
2.3.  
Đơn giá đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác năm 2015  
Đơn giá đất trồng cây lâu năm năm 2015  
37  
37  
39  
39  
2.4.  
2.5.  
Thống kê về các dự án từ năm 2012-2016  
2.6.  
Khái quát tiến độ công tác bồi thường GPMB năm 2012-2016  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
Số hiệu  
hình  
2.1  
Tên hình  
Trang  
Tỷ lệ phân bố các loại đất của tỉnh Bình Định  
Tỷ lệ phân bố các loại đất của tỉnh Bình Định  
Tiến độ công tác bồi thường GPMB từ năm 2012 đến 2016 năm  
2012-2016  
16  
39  
40  
2.1  
2.3  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân thì đất  
nông nghiệp đối với người nông dân là nguồn sống, nguồn việc làm. Là điều kiện  
để kiếm kế sinh nhai và là sự tồn tại và duy trì và phát triển sự sống của mỗi người,  
mỗi gia đình. Đất nông nghiệp là tài sản thiêng liêng, quý giá và có giá trị quan  
trọng bậc nhất trong đời sống đối với người nông dân.  
Trong những năm gần đây, thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
đất nước do Đảng ta đề xướng, chúng ta đã và đang triển khai nhiều dự án đầu tư  
xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng, các dự án này đều cần quỹ đất. Việc thu hồi đất  
đã đem lại những kết quả tích cực trong yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần  
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động từ ngành nghề nông, lâm  
nghiệp sang ngành công nghiệp, dịch vụ; các dự án thu hồi đất để xây dựng các  
công trình an sinh xã hội cũng góp phần đảm bảo hơn nữa đời sống của nhân dân.  
Nhà nước, người sử dụng đất và các nhà đầu tư cũng tìm được “tiếng nói” đồng  
thuận. Bởi lẽ, người bị thu hồi đất chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ việc thu hồi đất  
nông nghiệp, họ là người bị mất đất sản xuất nông nghiệp, mất tư liệu sản xuất, trở  
thành người thất nghiệp và đời sống gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Hơn nữa,  
thu hồi đất nông nghiệp còn đặt ra thách thức mà xã hội phải giải quyết; đó là việc  
giảm sút diện tích đất nông nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn đến an ninh lương thực quốc  
gia, làm giảm sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm… Nhận thức được những thách  
thức do việc thu hồi đất nông nghiệp gây ra cho sự phát triển bền vững của đất  
nước, Đảng và Nhà nước ta đã có đường lối, chính sách và ban hành pháp luật về  
bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của người  
sử dụng đất, lợi ích của xã hội và lợi ích của nhà đầu tư. Mặc dù các ngành, các cấp  
và nhất là ở cơ sở đã có nhiều cố gắng, song cả trong chính sách và tổ chức thực  
hiện việc đền bù thiệt hại vẫn còn nhiều tồn tại: hiện tượng khiếu kiện kéo dài, một  
số nơi chậm triển khai hoặc triển khai chưa phù hợp với chính sách, hồ sơ quản lý  
1
đất đai chưa đầy đủ, nhiều địa phương phải điều chỉnh lại quy hoạch, sửa đổi thiết  
kế dự án, chờ đợi do không giải phóng được mặt bằng hoặc do cơ sở hạ tầng không  
đảm bảo. Hậu quả là làm ảnh hưởng tiến độ, gây thiệt hại lớn về kinh tế của các  
doanh nghiệp, các nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất và Nhà nước, làm mất ổn định  
tình hình chính trị - xã hội ở các địa phương.  
Bình Định là một tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ, để phát triển mạnh kinh tế-  
xã hội tỉnh chủ trương đa dạng hoá các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời  
sống góp phần giải quyết việc làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sự phát triển của  
Bình Định trên các mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội có tác động to lớn đến sự phát triển  
chung của khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ. Với ý nghĩa như vậy, Đảng bộ và  
nhân dân tỉnh Bình Định đã không ngừng nỗ lực phấn đấu xây dựng một tỉnh phát  
triển về mọi mặt. Để thực hiện được những mục tiêu đặt ra, Bình Định cần một số  
lượng diện tích không nhỏ để có thể xây dựng các công trình, phục vụ các dự án  
phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao cơ sở hạ tầng, làm tiền đề góp phần tăng trưởng  
GDP hàng năm. Với một lượng không nhỏ các dự án trong tương lai đã đặt ra cho  
Bình Định vấn đề lớn trong công tác bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất  
trên địa bàn tỉnh Bình Định. Việc thu hồi đất và bồi thường khi Nhà nước thu hồi  
đất nông nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của tỉnh và tác động lớn  
đến đời sống của hàng nghìn hộ gia đình. Chính vì vậy, Đảng ủy và UBND tỉnh  
Bình Định cần có sự chuẩn bị đồng bộ về cơ chế, chính sách hợp lý, xây dựng được  
phương án bồi thường thích hợp nhằm giải quyết thấu đáo, tránh vướng mắc, gây  
khiếu kiện các vấn đề liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp, hạn chế tình trạng mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.  
Với ý nghĩa trên, tôi lựa chọn đề tài: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất  
nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định”để làm luận văn  
tốt nghiệp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu  
quả tổ chức thực hiện là việc có tính cấp thiết.  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
Trong nhiều chuyên đề nghiên cứu, trên các tạp chí, các báo cáo, bài viết, báo  
2
viết, báo điện tử đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến các nội dung xoay quanh  
vấn đề này. Có thể kể đến cuốn chuyên khảo “Pháp luật về định giá đất trong bồi  
thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam”, PGS.TS Doãn Hồng Nhung (chủ  
biên), NXB. Tư pháp 2013; Cuốn sách “Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển  
dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam.Cuốn “Đổi mới chính sách về chuyển đổi mục  
đích sử dụng đất đai trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Việt Nam” của  
Nguyễn Quốc Hùng- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2006.“Phương pháp tiếp  
cận, định giá và giải quyết khiếu nại của người dân” của Ngân hàng Thế giới, Hà  
nội 2011.  
Luận văn nghiên cứu và kế thừa các thành quả của các nhà nghiên cứu trước,  
nhưng có sự tập trung về pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp một cách chuyên sâu hơn qua thực tiễn áp dụng tại Bình Định.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1.Mục đích nghiên cứu  
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường  
khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Bình Định nhằm chỉ ra những thành  
tựu, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại. Trên cơ sở đó, đề  
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm đáp ứng có hiệu quả các yêu cầu do  
thực tiễn cuộc sống đặt ra, trong quá trình thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà  
nước thu hồi đất nông nghiệp.  
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên luận văn xác định những nhiệm vụ  
nghiên cứu cụ thể sau đây:  
- Phân tích khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất nông nghiệp; phân tích khái  
niệm, đặc điểm và cơ sở lý luận của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất  
nông nghiệp ở Việt Nam.  
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu  
hồi đất nông nghiệp, làm rõ khái niệm, đặc điểm, các yếu tố chi phối tới pháp luật  
3
về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, cũng như cơ cấu pháp luật  
điều chỉnh về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu là các văn bản pháp luật và chính sách của Nhà nước,  
của tỉnh Bình Định áp dụng trong công tác BTGPMB khi Nhà nước thu hồi đất  
trong những năm gần đây.  
- Đề tài nghiên cứu đánh giá thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà  
nước thu hồi đất qua thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Bình Định.  
- Đề tài nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về bồi thường,  
hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để làm rõ những kết quả đạt được và  
đưa ra khó khăn, vướng mắc trong quá trình Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.  
Nghiên cứu để tìm ra những nguyên nhân, những khó khăn tồn tại và đề xuất những  
giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước  
thu hồi đất nông nghiệp từ thực tiễn tỉnh Bình Định.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật, các nguyên tắc pháp lý và  
các quy định pháp luật của Việt Nam hiện hành trong lĩnh vực bồi thường khi Nhà  
nước thu hồi đất nông nghiệp.  
- Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về bồi  
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thông qua việc tìm hiểu, đánh giá nội  
dung Luật Đất đai năm 2013. Hơn nữa, luận văn đi sâu tập trung nghiên cứu về việc  
pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá  
nhân, chủ thể sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu và thực tiến áp dụng các quy định  
pháp luật, nhất là thực tiễn thi hành tại một số các dự án của tỉnh Bình Định.  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
5.1. Cơ sở lý luận  
Phương pháp phân tích: áp dụng trong việc phân tích các khái niệm, các điều  
khoản của pháp luật về bồi thường như làm rõ các khái niệm về thu hồi, bồi thường  
khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.  
4
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp tổng hợp: áp dụng trong việc tổng hợp các số liệu trong các  
quyết định của cơ quan Nhà nước có thầm quyền liên quan đến vấn đề bồi thường,  
giải phóng mặt bằng như diện tích đất cần thu hồi phục vụ dự án; Số tiền bồi thường  
về đất, về tài sản; thông qua việc tổng hợp các số liệu, con số chúng ta dễ dàng hiểu  
và tiếp cận luận văn hơn.  
- Phương pháp bình luận: đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về các quy định  
của pháp luật liên quan đến bồi thường. Đó là quan điểm về giá đất; Thời hạn thông  
báo thu hồi đất; Các chính sách hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất…  
- Thu thập các tài liệu, số liệu tại các sở, ngành trong UBND tỉnh như: Sở Tài  
nguyên và Môi trường, Thanh tra tỉnh, ban quản lý dự án, Ban giải phóng mặt  
bằng…Các tài liệu, số liệu điều tra, thu thập phải phản ánh đúng quá trình thực hiện  
các chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và có độ chính xác qua một số dự án đã  
được thực hiện trên địa bàn tỉnh Bình Định trong thời gian gần đây.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn  
Qua thực tiễn quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình  
Định tại một số dự án cụ thể, nghiên cứu đề tài sẽ cho thấy rõ hơn sự phù hợp,  
không phù hợp của pháp luật và thực tiễn cuộc sống. Kết quả này có thể được sử  
dụng làm tài liệu tham khảo đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học  
cũng như có giá trị tham khảo cho các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật về  
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Bình Định nói riêng và cả  
nước nói chung.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của  
luận văn được bố cục gồm 3 chương:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước  
thu hồi đất nông nghiệp.  
5
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệpvà thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Định.  
Chương 3: Những phương hướng để hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi  
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Bình Định.  
6
CHƯƠNG 1  
NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG  
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP  
1.1. Sự cần thiết phải bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp  
Thứ nhất, về mặt tài sản, người có đất nông nghiệp bị thu hồi sẽ mất đi quyền  
sử dụng đất, chịu sự thiệt hại về các kết quả đầu tư đã bỏ công sức xây dựng nên như  
công trình hạ tầng, cây cối..., thiệt hại do không được hưởng khai thác hoa lợi, lợi tức  
phát sinh từ đất. Đất nông nghiệp với vai trò tư liệu sản xuất chính trong nông nghiệp,  
những thiệt hại về cây cối, hoa lợi, nông sản, lợi tức trong tương lai lại vô cùng lớn.  
Kéo theo đó có thể là những bất ổn về an ninh lương thực của quốc gia.  
Thứ hai, thu hồi đất nông nghiệp chính là thu hồi tư liệu, đối tượng sản xuất  
của người nông dân, họ sẽ bị mất cơ hội lao động, mất nguồn sống và gây thiệt hại  
do ngừng việc, ngừng sản xuất kinh doanh khi người sử dụng đất bị thu hồi đất  
nông nghiệp. Nhìn chung, những thiệt hại khi thu hồi đất nông nghiệp không thể  
nào đo đếm chính xác, nó không chỉ là những thiệt hại trước mắt mà còn tác động  
trong tương lai.  
Thứ ba, việc thu hồi đất nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước vì mục  
đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng.  
Luật Đất đai năm 2013, trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội.  
Việc thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện các dự án sẽ đáp ứng được nhu cầu quy  
hoạch khi diện tích đất nông nghiệp được thu hồi thường rộng, dễ đầu tư, xây dựng  
mới hoàn toàn và giá trị đền bù thấp hơn các loại đất phi nông nghiệp khác.  
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về bồi thường khi Nhà  
nước thu hồi đất nông nghiệp  
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu  
hồi đất nông nghiệp  
Để đưa ra được khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp ta cần làm rõ một số thuật ngữ sau:  
7
-Đất nông nghiệp:Đất nông nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến  
trong các văn bản pháp luật đất đai ở nước ta: “Đất nông nghiệp là tꢀng thể các loại  
đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt,chăn nuôi,  
nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung  
ứng sản phꢁm cho các ngành công nghiệp, dịch vụ”. Trong quản lý đất đai, việc xác  
định đất nông nghiệp là yếu tố tiền đề để có những quyết định hợp lý trong đầu tư,  
quản lý, giải quyết chế độ, chính sách phù hợp với người dân.  
-Thu hồi đất nông nghiệp:Nhà nước thực hiện quyền đại diện sở hữu thông  
qua việc định đoạt đất đai. Hiến pháp năm 2013 là cơ sở để có cách hiểu chính xác  
hơn về thu hồi đất: “Nhà nước thu hồi đất do tꢀ chức, cá nhân đang sꢂ dụng trong  
trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phꢃng, an ninh; phát triển  
kinh tế - xꢄ hội vì lợi ích quốc gia, công cộng....” (Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm  
2013). Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, cũng như tiếp thu có chọn lọc các ý kiến,  
quan điểm, khái niệm thu hồi đất được Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau:  
“Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sꢂ dụng đất của  
người được Nhà nước trao quyền sꢂ dụng đất hoꢅc thu lại đất của người sꢂ dụng  
đất vi phạm pháp luật về đất đai” Hậu quả của thu hồi đất nông nghiệp xét về mặt  
pháp lý cũng giống như việc thu hồi các loại đất khác nó làm chấm dứt quyền sử  
dụng đất của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng mảnh đất. Như đã phân tích vai  
trò của đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất, là nguồn sống, là truyền thống của người  
dân, hệ quả của việc thu hồi đất nông nghiệp là rất lớn, đặc biệt là những tác động  
ảnh hưởng tới đời sống của người nông dân.  
- Bồi thường:Theo Từ điển Tiếng Việt, bồi thường là đền bù những tổn hại đã  
gây cho người ta. Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng  
đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất mà còn những vấn đề bồi  
thường về tài sản gắn liền với đất, những chi phí đầu tư vào đất được quy định cụ  
thể hơn tại các điều luật khác.  
- Đꢅc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp  
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp chịu sự ảnh  
8
hưởng, chi phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai và điều này được minh  
chứng như sau:  
(i), Nhà nước có quyền phân bổ, điều chỉnh đất đai cho các mục tiêu kinh tế,  
xã hội.  
(ii),cũng chính với vai trò là chủ sở hữu đại diện duy nhất đối với đất đai, nên để  
tránh sự lạm quyền, độc quyền, tùy tiện trong thu hồi và bồi thường khi thu hồi đất.  
Thứ hai, Các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp  
được ban hành phù hợp với thực tiễn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân thì  
được họ đồng tình ủng hộ. Các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất  
nông nghiệp không phù hợp với thực tế thì sẽ không nhận được sự đồng tình của  
người dân và phát sinh các tranh chấp và khiếu kiện kéo dài tiềm ẩn nguy cơ mất ổn  
định chính trị - xã hội. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp không chỉ  
dựa trên những thiệt hại vật chất thực tế mà không tính đến hậu quả lâu dài mà  
người nông dân phải gánh chịu. Điều đó gây ra tình trạng gây khó khăn cho việc  
giải phóng mặt bằng.  
1.2.2. Vai trò của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp  
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp với tư cách là  
một chế định đặc thù trong quản lý Nhà nước về đất đai, nên nó có các vai trò sau:  
Thứ nhất, pháp luật mang những đặc trưng mà các biện pháp quản lý khác  
không có được, đó là: tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính  
thích ứng. Nhờ Pháp luật mà Nhà nước có thể giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà  
nước, của cộng đồng. Lợi ích của người bị thu hồi đất và lợi ích của doanh nghiệp,  
chủ đầu tư.  
Thứ hai, pháp luật quy định các trình tự, thủ tục thu hồi và phương thức giải  
quyết hậu quả do việc thu hồi đất nông nghiệp gây ra. Để bảo đảm hạn chế thấp  
nhất việc khiếu kiện, gây khó khăn khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.  
Thứ ba, Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ảnh hưởng đến lợi ích thiết thực  
của các bên liên quan mà trước hết của người sử dụng đất. Đất nông nghiệp có một  
9
vai trò hết sức quan trọng. Hơn nữa, việc có đất hay mất đất nông nghiệp của người  
nông dân còn tiềm ẩn nguy cơ đối với sự ổn định chính trị, trật tự xã hội.  
1.3. Cơ cấu của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp  
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp bao gồm các  
nhóm quy phạm pháp luật cơ bản sau:  
Thứ nhất, quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu  
hồi đất nông nghiệp. Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp  
được hiểu là những quy định chung mang tính nền tảng, làm định hướng và tạo cơ  
sở cho việc thực hiện và áp dụng các quy định chi tiết về bồi thường khi Nhà nước  
thu hồi đất nông nghiệp.  
Thứ hai, nội dung bồi thường, hỗ trợ đối với người bị thu hồi đất nông nghiệp,  
bao gồm các quy định cụ thể về phạm vi bồi thường (đó là bồi thường về đất và bồi  
thường thiệt hại về tài sản có trên đất, trong những trường hợp nhất định Nhà nước  
có thể hỗ trợ); về phương thức bồi thường (có thể bồi thường bằng đất nông nghiệp  
có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi hoặc bồi thường bằng tiền tương ứng  
với giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi); về giá đất tính bồi thường,  
được tính theo khung giá đất do Nhà nước quy định tương ứng với loại đất bị thu  
hồi, tính ở thời điểm thu hồi đất.  
Thứ ba, về trình tự và thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp. Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn thi hành có những quy định cụ thể về  
từng bước lập, bổ sung, thẩm định, thực hiện phương án bồi thường, cũng như trách  
nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bồi thường khi Nhà nước thu  
hồi đất của người sử dụng đất nông nghiệp. Những khiếu nại, tố cáo, bất bình của  
người dân tập trung khá nhiều trong lĩnh vực này.  
Thứ tư, quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường khi  
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Những quy định pháp luật về vấn đềnày được  
quy định trong Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011; trong Luật Tố tụng Hành  
chính năm 2010 và hiện nay vấn đề này đã được ghi nhận trong Luật Đất đai năm  
10  
2013 (Khoản 2, Điều 204 và Khoản 2, Điều 205). Trên thực tế, công tác bồi thường  
được thực hiện thông qua những cán bộ, công chức nhà nước. Pháp luật quy định  
cho người bị thu hồi đất được quyền khiếu nại và tố cáo giúp họ tự bảo vệ quyền lợi  
hợp pháp của mình. Từ đó, Nhà nước có thể xem xét, đánh giá năng lực, trình độ,  
phẩm chất đạo đức và ý thức tuân thủ pháp luật của đội ngũ công chức nhà nước.  
1.4. Các yêu cầu đối với pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất  
nông nghiệp  
Thứ nhất, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp phải  
toàn diện, đồng bộ.Tính toàn diện, đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện cụ thể  
đó là: thể hiện sự thống nhất, không mâu thuẫn, không trùng lặp, chồng chéo trong  
mỗi văn bản hướng dẫn thực hiện việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật với nhau.  
Thứ hai, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp phải  
luôn thống nhất. Tính thống nhất pháp luật ở các cấp độ khác nhau, giữa các chế  
định pháp luật trong cùng một ngành luật, giữa các quy phạm pháp luật trong một  
chế định pháp luật cũng phải thống nhất. Tính thống nhất pháp luật là không có các  
văn bản hướng dẫn trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau của các quy phạm  
pháp luật trong hệ thống pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành  
không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung mà còn phải bảo đảm tính  
thứ tự của mỗi văn.  
Thứ ba, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp phải  
được ban hành phù hợp. Sự phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật mà đặc  
biệt là của các văn bản luật với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế -  
xã hội là điều kiện vô cùng quan trọng bảo đảm cho tính khả thi và hiệu quả của  
pháp luật. Pháp luật phù hợp với quy luật phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội sẽ  
làm cho pháp luật dễ dàng được thực hiện. Ngược lại, pháp luật khó được thực hiện  
trên thực tế và có thể gây ra những thiệt hại nhất định cho sự phát triển đó.  
Thứ tư, các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất  
nông nghiệp phải có khả năng thực hiện được. Tính có khả năng của pháp luật còn  
11  
thể hiện ở việc các quy định pháp luật phải được ban hành đúng lúc và kịp thời đáp  
ứng những nhu cầu mà cuộc sống đang đặt ra. Ngoài ra, còn phải phù hợp với cơ  
chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành.  
1.5. Các yếu tố tác động đến pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu  
hồi đất nông nghiệp  
Thứ nhất, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai  
tác động đến nội dung các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu  
hồi đất nông nghiệp thể hiện trên một số khía cạnh cơ bản sau đây:  
- Trong trường hợp thật cần thiết khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất vì mục  
đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia,… thì Nhà nước thực hiện việc thu hồi  
đất có bồi thường cho người sử dụng đất chứ Nhà nước không mua đất của chủ đất  
như các nước có chế độ sở hữu tư nhân về đất đai;  
- Không phải bất cứ người bị thu hồi đất nào cũng được Nhà nước bồi thường  
mà chỉ những người sử dụng đất đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định mới  
được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất;  
- Không phải bất cứ cơ quan Nhà nước nào cũng có thẩm quyền thu hồi đất mà  
chỉ những cơ quan được pháp luật quy định có thẩm quyền thu hồi đất thì mới được  
thu hồi…  
Thứ hai, xây dựng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông  
nghiệp phải quan tâm đến quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về tiếp tục  
đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đổi mới đất nước. Nhà nước thể  
chế hoá các quan điểm, đường lối của Đảng bằng các quy định của pháp luật để  
quản lý xã hội.  
Thứ ba, cơ chế quản lý kinh tế cũng có những tác động nhất định đến pháp luật  
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Pháp luật nghiêm cấm việc mua bán, chuyển  
nhượng đất đai. Vấn đề thu hồi đất dường như ít gặp phải những khó khăn, phức  
tạp. Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong thời kỳ này chưa phát  
triển. Khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Trong điều  
kiện kinh tế thị trường cơ chế quản lý đất đai có sự thay đổi: Nhà nước thừa nhận  
12  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 86 trang yennguyen 18281 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_boi_thuong_khi_nha_nuoc_thu_hoi_dat_nong_nghiep_the.pdf