Khóa luận Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý môi trường các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------  
VŨ HỒNG QUÂN  
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CÁC LÀNG NGHỀ  
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Văn bằng 2  
Chuyên ngành/ngành: Khoa học môi trường  
Khoa  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2017-2019  
Thái Nguyên – năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------  
VŨ HỒNG QUÂN  
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CÁC LÀNG NGHỀ  
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Văn bằng 2  
Chuyên ngành/ngành: Khoa học môi trường  
Lớp  
Khoa  
Khóa học  
: KHMT K48  
: Môi trường  
: 2017-2019  
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Hà Đình Nghiêm  
9 Thái Nguyên – năm 2019  
i
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp đã giúp tôi trao dồi, củng cố, bổ sung kiến thức đã học  
tập được ở trường. Qua đó học hỏi và rút kinh nghiệm cho bản thân để khi ra  
trường trở thành một cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ lý  
luận cao, chuyên môn giỏi đáp ứng các yêu cầu cấp thiết của xã hội.  
Được sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, Trường Đại  
học Nông Lâm-Thái Nguyên và quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, tôi thực hiện  
đề tài “Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý môi trường các làng nghề trên địa  
bàn tỉnh Hà Giang”. Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được  
sự giúp đỡ quý báu của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.  
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo trong  
Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường và các thầy,cô  
giáo trường Đại học Nông Lâm-Thái Nguyên. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu  
sắc đến Ths. Hà Đình Nghiêm đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi  
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ths. Nguyễn Văn Hiểu, Giám đốc  
Trung tâm Nghiên cứu Địa Tin học và tập thể cán bộ trong trung tâm đã giúp  
đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận án này. Cuối cùng tôi xin tỏ lòng  
biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi cả về  
vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập tại trường.  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh viên  
Vũ Hồng Quân  
 
iii  
DANH MỤC HÌNH  
 
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
BOD5  
: Nhu cầu oxi sinh hóa  
: Bảo vệ môi trường  
BVMT  
BTNMT  
COD  
: Bộ Tài nguyên Môi trường  
: Nhu cầu oxi hóa học  
CSDL  
DO  
: Cơ sở dữ liệu  
: Nồng độ Oxi hòa tan trong nước  
: Đánh giá tác động môi trường  
: Geographic Information System  
: Nghị định chính phủ  
ĐTM  
GIS  
NĐ - CP  
QCVN  
QĐ - TTg  
QH  
: Quy chuẩn Việt Nam  
: Quyết định của Thủ tướng chính phủ  
: Quốc hội  
QCVN  
TCVN  
TT - BTNMT  
UBND  
: Quy chuẩn Việt Nam  
: Tiêu chuẩn Việt Nam  
: Thông tư Bộ tài nguyên và môi trường.  
: Ủy ban nhân dân  
 
v
MỤC LỤC  
 
vi  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Làng nghề là một đặc thù của nông thôn Việt Nam, đóng vai trò quan trọng  
trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng  
công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Sự phát triển làng nghề góp phần xóa đói giảm  
nghèo ở nông thôn, giải quyết việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập, nâng cao  
chất lượng sống… Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với  
các làng nghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng  
đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các  
làng nghề.  
Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nước  
cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát  
triển bền vững các làng nghề. Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản  
xuất cũng như quản lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể. Song, đối với  
không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trường ngày  
càng ô nhiễm trầm trọng.  
Địa bàn tỉnh Hà Giang có hàng chục làng nghề, tạo việc làm cho rất nhiều  
lao động nông thôn và tập trung chủ yếu trong các ngành nghề như: Đan lát,  
dệt lanh, thêu dệt thổ cẩm, chế biến chè, nấu rượu, sản xuất giấy,… Trong đó  
có các làng nghề truyền thống ra đời từ hàng trăm năm như làng nghề dệt thổ  
cẩm dân tộc Tày, dân tộc Pà Thẻn (huyện Quang Bình), làng nghề truyền thống  
sản xuất giấy bản dân tộc Dao (huyện Bắc Quang), làng nghề nấu rượu thóc  
Nàng Đôn (huyện Hoàng Su Phì).  
Bên cạnh những mặt thuận lợi, các làng nghề của Việt Nam nói chung và  
tỉnh Hà Giang nói riêng đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách như  
trình độ sản xuất, chất lượng sản phẩm, các mâu thuẫn về xã hội… nhưng quan  
     
2
trọng nhất là các tác động đến chất lượng môi trường sống và sức khỏe cộng  
đồng do hoạt động sản xuất của làng nghề gây ra. Đa phần các làng nghề được  
hình thành và phát triển một cách tự phát với công nghệ lạc hậu và thiết bị đơn  
giản, thủ công, hiệu quả sử dụng nguyên liệu thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế  
việc đầu tư cho xây dựng các hệ thống bảo vệ môi trường ít được quan tâm; ý  
thức bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sức khỏe cho chính gia đình của  
người lao động còn rất hạn chế. Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường các làng  
nghề ở nông thôn đã và đang là vấn đề bức xúc cần được quan tâm giải quyết.  
Tại Quyết định số 2845/QĐ-UBND ngày 24/12/2018, UBND tỉnh Hà  
Giang đã phê duyệt Danh mục 39 làng nghề được đánh giá, phân loại theo mức  
độ ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Tuy nhiên, danh lục phân  
loại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang mới được phân loại, đánh giá qua  
số liệu phân tích, chưa được tổ chức, xây dựng thành một cơ sở dữ liệu tập  
trung, phục vụ cho việc quản lý, tra cứu và ra quyết định.  
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng cơ  
sở dữ liệu quản lý môi trường các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang”  
là vấn đề cấp thiết.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài  
- Đánh giá hiện trạng hoạt động sản xuất, các nguồn phát sinh chất thải  
và công tác quản lý môi trường tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang.  
- Phân tích, đánh giá hiện trạng môi trường tại các làng nghề trên địa bàn  
tỉnh Hà Giang.  
- Ứng dụng công nghệ GIS xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường làng nghề  
trên địa bàn tỉnh Hà Giang.  
 
3
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học  
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp bản thân tôi có cơ  
hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, giúp tôi  
vận dụng kiến thức đã học vào thực tế và rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và  
phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
- Tăng cường trách nhiệm của các làng nghề trong hoạt động sản xuất tác  
động lớn đến môi trường xung quanh, từ đó có hoạt động tích cực trong việc xử  
lý, bảo vệ môi trường.  
- Cảnh báo nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy thoái môi trường do nước  
thải cũng như các yếu tố khác trong quá trình sản xuất gây ra, ngăn ngừa và  
giảm thiểu ảnh hưởng ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khoẻ của người dân  
trong khu vực làng nghề.  
     
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Căn cứ pháp lý và cơ sở khoa học của đề tài  
2.1.1. Căn cứ pháp lý  
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa  
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 23/6/2014;  
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định  
chi tiết quản lý chất thải và phế liệu;  
- Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ quy định  
về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;  
- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định  
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;  
- Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ  
phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020 và định  
hướng đến năm 2030;  
- Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng chính phủ  
Phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến 2025, tầm  
nhìn 2050;  
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên  
và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại;  
- Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên  
và Môi trường về bảo vệ môi trường Cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch  
vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;  
- QCVN 08:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước mặt  
- QCVN 14:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước thải sinh hoạt.  
       
5
- QCVN 40:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước thải công nghiệp.  
- QCVN 03-MT: 2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới  
hạn cho phép của một số kim loại nặng trong đất.  
- QCVN 05:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
không khí xung quanh.  
2.1.2. Cơ sở khoa học  
Khái niệm về môi trường  
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm 2014 môi  
trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và  
vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự  
tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”[7].  
Tiêu chuẩn môi trường:  
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng  
môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải  
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo  
vệ môi trường [7].  
Ô nhiễm môi trường  
Theo luật Bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam: “Ô nhiễm môi  
trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn  
môi trường”.  
Trên thế giới ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải  
hoặc năng lượng và môi trường đến mức có khả năng gây hại cho sức khỏe  
con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi  
trường. Các tác nhân gây ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải),  
lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc các tác nhân vật lý,  
sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.  
 
6
Khái niệm ô nhiễm nguồn nước:  
Là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học và thành phần sinh học của nước  
không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng  
xấu đến con người và sinh vật[8].  
Khái niệm nước thải:  
Nước thải là: “Một dạng lỏng hòa tan hay trộn lẫn giữa nước (nước dùng,  
nước mưa, nước mặt, nước ngầm, …) và chất thải từ sinh hoạt, sản xuất công  
nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, vui chơi giải trí, giao thông vận tải”.  
Khái niệm về phân tích môi trường:  
Phân tích môi trường được định nghĩa là sự đánh giá môi trường tự nhiên  
và những suy thoái do con người cũng như do các nguyên nhân khác gây ra. Vì  
vậy phân tích môi trường bao gồm các quan trắc về các yêu tố môi trường nói  
chung. Đây là vấn đề rất quan trọng vì qua đó chúng ta có thể thấy được yếu tố  
nào cần được quan trắc và biện pháp nào cần được áp dụng để quản lý, giúp  
chúng ta có thể tránh khỏi các thảm họa sinh thái có thể xẩy ra [5].  
Một số thông số đặc trưng của mẫu phân tích môi trường các làng  
nghề trên địa bàn tỉnh.  
Tổng chất rắn (TSS) là thành phần đặc trưng nhất của nước thải, nó  
bao gồm các chất rắn không tan lơ lửng (SS), chất keo và hòa tan (DS). Chất  
rắn lơ lửng có kích thước hạt 10-4 mm có thể lắng được và không lắng được  
(dạng keo).  
Nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD) và hóa học (COD):  
Mức độ nhiễm bẩn nước thải bởi chất hữu cơ có thể xác định theo lượng  
ôxy cần thiết để ôxy hóa chất hữu cơ dưới tác động của vi sinh vật hiếu khí và  
được gọi là nhu cầu ôxy cho quá trình sinh hóa.  
Nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD):  
7
Là chỉ tiêu rất quan trọng và tiện dùng để chỉ mức độ nhiễm bẩn của nước  
thải bởi các chất hữu cơ. Trị số BOD đo được cho phép tính toán lượng ôxy  
hòa tan cần thiết để cấp cho các phản ứng sinh hóa của vi khuẩn diễn ra trong  
quá trình phân hủy hiếu khí các chất hữu cơ có trong nước thải.  
Nhu cầu ôxy hóa học (COD):  
Là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa hoàn toàn chất hữu cơ và một phần  
nhỏ các chất vô cơ dễ bị ôxy hóa có trong nước thải. Việc xác định COD có  
thể tiến hành bằng cách cho chất ôxy hóa mạnh vào mẫu thử nước thải trong  
môi trường axít.  
Ôxy hòa tan (DO):  
Nồng độ ôxy hòa tan trong nước thải trước và sau xử lý là chỉ tiêu rất quan  
trọng. Trong quá trình xử lý hiếu khí luôn phải giữ nồng độ ôxy hòa tan trong  
nước thải từ 1,5 ÷ 2 mg/l để quá trình ôxy hóa diễn ra theo ý muốn và không  
chuyển sang trạng thái yếm khí. Ôxy là khí có độ hòa tan thấp và nồng độ ôxy  
hòa tan phụ thuộc vào nhiệt độ, nồng độ muối có trong nước.  
Trị số pH:  
Trị số pH cho biết nước thải có tính trung hòa, tính axit hay tính kiềm.  
Quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học rất nhạy cảm với sự dao  
động của trị số pH.  
Lưu huỳnh:  
2-  
Trong nước thải khai thác than, lưu huỳnh thường tồn tại ở dạng gốc SO4  
do đặc tính trầm tích các bon trong than mà lưu huỳnh thường xuất hiện trong  
các mỏ lộ thiên và quá trình khai thác than, lưu huỳnh bị hòa tan trong nước và  
làm cho pH của nước thải mỏ rất thấp.  
Các kim loại:  
Trong nước thải khai thác than có rất nhiều các kim loại nhưng đáng chú  
ý nhất là Sắt (Fe), Mangan (Mn) và Asen (As), các kim loại này có sẵn trong  
8
các vỉa than do trầm tích các bon sinh ra và hoà tan vào nước thải mỏ trong quá  
trình khai thác than.  
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong môi  
trường đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, áp dụng từ những năm 70  
của thế kỷ 20. Nhiều nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá môi trường đất, nước,  
không khí và ô nhiễm tiếng ồn, cụ thể qua một số nghiên cứu dưới đây:  
Ali Asghar Alesheikh (2010) “Ứng dụng GIS trong quản lý ô nhiễm tiếng  
ồn giao thông trong đô thị” đã thu thập dữ liệu bằng đo đạc, đánh giá mức độ  
tiếng ồn giao thông đô thị và phân tích nguồn ô nhiễm tiếng ồn về thời gian  
và không gian do giao thông gây ra. Công việc đo đạc đã được thực hiện tại  
cả thời gian cao điểm giao thông và khi lưu thông trên đường ở mức tối thiểu  
trong suốt ba tháng liên tiếp và kết quả cho thấy rằng hầu hết các khu vực  
thương mại và dân cư xung quanh các đường phố chính đang bị ô nhiễm tiếng  
ồn. Tác giả đã thực hiện các quy trình xử lý dữ liệu, phân tích không gian và  
sử dụng mô hình được tích hợp trong chức năng của phần mềm môi trường  
ArcGIS để cung cấp đầy đủ công cụ trong nghiên cứu và giải quyết vấn đề ô  
nhiễm tiếng ồn. [10]  
Arnaldo Liberti (1975) “Những phương pháp hiện đại cho việc giám sát  
ô nhiễm không khí” đã chỉ ra rằng các kỹ thuật phân tích nguồn ô nhiễm đang  
được đa dạng hóa nhằm đối phó với sự biến chuyển của các chất ô nhiễm mới.  
Với mục đích giám sát hiệu quả hơn những chất ô nhiễm này và để có được  
một sự hiểu biết sâu hơn về các biến thể của môi trường, tác giả đã sử dụng các  
thiết bị tĩnh, thiết bị cơ giới tự động, các thiết bị cảm biến điểm và cảm biến từ  
xa và đường truyền dài nhằm dự báo, giám sát các chất ô nhiễm tiêu biểu kết  
hợp với đánh giá chất lượng không khí của khu vực nghiên cứu [11].  
   
9
Ashok Lumb (2006) “Áp dụng chỉ số chất lượng nước CCME để giám  
sát chất lượng môi trường nước lưu vực sông Mackenzie, Canada”. Nghiên cứu  
đã sử dụng hai phương thức của hàm mục tiêu (giá trị ngưỡng): Một là dựa trên  
chỉ số chất lượng nước CCME và hai là dựa trên giá trị tính toán đặc biệt được  
xác định bằng cách phân tích thống kê cơ sở dữ liệu được sử dụng để xây dựng  
hệ thống thông tin chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu. Kết quả cho thấy  
chất lượng nước tiểu lưu vực Mackenzie - Great Bear có tổng độ đục và hàm  
lượng kim loại vi lượng cao do tải trọng chất lắng đọng lơ lửng cao trong mùa  
mưa. Việc sử dụng chỉ số CCME góp phần cung cấp thông tin về chất lượng  
nước và các vấn đề sức khỏe của người dân sống trong lưu vực Mackenzie [12].  
F. Farcas (2010) “Tiếng ồn giao thông: Sử dụng công cụ GIS trong việc  
thiết lập bản đồ tiếng ồn giao thông, địa điểm nghiên cứu cho khu vực Skane,  
Thụy Điển” đã xây dựng gói phần mềm tính toán mức độ tiếng ồn kết hợp sử  
dụng công cụ ArcGIS để xây dựng bản đồ hiển thị mức độ ô nhiễm tiếng ồn  
cho khu vực nghiên cứu. Tiếng ồn được tính toán dựa trên các công thức toán  
học có sẵn trong phương pháp dự đoán Nordic và mức độ ảnh hưởng của tiếng  
ồn tới dân cư. Kết quả tính toán đã chỉ ra rằng khoảng 5.65 % dân số trong khu  
vực đô thị Lund bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn với cường độ lớn hơn 55 dB và  
những kết quả của nghiên cứu có thể được sử dụng trong các nghiên cứu về y  
học, xây dựng giao thông đô thị và các biện pháp giảm thiểu tiếng ồn [13].  
G. Hadjimitsis (2004) “Sử dụng công cụ GIS kết hợp quan sát trái đất  
trong giám sát ô nhiễm không khí” đã kết luận rằng ứng dụng GIS kết hợp quan  
sát trái đất bằng các thiết bị vệ tinh sẽ là một phương pháp hữu ích trong việc  
giám sát và thiết lập bản đồ ô nhiễm không khí. Lợi ích lớn của phương pháp  
này không chỉ là cung cấp đầy đủ thông tin khái quát các khu vực rộng lớn, mà  
phương pháp này có thể xây dựng bản đồ ô nhiễm không khí dựa trên những  
chỉ số mặt đất và giá trị AOT thu được từ vệ tinh.[14]  
10  
Jantien Stoter (2000) “Công nghệ GIS và xây dựng bản đồ tiếng ồn; Tối  
ưu hóa chất lượng cũng như sự hiệu quả của những nghiên cứu về ảnh hưởng  
tiếng ồn” đã đưa ra nhận định rằng việc khai thác hợp lý các ứng dụng của GIS  
trong xây dựng bản đồ ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn có thể tối ưu hóa chất  
lượng cũng như sự hiệu quả của các nghiên cứu về ảnh hưởng tiếng ồn.Trong  
nghiên cứu này, tác giả đã chuẩn hóa các dữ liệu bằng cách thực hiện tự động  
hóa các quy trình xây dựng bản đồ trong GIS, đánh giá những rủi ro tiềm tàng  
và phát triển các phương pháp để phân loại mức độ ảnh hưởng của tiếng ồn cho  
khu vực nghiên cứu [15].  
Adedeji O.H (2016) “Ứng dụng công nghệ GIS để xây dựng bản đồ ô  
nhiễm không khí giao thông ở Liebu-Ode, Nigeria” đã sử dụng các máy dò khí  
cầm tay (Land Duo Multi Gas Monitor) để xác định các đặc tính không gian và  
thời gian của các chất gây ô nhiễm không khí tại các nút giao cắt, nhà để xe và  
chợ khu vực Liebu-Ode. Việc lập bản đồ nồng độ khác nhau của các chất gây  
ô nhiễm không khí được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp nội suy  
trong GIS. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả đều đạt tiêu chuẩn chất lượng  
không khí. Tuy nhiên khi kết hợp với AQI tác giả thấy rằng chất lượng không  
khí rất kém ở hầu hết các khu vực và đòi hỏi phải tăng cường các tiêu chuẩn  
chất gây ô nhiễm không khí dựa trên cơ sở sức khỏe của con người [9].  
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước  
Mặc dù là một nước có nền công nghệ thông tin đi sau nhiều nước tiên  
tiến trên thế giới hàng nhiều thập kỷ. Song những năm gần đây, việc ứng dụng  
công nghệ thông tin, GIS đã được ứng dụng rộng rãi trong tất các lĩnh vực,  
trong đó có lĩnh vực môi trường, được sơ lược qua một số nghiên cứu dưới đây:  
Lưu Thị Ngoan (2016) “Ứng dụng GIS và phương pháp đa chỉ tiêu đánh  
giá thoái hóa đất huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế” đã ứng dụng thành công  
công nghệ GIS và phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu (MCE) trong đánh giá thoái  
 
11  
hóa đất tổng hợp theo các kiểu vùng: ven biển, đồng bằng, đồi núi trên địa bàn  
huyện. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng thành công bản đồ thoái hóa đất huyện  
Phú Lộc và diện tích thoái hóa đất của huyện theo từng loại đất sử dụng, loại  
thổ nhưỡng và bên cạnh đó cũng đề ra những giải pháp giảm thiểu thoái hóa  
đất trên địa bàn huyện [2].  
Bùi Tá Long (2007) “Xây dựng mô hình giám sát môi trường không khí  
khu công nghiệp Biên Hòa 1 bằng kỹ thuật tin học” đã tính toán mô phỏng sự  
phát tán ô nhiễm không khí để tìm ra giá trị trung bình tháng cực đại của 4 chất  
ô nhiễm chính: Bụi, CO, SO2, và NO2 cũng như tìm ra nồng độ trung bình ngày  
lớn nhất trong từng tháng, từ kết quả đó có thể thấy rõ sự ảnh hưởng của khí  
tượng lên sự phát tán ô nhiễm môi trường khu công nghiệp này. [1]  
Phạm Tiến Sỹ (2014) “Xây dựng bản đồ ô nhiễm tiếng ồn do hoạt động  
giao thông đường bộ tại một số trục giao thông trọng yếu của thành phố Hà  
Nội” đã nhận định rằng ô nhiễm tiếng ồn được xem là một trong những mối  
nguy hiểm lớn đối với sức khỏe con người, nguy hiểm không khác gì các hiện  
tượng ô nhiễm khác. Ô nhiễm tiếng ồn đang ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường  
và chất lượng sống của con người. Tác giả đã sử dụng GIS làm công cụ chính  
để xây dựng bản đồ ô nhiễm tiếng ồn do hoạt động giao thông đường bộ tại một  
số trục giao thông trọng yếu của thành phố Hà Nội và từ đó đánh giá và đề xuất  
các biện pháp để giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn trên địa bàn thành phố. [6]  
Nguyễn Thị Nhật Thanh (2015) “Xây dựng hệ thống cảnh báo và giám  
sát mức độ ô nhiễm không khí sử dụng ảnh vệ tinh” đã thực hiện tính toán  
thông số PM2.5 (nồng độ bụi có kích cỡ < 2.5 micromet trong không khí) cho  
toàn bộ vùng lãnh thổ Việt Nam, độ phân giải không gian 10x10 km với tần  
suất 4 lần/ngày (dựa trên xử lý ảnh MODIS Terra/Aqua) và 6x6 km với tần  
suất 2 lần/ngày (dựa trên xử lý ảnh VIIRS NPP). Áp dụng công thức chuyển  
đổi từ mức độ bụi PM2.5 về chỉ số chất lượng không khí AQI theo tiêu chuẩn  
12  
Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế. Nghiên cứu và phát triển hệ thống WebGIS  
thu thập, xử lý, lưu trữ, cung cấp thông tin, giám sát và cảnh báo về mức độ ô  
nhiễm bụi. Từ đó, xây dựng và phát triển mạng lưới hợp tác liên ngành viễn  
thám - khí tượng - công nghệ thông tin và truyền thông trong ĐHQGHN, trong  
khu vực và quốc tế. Nghiên cứu cũng hướng tới việc kết nối, khai thác và sử  
dụng hiệu quả trang thiết bị đầu tư trong dự án “Xây dựng hệ thống tích hợp  
thu thập và xử lý thông tin không gian thực gần thời gian thực để theo dõi biến  
động bề mặt phục vụ nghiên cứu và quản lý liên ngành tài nguyên môi trường  
và thiên tai”. [4]  
Nguyễn Ngọc Thy (2015) “Ứng dụng chỉ số AQI và phương pháp nội  
suy IDW xây dựng bản đồ thể hiện sự phân bố của các khu vực có không khí  
bị ô nhiễm do bụi trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”. Nghiên cứu đã ứng dụng chỉ  
số AQI và phương pháp nội suy IDW xây dựng bản đồ thể hiện sự phân bố  
của các khu vực có không khí bị ô nhiễm do bụi trên địa bàn tỉnh Đồng Nai  
nhằm đánh giá khái quát tình hình hiện trạng môi trường của tỉnh Đồng Nai.  
Xây dựng hệ thống bản đồ thể hiện sự phân bố của các khu vực có không khí  
bị ô nhiễm do bụi trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thể hiện chất lượng không khí  
trên toàn tỉnh về mức độ ô nhiễm được phân loại theo chỉ số đánh giá chất  
lượng không khí AQI, các cơ sở gây ô nhiễm và vị trí các khu công nghiệp.  
Với hệ thống bản đồ này, các cơ quan quản lý môi trường tỉnh Đồng Nai có  
thêm công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc kiểm soát, quản lý và định hướng cải  
thiện chất lượng môi trường không khí trên địa bàn tỉnh.[3]  
2.3. Tổng quan và phân loại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang  
2.3.1. Lịch sử phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang  
Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng,  
buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 71 trang yennguyen 21180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý môi trường các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_xay_dung_co_so_du_lieu_quan_ly_moi_truong_cac_lang.pdf