Liên kết để phát triển bền vững ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(03) - 2020  
LIÊN KẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP  
CHẾ BIẾN CHẾ TẠO VIỆT NAM  
LINKS FOR SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF VIETNAM'S  
MANUFACTURING INDUSTRY  
Ngày nhận bài: 01/09/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 28/09/2020  
Vũ Thị Thanh Huyền  
TÓM TẮT  
Công nghiệp chế biến chế tạo được coi là ngành tạo động lực chủ yếu, có đóng góp lớn cho tăng  
trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam những năm vừa qua thông qua thúc đẩy xuất khẩu, thu hút  
FDI và tạo việc làm. Bên cạnh đó, quá trình phát triển bền vững của ngành còn tồn tại một số hạn  
chế như: sản xuất phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, quá trình sản xuất, chế biến gây ra nhiều tác  
động xấu đến vấn đề bền vững về môi trường, … Để thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành,  
thúc đẩy liên kết trong sản xuất, thương mại ngành CN CBCT được coi là giải pháp cơ bản, quan  
trọng. Nội dung bài viết tập trung vào phân tích thực trạng liên kết trong phát triển CN CBCT Việt  
Nam thời gian vừa qua, từ đó, đưa ra những đánh giá về ảnh hưởng của liên kết đến phát triển  
bền vững ngành CN CBCT, đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy phát triển bền vững ngành CN  
CBCT trong những năm tiếp theo.  
Từ khóa: Công nghiệp chế biến chế tạo (CN CBCT), liên kết, phát triển bền vững.  
ABSTRACT  
Manufacturing and processing industry is considered to be the major driving force, making a great  
contribution to Vietnam's economic growth and development in recent years, through export  
promotion, FDI attraction and job creation. In addition, the sustainable development of the industry  
still has some limitations such as: production depends heavily on imports, the production process  
causes many negative impacts on environmental sustainability, ... In order to promote the  
sustainable development of the industry, promoting linkages in production and commerce in the  
industrial sector is considered as a basic and important solution. The content of the article focuses  
on analyzing the current state of linkages in the development of Vietnam's manufacturing and  
processing industry in the past time, from there, giving assessment on the impact of links to the  
sustainable development of the processing and manufacturing industry, proposing a number of  
solutions to promote the sustainable development of the industry in the following years.  
Keywords: Manufacturing and processing industry, linkages, sustainable development.  
khẩu và thu hút FDI, ... nhưng ngành CN  
1. Đặt vấn đề  
CBCT Việt Nam thời gian qua vẫn trong tình  
Liên kết trong sản xuất được coi là một  
trạng giá trị gia tăng thấp, sự tham gia thực  
trong những nhân tố quan trọng để giảm chi  
chất của các DN nội địa Việt nam vẫn còn rất  
phí sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng cho  
hạn chế.Những điều này đặt ra vấn đề cần  
ngành/ sản phẩm. Đặc biệt, đối với các ngành  
xem xét một cách nghiêm túc về thực trạng  
sản xuất CN chế biến, chế tạo, liên kết trong  
liên kết trong hoạt động sản xuất CN CBCT  
sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong đổi mới  
Việt Nam thời gian qua, để đưa ra những giải  
công nghệ, đổi mới tổ chức hoạt động sản  
pháp cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền  
xuất, từ đó thúc đẩy việc tăng năng suất, hiệu  
vững của ngành CN CBCT Việt Nam những  
quả cho ngành sản xuất và cho nền kinh tế.  
năm tiếp theo.  
Mặc dù được đánh giá là ngành có tốc độ  
tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao, chiếm  
tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất  
Vũ Thị Thanh Huyền, Trường Đại học Thương mại  
13  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
xuất hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc bán cho  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
hãng sản xuất khác. Theo nghĩa rộng, liên kết  
công nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động  
hợp tác, bao gồm các luồng vật liệu và thông  
tin, giữa các yếu tố riêng biệt và các chức  
năng của hệ thống sản xuất. Liên kết sản xuất  
là một sự kết hợp các sản phẩm chảy từ các  
nhà máy, đến các nhà bán lẻ, bán buôn, công  
chúng, cũng như các hãng sản xuất khác.  
(Dobson, 1984))  
2.1. Liên kết và vai trò của liên kết trong  
phát triển bền vững công nghiệp CBCT  
2.1.1. Khái niệm Liên kết  
Theo (Ký and Duy, 2012) , liên kết kinh tế  
là hình thức hợp tác và phối hợp thường  
xuyên các hoạt động do các chủ thể kinh tế  
tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực  
hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan  
đến công việc sản xuất, kinh doanh của các  
bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh  
doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Mục  
tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ  
kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh  
tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành  
phân công sản xuất chuyên môn hóa, khai  
thác tốt các tiềm năng của từng đơn vị tham  
gia liên kết. Còn theo (Thanh, 2009), liên kết  
kinh tế là một xu thế tất yếu của xã hội phát  
triển, là một trong những hình thức hợp tác ở  
trình độ cao của con người trong quá trình  
sản xuất, kinh doanh. Ở cấp độ ngành, doanh  
nghiệp, liên kết kinh tế bao gồm nhiều cấp độ  
và loại hình đa dạng như: liên kết dọc, liên  
kết nghiêng, liên kết hình sao, doanh nghiệp  
liên doanh, tập đoàn kinh doanh. Các quan  
điểm tương tự cũng được thể hiện trong một  
số nghiên cứu của (Huân, 2012), (Tùng,  
2018), …  
Liên kết công nghiệp diễn ra giữa các  
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Liên kết  
công nghiệp có thể diễn ra theo chiều dọc và  
theo chiều ngang. Trong đó, liên kết dọc diễn  
ra theo dây chuyền sản xuất môt loại sản  
phẩm, từ khâu cung cấp nguyên liệu, trang  
thiết bị đến khâu cung ứng ra thị trường. Các  
doanh nghiệp tham gia liên kết dọc nhằm tạo  
ra chuỗi giá trị giúp nâng cao năng lực cạnh  
tranh của cả một ngành công nghiệp. Liên  
kết dọc bao gồm liên kết phía trước (forward  
linkages), còn gọi là liên kết thượng du, khi  
sản phẩm của doanh nghiệp này là đầu vào  
của doanh nghiệp khác, và liên kết sau  
(backward linkages) hay liên kết hạ du trong  
khâu lưu thông, tiêu thụ. Liên kết ngang diễn  
ra khi một số doanh nghiệp cùng hợp tác để  
nhận thầu môt gói đặt hàng lớn vượt khả  
năng của một doanh nghiệp.(Liêm)  
Như vậy, khái niệm liên kết công nghiệp  
có những cách hiểu khác nhau, nhưng ít nhất,  
có thể được nhìn thấy theo cách sau: Thứ  
nhất, liên kết quá trình. Điều này được xem  
là để mô tả sự chuyển động của hàng hóa  
giữa các công ty khác nhau như các giai đoạn  
trong quá trình sản xuất. Thứ hai là một liên  
kết dịch vụ; và điều này đề cập đến việc cung  
cấp máy móc thiết bị và các bộ phận phụ trợ  
cũng như các yêu cầu sửa chữa và bảo trì khi  
được cung cấp bởi các công ty riêng biệt.  
Thứ ba, liên kết tiếp thị liên quan đến những  
mối quan hệ với các công ty khác hỗ trợ việc  
bán và phân phối hàng hóa; Thứ tư, các liên  
kết tài chính và thương mại mô tả mối quan  
Theo (World Bank, 2017), quá trình liên  
kết được điều chỉnh bởi mối quan hệ kinh tế  
giữa các tập đoàn đa quốc gia (MNE)/ các  
công ty hàng đầu với vai trò là người mua, và  
các công ty trong nước là các nhà cung cấp  
trong một chuỗi cung ứng nhất định.  
Khái niệm liên kết công nghiệp: Theo  
nghĩa hẹp, có thể đưa ra một định nghĩa giới  
hạn về liên kết giữa các dòng cung ứng,  
nguyên liệu thô, hàng hóa bán thành phẩm và  
linh phụ kiện hoặc hàng hóa thành phẩm;  
giữa các mối quan tâm thương mại. Nói cách  
khác, liên kết công nghiệp có thể xảy ra khi  
một hãng sản xuất mua các đầu vào để sản  
14  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(03) - 2020  
hệ với các dịch vụ tài chính và tư vấn như  
ngân hàng, công ty bảo hiểm và môi giới  
chứng khoán...  
sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế  
hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng  
đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai.  
Ba trụ cột PTBV được xác định là: bền vững  
về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã hội, , bền  
vững về sinh thái môi trường.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ tiếp  
cận liên kết theo nghĩa hẹp, chính là sự liên  
kết diễn ra trong quá trình sản xuất, mô tả sự  
chuyển động của các hàng hóa giữa các công  
ty khác nhau trong các giai đoạn của quá  
trình sản xuất và quá trình hình thành, phát  
triển các vùng, khu, cụm liên kết.  
Phát triển bền vững công nghiệp CBCT:  
Khái niệm PTBVCN được UNIDO tiếp  
tục phát triển như là: “Những mô hình  
(pattern) công nghiệp hoá hướng vào các lợi  
ích về kinh tế và xã hội của thế hệ hiện tại và  
các thế hệ sau mà không làm tổn hại tới quá  
trình sinh thái nền”. Có 3 tiêu chí quan trọng  
của quá trình PTBVCN: Bảo vệ năng lực  
sinh thái; Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực  
con người, nguyên vật liệu và năng lượng;  
Công bằng trong chia sẻ gánh nặng về môi  
trường, xã hội và các thành quả công nghiệp  
hoá.  
Như vậy, nội dung liên kết sẽ được thể  
hiện qua các khía cạnh như sau:  
Thứ nhất, liên kết trong quá trình sản  
xuất giữa doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ  
với các doanh nghiệp lắp ráp, được thể hiện  
thông qua chỉ tiêu năng lực cung ứng của  
doanh nghiệp trong nước hay tỷ lệ nội địa  
hóa. Nếu năng lực đáp ứng trong nước càng  
lớn hay tỷ lệ nội địa hóa càng cao thì ngành  
CN CBCT càng phát triển, nâng cao được giá  
trị gia tăng và có đóng góp lớn vào tăng  
trưởng kinh tế.  
Phát triển bền vững công nghiệp là phát  
triển một cách ổn định, lâu dài trên cơ sở  
đảm bảo cân bằng giữa tăng trưởng, giải  
quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi  
trường.(Bắc, 2020).  
Thứ hai, sự hình thành và phát triển  
của cụm, khu công nghiệp. Sự phát triển của  
các cụm ngành công nghiệp sẽ giúp các  
doanh nghiệp CN CBCT giảm chi phí sản  
xuất, tăng cường chuyên môn hóa, tăng sức  
mạnh thị trường.  
Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo  
là những ngành tham gia vào việc chuyển đổi  
hàng hóa, vật liệu hoặc chất thành sản phẩm  
mới. Quá trình biến đổi có thể là vật lý, hóa  
học hoặc cơ học. Các nhà sản xuất thường có  
cơ sở sản xuất, xưởng sản xuất hoặc nhà máy  
sản xuất hàng hóa cho tiêu dùng. Máy móc  
và thiết bị thường được sử dụng trong quá  
trình sản xuất (Levinson, 2018). Từ đó, có  
thể định nghĩa phát triển bền vững ngành CN  
CBCT là sự phát triển các ngành sản xuất,  
chế biến công nghiệp một cách ổn định, lâu  
dài, đảm bảo sự bền vững cả 3 khía cạnh:  
kinh tế, xã hội và môi trường.  
Thứ ba, sự liên kết giữa các doanh  
nghiệp sản xuất công nghiệp, các Hiệp hội,  
trung tâm hỗ trợ DN, cơ quan Quản lý Nhà  
nước. Sự liên kết này càng chặt chẽ thì các  
doanh nghiệp CN CBCT càng có điều kiện  
phát triển nhanh và mạnh mẽ do nắm bắt  
được kịp thời các thông tin chính sách, cũng  
như sự hỗ trợ từ phía Nhà nước để phát triển  
sản xuất và mở rộng thị trường.  
2.1.2. Phát triển bền vững công nghiệp  
Phát triển bền vững: năm 1992, Hội nghị  
thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của  
Liên hợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-  
rô đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế  
kỷ XXI, theo đó, PTBV được xác định là: Một  
Nội dung của phát triển bền vững công  
nghiệp CBCT bao gồm:  
Thứ nhất, duy trì tăng trưởng công  
nghiệp CBCT nhanh và ổn định trong dài hạn;  
15  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
tăng trưởng việc làm, đặc biệt là các doanh  
Thứ hai, thực hiện quá trình công  
nghiệp nhỏ, vừa và nhỏ. Các nước phát triển  
hoặc đang phát triển công nghiệp có chính  
sách riêng để phát triển cụm công nghiệp.  
nghiệp hóa theo hướng sạch, thân thiện với  
môi trường, tích cực ngăn ngừa và xử lý ô  
nhiễm công nghiệp;  
Thứ ba, tổ chức và phân bổ sản xuất  
Hai là, thúc đẩy tăng lợi thế cạnh tranh.  
Theo (Tài, 2013) , vai trò của liên kết trong  
hoạt động sản xuất CN và lý thuyết về cụm  
CN được phát triển từ lý thuyết về lợi thế  
cạnh tranh quốc gia của Michael Porter  
(1990). Lý thuyết này đã chỉ ra rằng, mỗi  
cụm liên kết ngành giống như chuỗi giá trị  
trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ, trong đó,  
các ngành công nghiệp được liên kết với  
nhau bởi dòng hàng hóa và dịch vụ. Các  
CLKN được hình thành từ sự tập trung cao  
độ các doanh nghiệp trong một số ngành và  
lĩnh vực có liên quan khá chặt chẽ với nhau,  
trong đó có liên quan chặt chẽ đến vai trò của  
các doanh nghiệp hỗ trợ. Một CLKN được  
hình thành sẽ tạo ra những yếu tố nền tảng  
nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua một  
số thành tố là: giúp DN có cơ hội tăng năng  
suất; thúc đẩy quá trình sáng tạo và đổi mới;  
tác động quan trọng đến việc hình thành các  
DN mới trong ngành hoặc trong các ngành  
có liên quan. Tương tự, theo (Ngọc and  
Trang, 2011), CLKN tác động đến cạnh  
tranh và tạo ra lợi thế cạnh tranh theo 3 cách:  
Tăng năng suất của các DN nằm trong cụm  
liên kết thông qua cải thiện khả năng tiếp cận  
nhà cung cấp, kỹ năng và thông tin chuyên  
môn; điều chỉnh hướng đi và tốc độ của sáng  
tạo đến tăng trưởng năng suất trong tương  
lai; và thúc đẩy việc hình thành những cơ sở  
kinh doanh mới. Theo (Thành), việc phát  
triển CLKN tạo điều kiện tăng sức cạnh tranh  
(thông qua việc giảm giá thành sản xuất, chia  
sẻ thông tin và các nguồn lực khác), đổi mới  
(công nghệ, quản lý,…), phát triển và chuyển  
đổi cơ cấu kinh tế địa phương. Mối liên kết  
có thể được thể hiện trong quan hệ giữa các  
DN thuộc các thành phần kinh tế trong các  
ngành và quốc tế; giữa các DN có vốn đầu tư  
nước ngoài và DN trong nước; giữa các DN  
công nghiệp CBCT một cách hợp lý theo  
hướng phát triển tập trung, tạo các liên kết  
công nghiệp bền vững, di dời các cơ sở gây ô  
nhiễm nghiêm trọng.  
Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững  
công nghiệp CBCT. Căn cứ vào khái niệm và  
nội dung của phát triển bền vững và phát  
triển bền vững công nghiệp, tác giả đề xuất  
một số tiêu chí cơ bản đo lường phát triển  
bền vững công nghiệp CBCT bao gồm:  
Thứ nhất, bền vững về kinh tế: các chỉ  
tiêu đo lường bao gồm: tăng trưởng sản  
lượng đầu ra của ngành và tỷ trọng đóng góp  
vào GDP; chuyển dịch cơ cấu ngành; kim  
ngạch xuất khẩu; thu hút FDI; mức độ liên  
kết và tỷ lệ nội địa hóa.  
Thứ hai, bền vững về xã hội: bao gồm số  
lượng việc làm và chất lượng lao động CN  
CBCT; năng suất lao động;  
Thứ ba, bền vững về môi trường: mức độ  
gây ô nhiễm môi trường do các hoạt động  
sản xuất công nghiệp CBCT gây ra.  
2.1.3. Vai trò của liên kết trong sản xuất và  
phát triển công nghiệp CBCT theo hướng  
bền vững  
Do ý nghĩa quan trọng của vấn đề liên kết  
trong hoạt động sản xuất của các ngành công  
nghiệp trong nền kinh tế, đã có một số  
nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này trên  
thế giới và tại Việt Nam.  
Thứ nhất, về mặt kinh tế:  
Một là, thúc đẩy tăng trưởng, tăng thu  
nhập và tạo việc làm. Theo (Abdin, 2016),  
phát triển cụm được coi là một công cụ hiệu  
quả để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các cụm  
công nghiệp được coi là một trong những cơ  
chế hiệu quả nhất để thúc đẩy thu nhập và  
16  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(03) - 2020  
lớn và DNNVV trong các KCN, CCN; giữa  
tin, kiến thức; là những tiền đề cho việc cải  
tiến, đổi mới trong sản xuất và giảm chi phí  
giao dịch.  
các DN và cơ quan QLNN, cơ quan hoạch  
định chính sách; giữa các DN sản xuất với  
các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu, các hiệp  
hội ngành hàng; ...  
Thứ ba, về mặt môi trường, sự phân bổ  
hợp lý giữa các khu, cụm công nghiệp, sự  
liên kết chặt chẽ giữa các DN trong quá trình  
sản xuất sẽ là thuận lợi cho việc thực hiện  
các mục tiêu, chính sách bảo vệ môi trường,  
thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, đổi  
mới quy trình sản xuất một cách đồng nhất  
trong phạm vi toàn ngành công nghiệp, từ đó,  
thúc đẩy công nghiệp hóa theo hướng sạch,  
bền vững.  
Ba là, tạo điều kiện tham gia các chuỗi  
cung ứng, chuỗi sản xuất toàn cầu. Theo  
nghiên cứu của (Colovic and Lamotte, 2014),  
các cụm có thể tạo thuận lợi cho việc quốc tế  
hóa các liên doanh quốc tế mới bằng cách  
cung cấp các nguồn lực, cơ hội kết nối mạng  
và tính hợp pháp để giúp họ tiếp cận thị  
trường toàn cầu và bằng cách tăng tốc độ  
quốc tế hóa;  
Như vậy, liên kết có vai trò vô cùng quan  
trọng trong việc thúc đẩy các khía cạnh bền  
vững trong phát triển công nghiệp. Do đó, để  
thúc đẩy phát triển bền vững CN CBCT thì  
một trong những giải pháp cơ bản, quan  
trọng là cần thúc đẩy liên kết. Vì vậy, ở bài  
viết này, tác giả sẽ tiếp cận, làm rõ các vai  
trò của liên kết với phát triển bền vững  
ngành CN CBCT của Việt Nam.  
Thứ hai, về mặt xã hội:  
Một là, tạo lợi thế cho các DNNVV, theo  
nghiên cứu của (Nadvi and Barrientos,  
2004), các cụm công nghiệp, hoặc sự tập  
trung địa lý của các doanh nghiệp và các đơn  
vị phụ trợ tham gia vào cùng lĩnh vực, có thể  
tạo ra nhiều lợi thế cho các doanh nghiệp  
nhỏ. Mô hình cụm nhấn mạnh mối liên kết  
nội bộ, nhờ đó mà các lợi ích của cụm được  
tăng cường bởi sự hợp tác công ty địa  
phương, các tổ chức địa phương và vốn xã  
hội địa phương. Bằng chứng ngày càng tăng  
về các cụm doanh nghiệp nhỏ ở các nước  
đang phát triển cạnh tranh trên thị trường địa  
phương và toàn cầu đã thúc đẩy phần lớn sự  
nhiệt tình của chính sách trong việc thúc đẩy  
các cụm.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu  
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu:  
Phương pháp định tính bao gồm các  
phương pháp như thống kê mô tả, so sánh,  
đối chiếu ... được sử dụng để phân tích khái  
quát thực trạng hoạt động sản xuất, kinh  
doanh của ngành CN CBCT Việt Nam; khái  
quát tình hình liên kết giữa DN CNHT với  
DN chính; từ đó, đưa ra các đánh giá về các  
ảnh hưởng của thực trạng liên kết đến phát  
triển bền vững ngành CN CBCT Việt Nam.  
Hai là, tăng cường tính kinh tế địa  
phương. Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Sơn  
(Sơn, 2015) về cụm công nghiệp đã chỉ ra  
rằng, với sự tập trung về mặt địa lý của các  
công ty và các tổ chức có liên quan, liên kết  
với nhau trong một lĩnh vực cụ thể, góp phần  
tăng cường tính kinh tế địa phương và đô thị  
hóa, tạo điều kiện cho tái cơ cấu công  
nghiệp, cũng như khuyến khích liên kết giữa  
các doanh nghiệp, cho phép các nguồn lực  
công đầu tư tập trung hơn. Mặt khác, điều  
này cũng tạo cơ hội cho việc tích tụ thông  
Phương pháp định lượng sử dụng phương  
pháp bảng cân đối liên ngành (I – O) của  
Tổng cục Thống kê 2012 và 2016 để tính  
toán các hệ số liên kết ngược và liên kết xuôi  
của ngành CN CBCT và hệ số lan tỏa đến nhập  
khẩu (NK), từ đó, làm rõ các tác động liên kết  
của ngành CN CBCT. Trong đó, Bảng I – O  
2012 được giả định là đại diện cho biến động  
của nền kinh tế trong giai đoạn 2011 – 2015, I  
17  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
n
– O 2016 đại diện cho giai đoạn 2016 – 2020.  
ngành j;  
(cộng theo cột  
O(mul)   
j
ij  
164 mã ngành sản phẩm được nhóm lại thành  
18 nhóm ngành để tính toán và so sánh hệ số  
liên kết của ngành CN CBCT so với các ngành  
còn lại trong nền kinh tế.  
i1  
của ma trận nghịch đảo Leontief).  
Những ngành có chỉ tiêu liên kết ngược  
lớn hơn 1 sẽ được xem là ngành có sức lan  
tỏa lớn. Một sự tăng hoặc giảm về cầu cuối  
cùng đối với sản phẩm của các ngành này sẽ  
ảnh hưởng đáng kể đến các ngành khác và cả  
nền kinh tế.  
2.2.2. Quan hệ cơ bản:  
(Ad Am ).X Y d Y m M X  
Ad .X Y d Am .X Y m M X (1)  
Trong đó:  
- Liên kết xuôi:  
Ad.X là véc tơ chi phí trung gian sản  
phẩm được sản xuất ra trong nước;  
Am.X là véc tơ chi phí trung gian là sản  
phẩm nhập khẩu;  
Yd là véc tơ nhu cầu cuối cùng sản phẩm  
được sản xuất trong nước;  
Ym là véc tơ nhu cầu cuối cùng sản phẩm  
nhập khẩu (bao gồm nhu cầu tiêu dùng cuối  
cùng của cá nhân, tiêu dùng cuối cùng của  
Nhà nước, tích lũy tài sản và xuất khẩu).  
Đo mức độ quan trọng của một ngành như  
là nguồn cung sản phẩm vật chất và dịch vụ  
cho toàn bộ hệ thống sản xuất. Mối liên kết  
này được xem như độ nhậy của nền kinh tế  
và được đo lường bằng tổng các phần tử theo  
hàng của ma trận nghịch đảo Leontief so với  
mức trung bình của toàn bộ hệ thống. Chỉ số  
liên kết xuôi của một ngành được tính như  
FLi  
n
sau:  
i  
1
FL  
n   
i
i1  
Nhu cầu nhập khẩu được chia thành 2  
mục đích: cho sản xuất (Am.X) và cho tiêu  
Trong đó: FLi là tổng giá trị mà ngành i  
cung ứng cho các ngành khác trong toàn hệ  
thống sản xuất của nền kinh tế khi giá trị cầu  
cuối cùng ở mỗi ngành này tăng 1 đơn vị,  
Am .X Y m M  
dùng cuối cùng (Ym) hay:  
,
Khi đó, phương trình (1) được viết lại là:  
Ad .X Y d X  
X (I Ad )1.Y d (2)  
n
(Cộng theo hàng của ma trận  
FL   
i
ij  
j1  
Như vậy, quan hệ (2) trở về quan hệ  
chuẩn của Leontief ở dạng phi cạnh tranh,  
ma trận nghịch đảo Leontief (I – Ad)-1 phản  
ánh tốt hơn rất nhiều về độ nhạy và độ lan  
tỏa của các ngành trong nền kinh tế.  
Leontief);  
i chính là chỉ số liên kết xuôi  
của ngành i. Những ngành có  
lớn hơn 1  
i  
được xem là những ngành có độ nhạy cao  
(tức là vai trò quan trọng với tư cách là nguồn  
cung ứng đầu vào cho nền kinh tế). Những  
ngành này cần được đảm bảo phát triển ổn định  
để phục vụ cho sự phát triển các ngành khác  
của nền kinh tế.  
- Liên kết ngược:  
Để xem xét sức lan tỏa tương đối của một  
ngành trong nền kinh tế người ta so nhân tử  
sản lượng của ngành này với giá trị trung  
bình của nhân tử sản lượng của tất cả các  
ngành trong nền kinh tế theo công thức sau:  
Lan tỏa tới nhập khẩu  
Trong dạng I/O phi cạnh tranh, ta có mối  
quan hệ: (Ad + Am).X + Yd + Ym -M= X  
O(mul) j  
n
; Trong đó: µj được gọi là  
j   
1
Mặt khác quan hệ này cũng có thể được  
viết: X- Am.X= Ad.X +Cd +Id+E+Cm+Im-  
M=TDD -MP  
O(mul)  
n   
i
i1  
liên kết ngược (backward linkages) của  
18  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(03) - 2020  
Trong đó tổng cầu trong nước (bao gồm  
3.1. Khái quát thực trạng phát triển bền  
vững ngành CN CBCT Việt Nam  
tiêu dùng trung gian, tiêu dùng cuối cùng,  
đầu tư và xuất khẩu) TDD = Ad.X +Cd  
+Id+E; ta có:  
3.1.1. Bền vững về kinh tế:  
Trong những năm trở lại đây, CN CBCT  
luôn là ngành đóng vai trò chủ đạo trong tăng  
trưởng kinh tế của Việt Nam, là ngành có  
đóng góp hàng đầu trong tốc độ tăng trưởng  
kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu và thu hút vốn  
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong giai đoạn  
2015 – 2019, ngành CN CBCT chiếm bình  
quân 15,15% GDP có xu hướng cao hơn so  
với giai đoạn 2010 – 2014 (13,22%) nhưng  
thấp hơn giai đoạn 2005 – 2010 (bình quân  
17,9% GDP), tăng từ 13,69 % năm 2015 lên  
16,48 % năm 2018. Khi xem xét về tốc độ  
tăng trưởng của các ngành, CN CBCT đang  
là ngành chiếm ưu thế. Trong 5 năm gần đây,  
ngành CN CBCT có tốc độ tăng trưởng cao  
trong nền kinh tế với mức tăng bình quân đạt  
12,23 %/ năm, đứng vị trí thứ nhất. Điều này  
cho thấy vai trò tích cực của ngành CN  
CBCT đóng góp cho TTKT của Việt Nam.  
X = (I-Am)-1.(TDD- Mp)  
Hoặc:  
X = (I-Am)-1.(TDD+ Cm+Im + E - Mp)  
Ma trận (I-Am)-1 được gọi là ma trận nhân  
tử về nhập khẩu.  
IMi = ∑mij  
(Cộng theo cột của ma trận (I-Am)-1)  
Hệ số lan tỏa về nhập khẩu = n.IMi / ∑IMi  
Hệ số này của ngành nếu lớn hơn 1 chứng  
tỏ các ngành này kích thích đến nhập khẩu và  
phụ thuộc lớn vào các yếu tố nhập khẩu. Hệ  
số này nhỏ hơn 1 và càng nhỏ chứng tỏ sự phụ  
thuộc vào các yếu tố bên ngoài thấp và là các  
ngành trong nước có lợi thế cạnh tranh hơn.  
Nguồn số liệu được sử dụng trong bài  
viết bao gồm các số liệu thống kê lấy chủ yếu  
từ nguồn Tổng cục Thống kê.  
3. Kết quả và thảo luận  
Hình 1. Tốc độ tăng trưởng các ngành trong nền kinh tế  
Nguồn: (Tổng cục Thống kê, 2020)  
19  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
chủ yếu vào kim ngạch xuất khẩu của Việt  
a) Về chỉ số sản xuất công nghiệp và chỉ  
số tiêu thụ ngành công nghiệp,  
Nam. Tính đến hết năm 2018, ngành CN  
CBCT thu hút tới 57,5% tổng vốn FDI và  
48,5 % số dự án (lũy kế các dự án còn hiệu  
lực) của toàn nền kinh tế. Trong năm 2019,  
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được  
cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn  
nhất với số vốn đăng ký của các dự án đạt  
12.093,1 triệu USD, chiếm 72,2% tổng vốn  
đăng ký cấp mới. Tuy nhiên, một điều dễ  
nhận thấy là FDI vào Việt Nam chủ yếu là  
những ngành sử dụng nhiều lao động giản  
đơn như: may mặc, giày dép. Các doanh  
nghiệp (DN) FDI chủ yếu tập trung vào hoạt  
động gia công, lắp ráp, nguyên vật liệu chủ  
yếu nhập từ nước ngoài nên giá trị gia tăng  
còn thấp (CIEM, 2017) và không tạo ra được  
mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp  
trong nước.  
Công nghiệp chế biến, chế tạo hiện là  
ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp cao  
nhất trong số các ngành công nghiệp và cao  
hơn cả chỉ số sản xuất công nghiệp chung  
của toàn nền kinh tế. Năm 2019, chỉ số sản  
xuất ngành CN CBCT đạt 110,4% cao hơn  
mức chung của toàn ngành (109,1%); trong  
đó, một số ngành CN CBCT có chỉ số sản  
xuất cao như: sản xuất kim loại tăng 28,6%;  
khai thác quặng kim loại tăng 25,9%; sản  
xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng  
21%; in, sao chép bản ghi các loại tăng  
15,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và  
plastic tăng 14,3%; ...  
Mặt khác, chỉ số tiêu thụ sản phẩm ngành  
CN CBCT tiếp tục tăng lên trong những năm  
gần đây, đến năm 2019, chỉ số tiêu thụ sản  
phẩm toàn ngành đạt 109,5%, tập trung cao  
vào một số ngành như: sản xuất kim loại; sản  
xuất than cốc và sản phẩm dầu mở tinh chế;  
in, sao chép bản ghi; sản xuất sản phẩm từ  
cao su và plastic; ...  
Bên cạnh đó, tính đến hết năm 2019, xuất  
khẩu ngành CN CBCT chiếm tới 94,1 % tổng  
giá trị xuất khẩu. Nhìn chung, tỷ trọng xuất  
khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc  
về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước  
ngoài. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu  
bao gồm: hàng điện tử, máy tính và linh kiện;  
điện thoại các loại và linh kiện; giầy dép;  
hàng dệt may và nguyên phụ liệu của ngành  
dệt may; ...  
b) Về thu hút FDI và đóng góp cho  
xuất khẩu  
Trong số các ngành kinh tế, CN CBCT là  
ngành thu hút phần lớn vốn FDI và đóng góp  
Bảng 1. Cơ cấu xuất khẩu theo ngành kinh tế  
Đơn vị: Triệu đô la Mỹ  
2010 2015  
2016  
100  
4.5  
1.7  
93.3  
0.5  
2017  
100  
4.0  
1.7  
93.7  
0.6  
2018  
100  
3.5  
1.2  
93.2  
2.1  
2019  
100  
3.08  
0.96  
94.09  
1.87  
100  
7.1  
9.4  
100  
4.0  
2.7  
TỔNG SỐ  
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản  
Khai khoáng  
Công nghiệp chế biến, chế tạo  
Ngành khác  
82.6 92.5  
0.9 1.8  
Nguồn: (Tổng cục Thống kê, 2020)  
Tuy nhiên, CN CBCT cũng hiện là ngành  
đang chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị nhập  
khẩu của nền kinh tế, chiếm xấp xỉ 89,0%  
trong năm 2019. Điều này cho thấy sự phụ  
thuộc lớn vào nhập khẩu trong hoạt động sản  
xuất của ngành CN CBCT; đồng thời, cho  
thấy sự kém phát triển của các ngành công  
nghiệp hỗ trợ trong nước. Nhìn chung, CN  
CBCT Việt Nam vẫn ở vị trí thấp trong chuỗi  
giá trị toàn cầu; chỉ tham gia được ở các công  
20  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(03) - 2020  
đoạn có GTGT thấp như gia công, lắp ráp;  
chưa tương xứng. Tỷ lệ nội địa hóa thấp tác  
động kìm hãm mức tăng trưởng và chất  
lượng tăng trưởng của Việt Nam.(Viện Năng  
suất Việt Nam, 2018)  
không chủ động được nguồn cung cho sản  
xuất, đặc biệt là đối với các ngành phải nhập  
khẩu nguyên phụ liệu như dệt may, da giày,  
điện tử, hóa chất, .... Chính vì vậy, CN  
CBCT Việt Nam đạt thành tích lớn về quy  
mô xuất khẩu, nhưng thực chất GTGT thu về  
Bảng 2. Việc làm trong ngành CN CBCT Việt Nam  
3.1.2. Bền vững về xã hội:  
a) Về tạo việc làm  
2010  
49124.4  
2015  
53110.5  
0.2  
2016  
53345.5  
0.4  
2017  
53708.6  
0.7  
2018  
54282.5  
1.1  
2019  
54659.2  
0.7  
Tổng số LĐ  
Tốc độ tăng  
CN CBCT  
Tốc độ tăng  
Tỷ trọng  
7051.3  
14.4  
8457.5  
9.6  
15.9  
9049.2  
7.0  
17.0  
9537.6  
5.4  
17.8  
9999.8  
4.8  
18.4  
11287.6  
12.9  
20.7  
Nguồn: (Tổng cục Thống kê, 2020)  
Tổng số việc làm trong ngành CN CBCT tăng liên tục trong những năm gần đây, đồng thời,  
tốc độ tăng và tỷ trọng lao động đang làm việc trong ngành CN CBCT cũng tăng liên tục cho  
thấy vai trò ngày càng quan trọng của ngành CN CBCT trong việc tạo ra sự bền vững về mặt xã  
hội. Xét về tốc độ tăng, CN CBCT có tốc độ tăng số lượng việc làm lớn hơn nhiều so với tốc độ  
tăng chung về tổng số việc làm trong nền kinh tế Việt Nam; xét về tỷ trọng, đây là ngành có tỷ  
trọng lao động đang làm việc lớn thứ hai (sau ngành nông lâm, thủy sản), tuy nhiên quá trình  
chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ nhìn chung vẫn còn  
chậm, đòi hỏi cần có sự phát triển mạnh mẽ hơn từ phía ngành CN CBCT để thúc đẩy quá trình  
chuyển dịch lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nền kinh tế.  
b) Về trình độ lao động:  
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong ngành CN CBCT có xu hướng tăng từ 2010 đến nay,  
tuy nhiên, đến năm 2013, tốc độ tăng có xu hướng chững lại, đặc biệt, tỷ lệ lao động đã qua đào  
tạo của CN CBCT từ 2014 đến nay có xu hướng thấp hơn so với tỷ lệ chung của cả nước. Điều  
này cho thấy sản xuất CBCT trong thời gian qua vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc nâng cao  
chất lượng lao động trong ngành.  
Hình 2. Tỷ trọng lao động đã qua đào tạo ngành CN CBCT  
Nguồn: (Tổng cục Thống kê, 2020)  
21  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Tương tự, xét về năng suất lao động, mặc  
Khu, Cụm Công nghiệp là sự tồn tại của  
những dự án, cơ sở thuộc loại hình sản xuất  
công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi  
trường như: luyện kim, khai thác khoáng sản,  
phá dỡ tàu biển, sản xuất giấy, bột giấy, dệt  
nhuộm, thuộc da, lọc hoá dầu, nhiệt điện, sản  
xuất thép, hóa chất, phân bón hóa học, thuốc  
bảo vệ thực vật, chế biến tinh bột sắn; chế  
biến mía đường; chế biến thuỷ sản, giết mổ  
gia súc, gia cầm... Nhiều cơ sở có nguồn phát  
thải lớn như Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn,  
Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp  
Formosa Hà Tĩnh, các dự án nhiệt điện tại  
trung tâm điện lực Vĩnh Tân, Dự án Nhà máy  
Alumin Nhân Cơ, Dự án “Tổ hợp Bauxite-  
Nhôm Lâm Đồng”... Đáng lo ngại, tính đến  
tháng 12/2019, trên phạm vi cả nước còn 171  
cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng  
chưa hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm  
triệt để. Như vậy, sản xuất CN CBCT vẫn  
chưa tạo ra những tác động tích cực đối với  
việc bảo vệ và cải tạo môi trường. Đây cũng  
là thách thức lớn trong phát triển CN CBCT  
theo hướng bền vững về môi trường, đặc  
biệt, trong bối cảnh tham gia các hiệp định  
thương mại tự do thế hệ mới, điều này sẽ gây  
ra những cản trở lớn cho việc tận dụng các cơ  
hội từ hiệp định.  
dù CN CBCT có năng suất lao động cao gần  
gấp đôi ngành Nông lâm nghiệp và thủy sản,  
tuy nhiên, thấp hơn hầu hết các ngành khác  
trong nền kinh tế. Đặc biệt, trong 2 năm gần  
đây, năng suất lao động của ngành thấp hơn  
cả mức chung của cả nước. Năng suất lao  
động thấp sẽ cản trở việc tăng thu nhập, tăng  
mức sống cho người lao động trong ngành  
này, do đó, hạn chế tính bền vững về mặt xã  
hội trong quá trình phát triển bền vững của  
toàn ngành.  
3.1.3. Bền vững về môi trường:  
Theo Báo cáo về hiện trạng môi trường  
quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 (Bộ tài  
nguyên và môi trường, 2015), tỷ lệ áp dụng  
công nghệ hiện đại trong các lĩnh vực sản  
xuất, kinh doanh còn khoảng cách khá xa so  
với các quốc gia khác trong khu vực, do vậy,  
để sản xuất các mặt hàng cần tiêu thụ nhiều  
hơ nguyên liệu và năng lượng, thải ra nhiều  
hơn chất thải, lại không được xử lý hoặc xử  
lý không đảm bảo, gây ô nhiễm môi trường.  
Điều này cũng dẫn đến giá trị gia tăng ngành  
công nghiệp còn thấp, có xu hướng giảm, dẫn  
đến hiệu quả đầu tư thấp.  
Theo dự thảo Báo cảo công tác bảo vệ  
môi trường năm 2019 (Chính phủ, 2020),  
tính đến cuối năm 2019, cả nước có 372  
KCN đã được thành lập (cả trong và ngoài  
Khu Kinh tế (KKT) ven biển) trong đó có  
280 KCN đã đi vào hoạt động (tăng 29 KCN  
so với năm 2018) và 92 KCN đang trong giai  
đoạn xây dựng cơ bản; 698 CCN đang hoạt  
động (tăng 9 CCN so với năm 2018). Song  
song với sự tăng lên về số lượng của các  
3.2. Tình hình liên kết và ảnh hưởng liên  
kết đến phát triển bền vững ngành CN  
CBCT  
Về hệ số liên kết ngược và liên kết xuôi  
của ngành CN CBCT:  
22  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(03) - 2020  
Bảng 3. Các hệ số tác động của ngành CN CBCT và các ngành còn lại trong nền kinh tế giai  
đoạn 2011-2015 và 2016-2020  
Liên  
Liên  
Hệ số  
Liên  
Liên  
Hệ số  
kết  
kết  
lan tỏa  
kết  
kết  
lan tỏa  
ngược xuôi đến NK ngược xuôi đến NK  
1
Sản phẩm nông nghiệp, lâm  
nghiệp và thủy sản  
1,06  
1,10  
1,16  
1,38  
0,93  
3,89  
1,12  
1,57  
1,82  
1,13  
0,97  
1,18  
1,45  
0,86  
4,67  
1,20  
1,28  
1,65  
2
Sản phẩm khai khoáng  
3
Sản phẩm công nghiệp chế  
biến, chế tạo  
4
5
Điện, khí đốt, nước nóng hơi  
nước và điều hòa không khí  
0,93  
0,83  
0,63  
0,87  
0,77  
0,67  
Nước tự nhiên khai thác; dịch vụ  
quản lý và xử lý rác thải, nước  
thải  
0,91  
1,10  
0,88  
0,69  
0,77  
0,98  
0,96  
1,46  
0,57  
0,94  
1,20  
0,95  
0,62  
0,71  
0,96  
1,04  
1,48  
0,75  
6
7
Sản phẩm xây dựng  
DV bán buôn và bán lẻ; dịch vụ  
sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và  
xe có động cơ khác  
8
9
DV vận tải kho bãi  
1,03  
1,74  
0,99  
1,01  
1,25  
2,43  
1,13  
1,05  
0,96  
0,92  
1,31  
1,28  
DV thông tin và truyền thông  
10 DV tài chính, ngân hàng và bảo  
hiểm  
0,93  
0,80  
1,02  
0,85  
1,03  
0,82  
0,81  
0,68  
0,52  
0,31  
0,93  
0,58  
0,96  
0,89  
1,00  
1,03  
0,99  
0,81  
0,83  
0,62  
0,64  
0,52  
0,93  
0,92  
11 DV kinh doanh BĐS  
12 DV chuyên môn, khoa học và  
công nghệ  
13 DV hành chính và hỗ trợ  
14 DV của Đảng cộng sản, tổ chức  
chính trị - xã hội, quản lý nhà  
nước, an ninh quốc phòng …  
0,79  
0,61  
0,42  
0,87  
0,54  
0,68  
15 DV giáo dục và đào tạo  
16 DV y tế và trợ giúp xã hội  
0,80  
0,94  
0,63  
0,62  
0,36  
1,52  
0,84  
1,00  
0,56  
0,54  
0,54  
1,43  
17 DV nghệ thuật, vui chơi và giải  
1,01  
0,95  
0,70  
0,63  
0,62  
0,93  
1,00  
0,98  
0,62  
0,55  
0,64  
1,02  
trí  
18 DV khác  
Nguồn: Xử lý và tính toán từ bảng I-O 2012, 2016, Tổng cục Thống kê  
Một điểm nổi bật là, CN CBCT là ngành  
có có hệ số liên kết xuôi lớn nhất trong số 18  
nhóm ngành và hệ số liên kết ngược đứng vị  
trí thứ hai. Đặc biệt, hệ số liên kết xuôi của  
ngành CN CBCT có giá trị tương đối lớn  
(3,89 trong giai đoạn 2011-2015 và tiếp tục  
tăng lên 4,67 trong giai đoạn 2016-2020),  
thể hiện vai trò cung ứng lớn của CN CBCT  
cho toàn bộ các ngành sản xuất còn lại trong  
nền kinh tế. Bên cạnh đó, hệ số liên kết  
ngược của CN CBCT cũng lớn hơn 1 (tương  
ứng với giá trị 1,16 và 1,18 trong hai giai  
đoạn), những ngành có chỉ tiêu liên kết  
ngược lớn hơn 1 sẽ được xem là ngành có  
sức lan tỏa lớn, như vậy, một sự tăng hoặc  
giảm về cầu cuối cùng đối với sản phẩm của  
23  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
các ngành CN CBCT sẽ ảnh hưởng đáng kể  
đến các ngành khác và cả nền kinh tế. Như  
vậy, có thể đánh giá rằng, CN CBCT có tác  
động liên kết lớn với các ngành trong nền  
kinh tế, sự phát triển của CN CBCT có tác  
động lớn đến hoạt động sản xuất của các  
ngành còn lại trong nền kinh tế.  
Bảng 4. Tỷ lệ sử dụng linh kiện trong nước  
của các nhà lắp ráp tại Việt Nam  
Lĩnh vực hạ nguồn  
Tỷ lệ % cung ứng  
trong nước  
85-90%  
15-40%  
20%  
Xe máy  
Ô tô  
Sản xuất thiết bị đồng bộ  
Về tác động đến nhập khẩu, có thể thấy  
rằng, CN CBCT hiện đang là ngành có hệ số  
lan tỏa đến nhập khẩu tương đối lớn ( tương  
ứng 1,82 và 1,65 trong hai giai đoạn), tuy  
nhiên, xu hướng là giảm dần. Như vậy, sản  
xuất CN CBCT của Việt Nam hiện nay vẫn  
phụ thuộc lớn vào nhập khẩu tư liệu sản xuất  
và nguyên vật liệu từ nước ngoài khiến cho  
đóng góp của ngành vào GTGT của nền kinh  
tế vẫn ở mức thấp, dẫn đến hạn chế việc tăng  
thu nhập, tăng mức sống cho người lao động,  
cản trở tính bền vững về xã hội trong quá  
trình phát triển bền vững của ngành. Điều  
này đặt ra yêu cầu cần thiết phải phát triển  
các ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước để  
nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từ đó, nâng cao sự  
đóng góp của CN CBCT vào GTGT của nền  
kinh tế, cũng chính là đóng góp vào tăng  
trưởng kinh tế của Việt Nam trong những  
năm tiếp theo.  
Sản xuất máy nông  
nghiệp, máy động lực  
40-60%  
40%  
Sản xuất máy công  
nghiệp  
Công nghiệp công nghệ  
cao  
10%  
Nguồn: Bộ Công thương, 2017  
Tỷ lệ cung ứng nội địa trong nước cho các  
nhà lắp ráp thấp, thường do các doanh nghiệp  
đầu tư nước ngoài đảm nhiệm. Sản phẩm  
CNHT chủ yếu do doanh nghiệp FDI sản  
xuất hoặc nhập khẩu. Các sản phẩm doanh  
nghiệp nội địa sản xuất có chất lượng thấp,  
giá thành cao (công nghệ lạc hậu, chậm đổi  
mới (do hạn chế nguồn lực, qui trình sản xuất  
kém…) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ  
các doanh nghiệp nội địa. Sự liên kết yếu  
giữa các DN trong quá trình sản xuất của  
ngành CN CBCT cũng gây ra những khó  
khăn trong việc cải thiện môi trường sản  
xuất, bảo vệ môi trường sinh thái, cản trở sự  
cải thiện về tính bền vững trong môi trường  
trong quá trình phát triển của ngành.  
Về mối liên kết giữa các doanh nghiệp  
trong chuỗi sản xuất, cung ứng CN CBCT:  
Về cơ bản, sau hơn 30 năm phát triển, ngành  
CN CBCT Việt Nam vẫn trong tình trạng lắp  
ráp cho các thương hiệu nước ngoài. Các  
doanh nghiệp trong nước vẫn gần như chỉ  
khai thác sản phẩm cũ, lợi nhuận rất thấp và  
giá trị gia tăng chỉ ước tăng 5-10%/năm.  
Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI đang  
đứng trước sức ép phải giảm chi phí linh phụ  
kiện và nâng cao giá trị gia tăng của các sản  
phẩm sản xuất trong nước. Do số doanh  
nghiệp hỗ trợ vẫn rất ít so với số lượng doanh  
nghiệp lắp ráp, chất lượng linh phụ kiện chưa  
đảm bảo nên phần lớn các doanh nghiệp FDI  
phải nhập khẩu linh phụ kiện từ các nước  
xung quanh.  
Về sự hình thành các cụm, khu CN, cụm  
liên kết ngành (CLKN)  
Trong những năm qua, một số CLKN,  
cụm CNĐT cũng đã tồn tại và hiện hữu một  
cách tự nhiên. Chẳng hạn như: KCN Thăng  
Long (Nội Bài, Hà Nội) với sự tập trung của  
nhiều DN đến từ Nhật Bản, KCN này liên kết  
các DN lắp ráp cơ điện tử lớn như Canon,  
Panasonic với các DN cung cấp phụ tùng  
linh kiện cũng đến từ Nhật Bản như Nissei,  
Santomas, Yasufuku, ...; Tại miền bắc, cụm  
CN bao gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Thái  
Nguyên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hải Dương,  
24  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(03) - 2020  
Hưng Yên, Bắc Giang với sự tập trung nhiều  
bước phát triển nhanh chóng, đã có những  
đóng góp đáng kể và được coi là động lực chủ  
yếu cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam, thúc  
đẩy xuất khẩu và thu hút dòng vốn FDI. Tuy  
nhiên, thực trạng quá trình phát triển của  
ngành cũng cho thấy một số hạn chế lớn còn  
tồn tại, đặc biệt là sự liên kết yếu trong quá  
trình sản xuất khiến ngành CN CBCT khó có  
thể nâng cao giá trị gia tăng và đóng góp thực  
chất hơn vào quá trình phát triển bền vững của  
ngành. Trong những năm tiếp theo, ngành CN  
CBCT vẫn được coi là động lực chính cho  
tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Để có thể thúc  
đẩy sự phát triển bền vững của ngành CN  
CBCT, cần có những giải pháp để thúc đẩy  
liên kết trong ngành CN CBCT. Cụ thể là:  
các Tập đoàn đa quốc gia như Canon,  
Samsung, Nokia, LG, Panasonic, ... và nhiều  
doanh nghiệp vệ tinh, chủ yếu là DN FDI;  
trong đó, các tập đoàn đa quốc gia đóng vai  
trò là DN chủ đạo để hình thành và phát triển  
các cụm ngành. Tại miền nam, hiện cũng đã  
bắt đầu hình thành cụm ngành công nghệ  
cao, đặc biệt là vi mạch điện tử và công nghệ  
thông tin ở TP Hồ Chí Minh; cụm ngành điện  
tử tại Bình Dương; ... Tuy nhiên, sự tham gia  
của DN CNHT nội địa vẫn còn rất hạn chế,  
thể hiện sự liên kết yếu giữa các DN nội địa  
với các công ty điện tử lớn, các tập đoàn đa  
quốc gia.  
Sự mở rộng liên tục về mặt quy mô các  
KCN, cụm CN nhưng không được định  
hướng một cách hợp lý cũng là nguyên nhân  
chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi  
trường ngày một nghiêm trọng ở các khu,  
cụm công nghiệp, ảnh hưởng xấu đến quá  
trình phát triển bền vững của toàn ngành.  
Thứ nhất, các DN nội địa cần nỗ lực hơn  
nữa trong việc nâng cao năng lực sản xuất để  
đáp ứng các yêu cầu của DN FDI, các tập  
đoàn đa quốc gia, tham gia vào các chuỗi  
cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu, từ đó, nâng  
cao giá trị gia tăng và thúc đẩy quá trình phát  
triển bền vững cho toàn ngành CN CBCT. Để  
làm được điều này, giải pháp nỗ lực đổi mới  
công nghệ và đổi mới tổ chức hoạt động sản  
xuất, chú trọng đến các vấn đề bảo vệ môi  
trường sẽ có ý nghĩa lớn. Các doanh nghiệp  
cần chủ động đổi mới, áp dụng tiến bộ công  
nghệ vào hoạt động sản xuất; tăng cường kết  
nối với các DN, tập đoàn đa quốc gia để học  
hỏi, tiếp thu công nghệ và quá trình tổ chức  
hoạt động sản xuất để tăng năng suất, giá trị  
gia tăng của sản phẩm. Bên cạnh đó, cần chú  
trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực  
trong DN để nắm bắt tốt công nghệ, các thông  
tin về sản xuất, thị trường, ... Đồng thời, quy  
trình sản xuất cần quan tâm đến các vấn đề  
bảo vệ môi trường, đáp ứng các tiêu chuẩn về  
môi trường trong quá trình sản xuất, điều này  
là rất quan trọng để có thể tham gia vào các  
chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu và  
đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe khi  
Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào quá  
trình hội nhập kinh tế thế giới.  
Về mối liên kết giữa DN với hệ thống hiệp  
hội, trung tâm hỗ trợ DN: theo đánh giá của  
CIEM (2016)(Viện Nghiên cứu Mitsubishi  
and Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung  
Ương, 2016), chính quyền địa phương đang  
vận hành trung tâm hỗ trợ DN và các trung  
tâm khuyến công tại mỗi một tỉnh, thành phố,  
tuy nhiên, nhận thức của các DN về sự tồn tại  
của những cơ sở này có thể rất thấp. Chính vì  
vậy, tần suất sử dụng các cơ sở này cũng rất  
thấp. Điều này thể hiện tính liên kết yếu giữa  
DN với các cơ quan, tổ chức hỗ trợ DN. Điều  
này cũng gây ra khó khăn trong công tác  
định hướng, triển khai các chính sách tác  
động của Nhà nước theo hướng sản xuất bền  
vững ngành CN CBCT.  
4. Kết luận và đề xuất một số giải pháp  
thúc đẩy liên kết để phát triển bền vững  
ngành CN CBCT  
Như vậy, có thể thấy rằng, trong những  
năm vừa qua, ngành CN CBCT đã có những  
25  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Thứ hai, Chính phủ cũng cần có các chính  
tiến vào quá trình sản xuất để hạn chế tình  
trạng ô nhiễm môi trường, cải thiện tính bền  
vững về môi trường.  
sách để phát triển các khu, cụm ngành công  
nghiệp theo hướng chuyên sâu để tạo thành  
các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, từ đó,  
thúc đẩy liên kết giữa các DN trong nước và  
giữa DN nội địa với DN FDI, các tập đoàn đa  
quốc gia; tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp  
dụng các tiêu chuẩn về môi trường trong quá  
trình sản xuất . Đồng thời, cần định hướng  
dòng vốn FDI theo hướng tăng cường liên  
kết với DN trong nước, tăng cường thu hút  
FDI vào các các ngành công nghiệp hỗ trợ để  
tăng tỷ lệ nội địa hóa, áp dụng công nghệ tiên  
Mặt khác, cần tăng cường sự phối hợp và  
liên kết giữa DN với các cơ quan quản lý  
Nhà nước, các tổ chức, trung tâm, hiệp hội  
hỗ trợ DN để có thể kịp thời trao đổi, cung  
cấp các thông tin, quy định liên quan đến  
việc thực thi các Hiệp định, các thông tin về  
thị trường, các thông tin về chính sách ưu  
đãi, chính sách hỗ trợ, chính sách liên quan  
đến môi trường ... cho doanh nghiệp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Abdin, J. 2016. Government’s role in industrial cluster development [Online]. Available:  
joynal-abdin [Accessed 4-9 2018].  
Bắc, N. H. 2020. Nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái  
Nguyên. Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân.  
Bộ Tài nguyên và Môi trường 2015. Báo cáo về hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011  
– 2015 Hà Nội.  
Chính phủ 2020. Dự thảo Báo cáo về công tác bảo vệ môi trường năm 2019. Hà Nội.  
Colovic, A. & Lamotte, O. 2014. The role of formal industry clusters in the internationalization  
of new ventures. European Business Review, 26, 449-470.  
Dobson, S. M. 1984. An analysis of the role of linkages in peripheral area development: the  
case of devon and cornwall. Universit y of Exeter.  
Huân, N. V. 2012. Liên kết vùng từ lý luận đến thực tiễn. Kỷ yếu diễn đàn kinh tế mùa thu. Hà Nội.  
Ký, H. M. & Duy, L. M. N. 2012. Liên kết kinh tế vùng: Từ lý luận đến thực tiễn. Kỷ yếu diễn  
đàn kinh tế mùa thu 2012. Hà Nội.  
Levinson, C. 2018. Definition of the Manufacturing Industry. Available:  
Liêm, P. S. Tăng cường liên kết công nghiệp giữa Hà Nội và các địa phương trong vùng thủ đô  
[Online].Available:  
CacTinh.pdf [Accessed 30/8 2020].  
Nadvi, K. & BARRIENTOS, S. 2004. Industrial clusters and poverty reduction.  
Ngọc, L. M. & TRANG, L. H. 2011. Một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển các cụm liên kết  
ngành tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Nghiên cứu kinh tế số 396, 41-50.  
Sơn, N. N. 2015. Phát triển cụm ngành công nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và  
hội nhập kinh tế quốc tế. Kỷ yếu hội thảo quốc gia: Phát triển kinh tế xã hội Việt Nam và  
ngành ngân hàng trong bối cảnh Hội nhập. Hà Nội.  
Tài, N. Đ. 2013. Hình thành và phát triển cụm liên kết ngành ở Việt Nam: Một lựa chọn chính  
sách [Online]. Cổng thông tin kinh tế Việt Nam - Viện quản lý kinh tế Trung Ương.  
cum-lien-ket-nganh-o-Viet-Nam-Mot-so-lua-chon-chinh-sach.html [Accessed 20/7/2016 2016].  
26  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(03) - 2020  
Thanh, T. B. 2009. Liên kết kinh tế miền Trung và Tây Nguyên - Từ lý luận đến thực tiễn. Tạp  
chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 1-5.  
Thành, V. T. Phát triển mạng lưới cụm liên kết ngành ở Việt Nam.  
Tổng cục thống kê 2020. Niên giám thống kê 2019. Hà Nội: NXB Thống kê.  
Tùng, N. T. 2018. Xây dựng liên kết kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Luận án tiến  
sỹ kinh tế, Học viện khoa học xã hội.  
Viện năng suất Việt Nam 2018. Báo cáo năng suất Việt Nam 2017. Viện Năng suất Việt Nam.  
Viện nghiên cứu Mitsubishi & Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương 2016. Báo cáo  
Nghiên cứu về nâng cao năng lực các Ngành Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Hà Nội, Việt  
Nam.  
World Bank 2017. Việt Nam: Tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp  
vừa và nhỏ Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế. Hà Nội.  
27  
pdf 15 trang yennguyen 11200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Liên kết để phát triển bền vững ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflien_ket_de_phat_trien_ben_vung_nganh_cong_nghiep_che_bien_c.pdf