Đồ án Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn và xác định thành phần hóa học của một số loại cao chiết hoa sứ trắng (Plumeria rubra L. Acutifolia)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN VÀ  
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA MỘT  
SỐ LOẠI CAO CHIẾT HOA SỨ TRẮNG  
(PLUMERIA RUBRA L. ACUTIFOLIA)  
Ngành:  
Công nghệ Sinh học  
Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học  
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Phạm Minh Nhựt  
Sinh viên thực hiện : Trần Phương Thùy  
MSSV: 1311100744 Lớp: 13DSH04  
TP. Hồ Chí Minh, 2017  
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là đồ án nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện trên cơ  
sở lý thuyết, tiến hành nghiên cứu thực tiễn dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Minh  
Nhựt. Các số liệu, kết quả nêu trong đồ án là trung thực và chưa từng được công bố  
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan  
này.  
TP.Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 07 năm 2017  
Sinh viên  
TRẦN PHƯƠNG THÙY  
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CẢM ƠN  
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu Trường Đại học  
Công Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, quý thầy cô giảng dạy tại Khoa Công nghệ sinh học -  
Thực phẩm - Môi trường cùng tất cả các thầy cô đã truyền dạy những kiến thức quý  
báu cho em trong suốt những năm học vừa qua.  
Qua đây em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phạm Minh Nhựt, người đã  
định hướng nghiên cứu, quan tâm, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời  
gian làm khoá luận tốt nghiệp. Bên cạnh đó em xin cảm ơn các thầy cô ở Phòng Thí  
nghiệm Khoa Công nghệ sinh học - Thực phẩm - Môi trường cùng các anh chị, bạn bè  
đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt đề tài của  
mình.  
Cuối cùng, con xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn bên cạnh, động viên con những  
lúc khó khăn, nản lòng trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu cũng như trong cuộc  
sống.  
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 07 năm 2017  
Sinh viên  
TRẦN PHƯƠNG THÙY  
Đồ án tốt nghiệp  
MỤC LỤC  
i
 
Đồ án tốt nghiệp  
Đồ án tốt nghiệp  
iii  
Đồ án tốt nghiệp  
iv  
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
TSB: Trypton Soya Broth  
TSA: Trypticase Soya Agar  
DMSO: Dimethyl Sulfoxide  
NA: Non activity  
DNA: Deoxyribonucleic acid  
RNA: Ribonucleic acid  
PrAEE: Cao chiết ethanol từ Hoa Sứ trắng  
vi  
 
Đồ án tốt nghiệp  
DANH SÁCH CÁC HÌNH  
Hình 1.1. Cây Hoa Sứ trắng.............................................................................................4  
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí nghiệm tổng quát........................................................................32  
Hình 2.2. Quy trình tách chiết và thu hồi cao từ Hoa Sứ trắng......................................33  
Hình 2.3. Quy trình khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của cao PrAEE............................34  
Hình 2.4. Định tính một số thành phần hóa học của cao chiết ethanol 70% từ Hoa Sứ  
trắng................................................................................................................................36  
Hình 3.1. Hàm lượng thu hồi cao chiết từ Hoa Sứ trắng với các dung môi khác nhau .38  
Hình 3.2. Hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao chiết từ Hoa Sứ trắng đối với nhóm  
vi khuẩn Escherichia coli...............................................................................................40  
Hình 3.3. A. Vòng ức chế E.coli (EtOH 70%) B. Vòng ức chế E0208 (EtOH 96%)....40  
Hình 3.4. Hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao chiết từ Hoa Sứ trắng đối với nhóm  
vi khuẩn Listeria spp.....................................................................................................42  
Hình 3.5. A. Vòng ức chế của L.innocua (EtOH 70%) B. Vòng ức chế của  
L.monocytogenes (EtOH 70%).......................................................................................42  
Hình 3.6. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ Hoa Sứ trắng đối với nhóm vi khuẩn  
salmonella spp................................................................................................................44  
Hình 3.7. Vòng ức chế S.dublin của cao chiết EtOH 70% (A) và 96% (B) ..................44  
Hình 3.8. Hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao chiết từ Hoa Sứ trắng đối với nhóm  
vi khuẩn Shigella spp. ....................................................................................................46  
Hình 3.9. Vòng ức chế của S.boydii của cao chiết EtOH 96% (A) và cao chiết EtOH  
50% (B) ..........................................................................................................................47  
Hình 3.10. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ Hoa Sứ trắng đối với nhóm vi khuẩn  
Vibrio spp.......................................................................................................................49  
Hình 3.11. A. Vòng ức chế V.cholerae của cao chiết EtOH 96% và B. Vòng ức chế  
V.harveyi của cao chiết EtOH 70%................................................................................49  
Hình 3.12. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ Hoa Sứ trắng đối với nhóm vi khuẩn  
gây bệnh cơ hội trên da ..................................................................................................51  
Hình 3.13. Vòng ức chế S.aureus (A) và P.aeruginosa ở cao chiết EtOH 70% (B) .....51  
viii  
 
Đồ án tốt nghiệp  
MỞ ĐẦU  
1. Đặt vấn đề  
Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có tới 3/4 diện tích cả  
nước là rừng núi. Với đặc điểm khí hậu và địa hình như vậy nên nước ta được đánh giá  
là nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú, được xếp thứ 16 trong số  
25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh vật cao nhất thế giới. Nguồn thực vật phong phú  
này đã cung cấp cho con người nhiều sản phẩm thiên nhiên có giá trị. Các sản phẩm  
thiên nhiên có hoạt tính sinh học được ứng dụng rất lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau  
của cuộc sống, đặc biệt là dùng làm thuốc chữa bệnh. Theo các nhà phân loại thực vật,  
nước ta có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, trong đó khoảng 3.948 loài được dùng  
làm dược liệu (Viện dược liệu, 2007). Nếu so với khoảng 20.000 loài cây làm thuốc đã  
biết trên thế giới (IUCN, 1992) thì số loài cây thuốc ở Việt Nam chiếm khoảng 19%.  
Tuy có nguồn thực vật đa dạng và phong phú nhưng do chúng phân bố rải rác ở nhiều  
nơi, cùng với sự khai thác nhưng không có kế hoạch bảo tồn nên dẫn đến tình trạng trữ  
lượng các loài cây ngày càng ít đi. Thế nên, hiện nay chúng ta cần khai thác có hiệu  
quả về hoạt tính sinh học của các loài cây và duy trì trồng lại các giống đã khai thác, để  
tạo ra các loại thuốc trị bệnh mới đem lại lợi ích cho con người nhưng không làm cạn  
kiệt nguồn tài nguyên nước nhà.  
Nguồn dược liệu của nước ta vô cùng phong phú, trong đó có nhiều cây thuốc  
kháng sinh được Y học dân tộc dùng làm thuốc từ lâu. Chúng thường là những cây cỏ  
rất quen thuộc, mọc hoang dại hoặc được trồng ngay trong vườn như: Hành, Tỏi, Hẹ,  
Kim ngân, Sâm đại hành, lá Móng tay… được nhân dân ta dùng làm thuốc tiêu độc,  
tiêu viêm, sát khuẩn, chữa các bệnh nhiễm khuẩn ngoài da, mụn nhọt, chốc lở, viêm  
họng, viêm phế quản và nhiều bệnh nhiễm khuẩn khác. Nhiều cây thuốc được nhân dân  
ta dùng chữa vết thương có kết quả tốt như Mỏ quạ, Nọc sởi, lá Vối, lá Bòng bong, Sắn  
thuyền, Lô hội, lá Trầu không, Sài đất…Trong điều trị các vết thương phần mềm,  
1
   
Đồ án tốt nghiệp  
nhiều tác giả trong và ngoài nước cũng đã công nhận dùng chất kháng khuẩn thực vật  
chữa vết thương chóng sạch, các đám hoại tử dễ bong, tổ chức hạt non phát triển mạnh,  
vết thương mau lành hơn chữa bằng kháng sinh tân dược vì trong nước sắc cây thuốc  
không phải chỉ có kháng sinh mà còn có những chất kích thích giúp vết thương chóng  
đầy miệng, có các loại men, vitamin và các nguyên tố vi lượng tạo điều kiện cho vết  
thương chóng khỏi. Hiện nay trên thế giới, phong trào quay về với thiên nhiên đang  
diễn ra mạnh mẽ và Việt Nam chúng ta cũng đang rất tích cực nghiên cứu về vấn đề  
này. Ở Việt Nam, các nghị định,các chương trình của nhà nước đã thúc đẩy việc phát  
hiện, nghiên cứu và sử dụng các nguồn cây thuốc trong kho tàng cây thuốc Việt Nam.  
Trong các cuốn sách nói về cây thuốc hầu hết đều có nhắc tới công dụng chữa  
bệnh của cây sứ trong đó có hoa sứ điển hình như trong cuốn sách Từ điển cây thuốc  
Việt Nam của tác Võ Văn Chi. Theo y học cổ truyền, các bộ phận sau của cây sứ có thể  
dùng làm thuốc: vỏ thân, vỏ rễ, hoa, nụ hoa, lá tươi và nhựa cây, nhưng sử dụng nhiều  
nhất là hoa. Toàn cây có chứa một loại kháng sinh thực vật là fulvo plumierin, có tác  
dụng ức chế sự tăng sinh và phát triển của một số vi khuẩn Mycobacterium  
tuberculosis. Thời xa xưa, dân gian thường dùng hoa đại phơi khô để làm thuốc chữa  
chứng ho, kiết lỵ và tiêu chảy.  
Với nghiên cứu khoa học và thực tiễn nêu trên chúng tôi tiến hành “Nghiên  
cứu khả năng kháng khuẩn và xác định thành phần hóa học của cao chiết Hoa Sứ  
trắng (Plumeria rubra L. var. acutifolia)”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Xác định hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ Hoa Sứ trắng khi tách chiết  
bằng các dung môi khác nhau.  
- Bước đầu định tính một số thành phần hóa học hiện diện trong cao chiết Hoa  
Sứ trắng.  
2
 
Đồ án tốt nghiệp  
3. Nội dung nghiên cứu  
- Đánh giá hàm lượng thu hồi cao chiết Hoa Sứ trắng từ 4 loại dung môi nước,  
ethanol 50%, ethanol 70%, ethanol 96%.  
- Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao chiết đối với các vi khuẩn  
chỉ thị.  
- Bước đầu định tính một số thành phần hóa học hiện diện trong cao chiết Hoa  
Sứ trắng.  
4. Phạm vi nghiên cứu  
- Chỉ thực hiện tách chiết trên những loại dung môi là cồn và nước.  
- Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết đối với 20 chủng vi sinh vật chỉ  
thị.  
3
   
Đồ án tốt nghiệp  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN  
1.1. Giới thiệu về cây Sứ trắng  
1.1.1. Phân loại  
Giới: Plantae  
Bộ: Gentianales  
Lớp: Dicotyledons  
Họ: Apocynaceae (Trúc Đào)  
Chi: Plumeria  
Tên khoa học: Plumeria rubra L. var. acutifolia (Poir.) Bailey  
Tên thường gọi: Sứ cùi, cây Đại, bông Sứ, Chăm pa…  
Hình 1.1. Cây Hoa Sứ trắng  
1.1.2. Đặc điểm hình thái  
Cây cao khoảng 2 – 3 m, có khi cao đến 7 m.Thân tròn mập, phân cành nhiều  
nhánh, dài, khẳng khiu, cong queo, xù xì. Vỏ cây có màu trắng xám với những sẹo lá  
để lại, cây có nhựa mủ.  
Lá cây Hoa Sứ trắng thuôn dài có hình bầu dục, rộng ở giữ và hẹp ở cả 2 đầu.  
Lá có màu xanh bóng, nhẵn ở mặt trên, lớp lông mịn cùng với gân chính màu trắng và  
4
       
Đồ án tốt nghiệp  
các gân viền ở mép nổi rõ ở mặt dưới lá. Lá xếp sát nhau thành vòng ở ngọn cành, khi  
rụng để lại sẹo lớn ở cành.  
Hoa Sứ trắng ra những cụm hoa trên cuống chung dài khoảng 30 – 50 cm,  
phân nhánh ở vòng đỉnh, có nhiều sẹo do hoa rụng. Các bông có cánh dày, mập, khi  
còn nụ thì xếp vặn, nở bung thì khoe sắc trắng của cánh hoa và tâm màu vàng cùng nhị  
đính trên ống tràng. Hoa nở quanh năm và mang mùi thơm thoang thoảng. Cây Hoa Sứ  
trắng có quả mọc choãi thẳng hàng, dài từ 10 – 15 cm. Quả chứa các hạt có cánh nhưng  
ít gặp vì Hoa Sứ trắng khó đậu trái.  
Cây Hoa Sứ trắng có tốc độ sinh trưởng nhanh. Đây là cây ưa sáng, phát triển  
tốt trên đất giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt. Cây còn có thể trồng trên đất cát, đất sỏi vì  
Sứ Trắng có khả năng chịu hạn cao. Cây được nhân giống từ giâm cành là chính. Vào  
mùa mưa, những cành Sứ trắng giâm rất nhanh ra rễ và mọc khỏe.  
1.1.3. Phân bố  
Hoa Sứ trắng là một trong số nhiều loài thuộc chi Plumeria. Chi này có nguồn  
gốc ở vùng Trung Mỹ. Do có hoa đẹp và đặc biệt có hương thơm, dần dần đã được con  
người trồng nhiều nơi trên thế giới để làm cảnh và lấy hương từ hoa. Ở nhiều nước  
Nam Á như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam, Sứ trắng thường được  
trồng ở các đền đài, và dùng hoa của nó để thờ cúng. Nicaragua và Lào là hai nước lấy  
cây Sứ Trắng làm quốc hoa, ở đó nó được gọi với cái tên là Sacuajoche (Nicaragua) và  
Champa (Lào). Sứ Trắng có tên tiếng Anh là frangipani, xuất phát từ tên dòng họ  
Frangipani của một gia đình hầu tước đã nghĩ ra cách tạo một loại nước hoa có mùi của  
hoa Sứ Trắng.  
Ở Việt Nam, Cây Sứ trắng được trồng nhiều tại công viên, dọc đường phố, khu  
đô thị, khu công nghiệp, trồng dọc lối đi, dải phân cách, cảnh quan nhà máy, bệnh viện  
hay trồng sân vườn biệt thự… Những đình, chùa, lăng miếu hay nghĩa trang cũng sử  
dụng loại cây này rất nhiều.  
5
 
Đồ án tốt nghiệp  
1.1.4. Công dụng của cây Sứ Trắng  
1.1.4.1. Công dụng làm cảnh  
Sứ có nhiều loại và màu sắc khác nhau, từ những cây nhỏ được trồng trong  
chậu đặt ở những vị trí nhỏ hẹp như sân thượng, ban công nhà,… đến những cây Sứ to  
được trồng trong sân vườn đem lại hương hoa và bóng mát cho ngôi nhà.  
1.1.4.2. Công dụng dân gian của cây Sứ trắng  
Tính vị, tác dụng: Hoa Sứ trắng có vị ngọt, tính bình, thơm, có tác dụng thanh  
nhiệt lợi tiểu, hòa vị, nhuận tràng, bổ phổi, có tác dụng hạ huyết áp rất rõ. Vỏ cây có vị  
đắng tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, tả hạ, tiêu thủng, sát trùng. Lá có tác dụng hành  
huyết, tiêu viêm. Nhựa có tác dụng tiêu viêm và làm mềm những tổ chức rắn chai chân.  
Theo y học cổ truyền, các bộ phận sau của cây Sứ trắng có thể dùng làm thuốc:  
vỏ thân, vỏ rễ, hoa, nụ hoa, lá tươi và nhựa cây, nhưng sử dụng nhiều nhất là hoa. Toàn  
cây có chứa một loại kháng sinh thực vật là fulvo plumierin, có tác dụng ức chế sự tăng  
sinh và phát triển của một số vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Từng bộ phận  
khác nhau của cây có những công dụng khác nhau:  
a) Công dụng của hoa  
Năm 1962, khoa Dược lý trường sĩ quan quân y Việt Nam đã nghiên cứu tác  
dụng của Hoa Sứ và kết luận rằng “Hoa Sứ có tác dụng hạ huyết áp. Hoa khô có tác  
dụng mạnh hơn hoa tươi”. Hoa Sứ hạ huyết áp nhưng không làm giãn tĩnh mạch,  
không tác dụng đối với tuần hoàn ngoại biên mà tác dụng vào trung tâm. Tác dụng  
huyết áp xuất hiện nhanh và tương đối bền vững.  
Ngoài ra Hoa Sứ còn có một số công dụng sau:  
Dự phòng say nắng  
Viêm ruột, lỵ  
Khó tiêu, kém hấp thu và kém dinh dưỡng ở trẻ em  
Nhiễm khuẩn, viêm gan  
Viêm khí quản, ho  
6
 
Đồ án tốt nghiệp  
b) Công dụng của vỏ thân, vỏ rễ  
Trong vỏ thân có gluside là agoniadin và một chất đắng là plumierite. Vỏ thân  
và rễ có hơi độc, vị đắng, tính mát. Dân gian thường sử dụng để chữa thủy thủng, làm  
thuốc tẩy xổ (dùng 8 – 15 g), táo bón lâu ngày (thay thế cho đại hoàng), nhuận tràng  
(dùng 3 – 5 g), viêm chân răng. Ở Ấn Độ, người ta còn dùng vỏ trị tiêu chảy và dùng  
vỏ rễ để trị bệnh lậu và loét đường sinh dục.  
c) Công dụng của nhựa mủ  
Nhựa mũ thành phần chủ yếu là acid plumeric. Cũng có thể dùng nhựa mủ để  
tẩy xổ, nhưng liều thấp hơn nhiều so với vỏ thân , 0.5 – 0.8g/ngày dưới dạng nhũ dịch.  
Nhựa mủ còn được dùng để chữa chai chân, sưng tấy, mụn nhọt. Ở Ấn Độ, người ta  
dùng như chất gây sung huyết để trị thấp khớp và còn dùng xổ.  
d) Công dụng của lá  
Lá tươi chứa plumier và một số chất khác đã được sử dụng để điều trị loét,  
viêm (Bobbarala và ctv, 2000, Zaheer và ctv, 2010). Chiết xuất lá đã cho thấy dấu hiệu  
của hoạt động kháng khuẩn.  
Kinh nghiệm dân gian dùng lá cây Sứ trắng chữa bong gân, sai khớp, mụn  
nhọt.  
Một số bài thuốc dân gian từ Hoa Sứ:  
Chữa cao huyết áp, bằng cách dùng như sau: Hằng ngày sử dụng 12 - 20g hoa  
sứ (loại khô), đem sắc (nấu) lấy nước, uống thay trà trong ngày.  
Bong gân: Dùng một lá tươi rửa sạch, giã nhuyễn, trộn với một ít muối ăn đắp  
lên chỗ sưng. Lại dùng một ít lá tươi khác, hơ lên lửa cho héo và đắp phía ngoài rồi cố  
định bằng băng hoặc vải sạch. Ngày đắp 1 – 3 lần liên tục như vậy 1 – 2 ngày.  
Đau nhức hay mụn nhọt: Cũng dùng lá tươi giã nhuyễn đắp vào.  
Chân răng sưng đau: Vỏ rễ ngâm rượu, dùng ngậm rất hiệu quả (chú ý không  
được nuốt).  
Ho: Sử dụng 4 – 12g hoa sứ khô, sắc lấy nước, uống thay trà trong ngày.  
7
Đồ án tốt nghiệp  
1.1.5. Thành phần hóa học của Hoa Sứ trắng  
- Hoa chứa tinh dầu dễ bốc hơi (chừng 0,05 %) trong có citronellol, farnesol,  
geraniol, bornesitol, linalol, phenyl-ethyl alcohol, 2-methylbutan-1-ol. Các flavonoid  
như kaempferol, kaempferol-glycoside, quercetin, quercetin-glycoside.., quercitrin,  
rutin..  
- Vỏ thân có beta-sitosterol, các iridoids như fulvoplumierin (0,25%), al lamcin  
và allamandin , plumieride (6%), p-benzoquinone, lignan loại liriodendrin..  
- Rễ chứa beta-dihydroplumericic acid, beta-dihydroplumericine, isoplume  
ricine, plumericine.  
- Nhựa chứa acetyl-luoeol, alpha và beta-amyrin, cerotic acid, lupeol, lupe ol-  
acetate, oxymethyl-dioxycinnamic acid, plumieric acid..  
- Lá chứa khoảng 5,6 % pectin.  
1.1.6 Tình hình nghiên cứu về Hoa Sứ ở Việt Nam và trên thế giới  
1.1.6.1. Tình hình nghiên cứu về Hoa Sứ ở Việt Nam  
Hiện nay ở Việt Nam chưa có bài viết cụ thể nào nghiên cứu về loài Hoa Sứ.  
1.1.6.2. Tình hình nghiên cứu về Hoa Sứ trên thế giới  
Năm 2010, Ajay Singh Baghel và ctv đã nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn  
của chiết xuất từ hoa Plumeria rubra L. bằng các loại dung môi nước, ethanol, etyl  
acetate, chloroform.  
Năm 2015, Lawal và ctv đã khảo sát thành phần hóa học của chiết xuất tinh  
dầu từ lá Plumeria rubra L. trồng ở Nigeria.  
Năm 2014, Muruganantham và ctv đã nghiên cứu khả năng kháng khuẩn và  
kháng nấm của chiết xuất ethanol từ Plumeria rubra.  
Năm 2008, Laila Jarin đã nghiên cứu hoạt động kháng nấm và kháng khuẩn  
của chiết xuất tinh dầu từ Plumeria rubra.  
Năm 2012, Ravi Kumar Goyal và ctv đã khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của  
vỏ cây Plumeria alba.  
8
   
Đồ án tốt nghiệp  
Năm 2010, Subur Khan và ctv đã nghiên cứu đánh giá thành phần hóa học của  
Plumeria rubra và Plumeria alba.  
1.2. Đại cương về một số hợp chất hữu cơ hiện diện ở thực vật  
1.2.1. Carbohydrate  
1.2.1.1. Khái niệm  
Carbohydrate là một nhóm chất hữu cơ phổ biến khá rộng rãi trong cơ thể sinh  
vật. Được cấu tạo từ các nguyên tố: C, H, O với công thức cấu tạo chung Cm(H2O)n,  
thường m = n (Phùng Trung Hùng và ctv, 2013).Nhìn chung hàm lượng carbohydrate ở  
thực vật cao hơn động vật. Ở thực vật carbohydrate thay đổi tùy theo loài, giai đoạn  
sinh trưởng và phát triển.  
Thực vật: chiếm khoảng 75% trong các bộ phận như củ, quả, lá, thân, cành.  
Động vật: chiếm khoảng 2% trong gan, cơ máu,.. (Phùng Trung Hùng và ctv,  
2013).  
1.2.1.2. 2.Phân loại  
Dựa vào cấu tạo, tính chất carbohydrate được chia làm ba nhóm chính sau:  
Monosaccharide còn được gọi là đường đơn vì chúng là thành phần đơn giản  
nhất của carbohydrate và không bị thủy phân. Monosaccharide được xem là sản phẩm  
oxy hóa không hoàn toàn của các polyalcol, công thức có chứa chức aldehyde và  
cetone.  
Oligosaccharide là hợp chất trung gian giữa monosaccharide và  
polysaccharide. Phân tử oligosaccharide và polysaccharide đều do các monosaccharide  
kết hợp với nhau bằng liên kết O-glycoside do nhóm hydroxyl hemiacetal của một gốc  
với một hydroxyl bất kì của một gốc khác.  
Thông thường người ta gọi oligosaccharide là những gluside chứa từ 2 - 10 gốc  
monosaccharide. Tùy theo số lượng monosaccharide mà người ta gọi disaccharide,  
trisaccharide, tetrasaccharide…  
9
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 118 trang yennguyen 21940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn và xác định thành phần hóa học của một số loại cao chiết hoa sứ trắng (Plumeria rubra L. Acutifolia)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_nghien_cuu_kha_nang_khang_khuan_va_xac_dinh_thanh_phan.pdf