Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng cây con Lôi khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH QUANG HỢP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA
CÂY CON LÔI KHOAI (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.)
TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
: Chính quy
: QLTNR
: Lâm nghiệp
: 2016 - 2020
Khóa học
Thái Nguyên, năm 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH QUANG HỢP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA
CÂY CON LÔI KHOAI (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.)
TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Lớp
: Chính quy
: QLTNR
: K48 - QLTNR
: Lâm nghiệp
: 2016 - 2020
Khoa
Khóa học
Giảng viên hướng dẫn : TS. Lê Sỹ Hồng
Thái Nguyên, năm 2020
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
được thu thập trong quá trình thực hiện đề tài, không sao chép của ai. Nội
dung khóa luận có tham khảo một số tài liệu được liệt kê trong danh mục tài
liệu của khóa luận. Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2020
Xác nhận của GVHD
Sinh viên
Đinh Quang Hợp
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
(Ký và ghi rõ họ tên)
ii
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu để mỗi sinh viên có
thể vận dụng được kiến thức mình đã học và làm quen với thực tiễn, nâng cao
chuyên môn nghiệp vụ và tích lũy được những kinh nghiệm cần thiết sau này.
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, khoa Lâm nghiệp tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh
trưởng của cây con Lôi khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.)
trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Để hoàn thành khóa luận tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ,
công nhân viên của viện, các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là
thầy giáo hướng dẫn: TS. Lê Sỹ Hồng.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa
Lâm Nghiệp, gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã tạo mội đều kiện tốt nhất tôi
hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù tôi đã cố gắng, nhưng do thời gian và kiến thức của bản thân
còn hạn chế, khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất
mong được sự đóng góp ý kiến để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm2020
Sinh viên
Đinh Quang Hợp
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Lá của cây Lôi khoai....................................................................... 12
Hình 4.3. Thu thập số liệu về chiều cao.......................................................... 26
Hình 4.7. Gieo hạt Lôi Khoai.......................................................................... 34
Hình 4.8. Bầu đất............................................................................................. 35
Hình 4.10. Nhổ cỏ và vệ sinh.......................................................................... 36
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..............................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................ii
MỤC LỤC........................................................................................................vi
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 3
1.3. Ý nghĩa đề tài ............................................................................................. 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học........................................................................................... 5
2.2.1. Nghiên cứu về phân bón ......................................................................... 8
2.2.2. Nghiên cứu về Lôi khoai....................................................................... 11
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu................................................................ 14
2.3.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 14
2.3.2. Đặc điểm khí hậu thủy văn ................................................................... 15
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành............................................................... 16
3.3. Nội dung nghiên cứu................................................................................ 16
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 16
vii
3.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp.................................................................... 17
3.4.2. Phương pháp nội nghiệp ....................................................................... 22
cây Lôi khoai................................................................................................... 30
đoạn vườn ươm ............................................................................................... 33
5.1. Kết luận .................................................................................................... 37
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng vốn được mệnh danh là “lá phổi” của trái đất, rừng có vai trò rất
quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên
hành tinh của chúng ta. Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ
vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường.
Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như
môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra ôxy, điều hòa nước, là
nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn
chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của
con người…
Đất nước ta đang trong quá trình mở cửa phát triển nền kinh tế, nhiều
đô thị đang được hình thành và phát triển, đó không gian đô thị được mở rộng
hơn với những nét hiện đại, cảnh quan thiên nhiên trong đô thị dần bị thu hẹp
do sự phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế. Do vậy việc phát triển hạ
tầng kinh tế sao cho phù hợp với quy hoạch bố trí không gian xanh trong đô
thị đã trở thành một vấn đề nóng bỏng của các đô thị trên cả nước hiện nay.
Quá trình đô thị hóa đã làm cho những thành phố ở nước ta đang trở
nên nóng hơn, ô nhiễm và mất cảnh quan hơn. Quá trình bê tông hóa đang
làm mất dần những khoảng không gian xanh trong thành phố. Màu xám ghi
của chất liệu bê tông như đang lấn át màu xanh của thiên nhiên, nét hiện đại
của đô thị đang dần vượt trội vẻ đẹp nên thơ của thiên nhiên. Điều này làm
ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế thành phố nói chung và cảnh
quan thành phố nói riêng. Song song với việc phát triển kinh tế, vấn đề hình
thành và bảo vệ không gian cây xanh trong thành phố đã trở thành một vấn đề
hết sức cấp bách của không chỉ riêng ai mà của toàn thể nhân dân với những
2
chương trình dự án đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia và địa phương đã
và đang được triển khai thực hiện.
Cây xanh đường phố là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống cây
xanh và cảnh quan đô thị. Hệ thống này mang những ý nghĩa đặc thù khác với
các yếu tố cảnh quan khác ở chỗ đây là một hệ sinh thái nhân tạo có tác dụng
làm sạch môi trường tăng cường sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cư
dân. Tuy nhiên so với các loại hình cây xanh cảnh quan khác cây xanh đường
phố, đô thị do sinh trưởng bị hạn chế đồng thời lại thường xuyên bị tác động
bởi các yếu tố con người công trình nên tiêu chuẩn chọn cây và hình thức tổ
chức trồng cây xanh đô thị cũng có những yêu cầu đặc thù riêng. Nghiên cứu
chọn loài cây trồng phù hợp với đặc điểm môi trường và tạo được nét đặc sắc
riêng là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu.
Trong đó cây Lôi khoai là loài cây có đặc điểm rất đẹp, vừa tạo bóng
mát, vừa tạo cảnh quan xanh cho các công trình đô thị, vừa góp phần vào đa
dạng các loài thực vật ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Cây thường xuất
hiện trong các khu rừng, dọc trên các đường phố... Tuy nhiên ở Việt Nam thì
vẫn còn ít và chưa phổ biến và đặc biệt chưa có một công trình nghiên cứu
nào về cây Lôi khoai. Với đặc điểm sinh học như trên cũng như giá trị sử
dụng về nhiều mặt nên cây Lôi khoai có khả năng phát triển rộng rãi.
Để có được cây giống phục vụ cho nhu cầu trên cần có nguồn giống để
cung cấp hàng năm, việc tạo giống là một việc rất quan trọng đối với ngành
Lâm Nghiệp. Hiện nay có hai phương pháp tạo giống phổ biến đó là phương
pháp nhân giống vô tính và hữu tính. Nhân giống hữu tính phù hợp với nhiều
đặc tính cây trồng, đem lại hiệu quả cao mà giá thành thấp và dễ tiến hành,
cây con tạo ra rễ thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh, đây là phương pháp
được ứng dụng rộng rãi phổ biến trong thời gian qua.
3
Trong sản xuất cây con từ hạt có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
của cây con trong giai đoạn vườn ươm, trong đó có hỗn hợp phân bón. Phân bón
là nơi cung cấp chủ yếu dinh dưỡng cho cây trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn
ươm. Thực tế có những kết quả nghiên cứu đầy đủ về tạo hỗn hợp phân bón và
được áp dụng cho một số loài cây đã sử dụng để trồng trong cả nước. Đặc tính
chống chịu sâu bệnh của mỗi loài cây cũng khác nhau.
Xuất phát từ những vấn đề nói trên, đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của
phân bón đến sinh trưởng cây con Lôi khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.)
J.E. Vid.) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên” là hết sức cần thiết.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ nảy mầm,
sinh trưởng của cây con Lôi khoai.
- Xác định được công thức hỗn hợp ruột bầu ảnh hưởng tốt nhất tới
sinh trưởng cây con Lôi khoai ở giai đoạn vườn ươm.
1.3. Ý nghĩa đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Qua nghiên cứu thực tiễn đề tài giúp ta làm quen với công tác nghiên
cứu khoa học, ứng dụng kiến thức đã học được từ trong nhà trường và thực
tiễn. Củng cố kiến thức cơ sở cũng như chuyên nghành, sau này có điều kiện
tốt hơn để phục vụ công tác phát triển nghành Lâm nghiệp.
Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công
tác nghiên cứu khoa học.
Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về nghiên cứu chuyên sâu loài
cây Lôi khoai.
Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn phương thức nhân
giống và phát triển loài Lôi khoai.
4
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Biết được cây con Lôi khoai ở giai đoạn vườn ươm cần loại phân bón
nào phù hợp nhất. Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất, đồng thời có
thể phổ biến công thức tốt nhất cho cây sinh trưởng cho bà con cùng áp dụng.
Từ những hạn chế đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo
giống cây con ở giai đoạn vườn ươm. Tạo cây con đảm bảo chất lượng tốt.
5
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Theo tổng cục lâm nghiệp cây con được tạo ra từ các vườn ươm phải
đảm bảo cây giống được lựa chọn có những phẩm chất tốt phù hợp với điều
kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của các loài cây khác
với chúng. Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con
trong tương lai.
Các loại phân bón hóa học được chăm sóc cây con trong thời gian
ngắn. Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới
nước, phòng trừ sâu bệnh phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của
phân bón.
- Trong sản xuất nông nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sống trực tiếp
của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây. Đất tốt cây
sinh trưởng tốt ra hoa kết quả sớm, sản lượng, chất lượng quả hạt cao, chu kì
sai quả ngắn và ngược lại. Đất tốt là đất giàu dinh dưỡng chủ yếu là N, P, K,
và các nguyên tố vi lượng cần thiết đồng thời các thành phần đó có một tỷ lệ
thích hợp.
Trong gieo ươm:
- Điều kiện đất đai:
Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con
sinh trưởng, phát triển tốt hay xấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng nước và
không khí cho cây.
Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay
không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH,… của đất quyết định.
6
+ Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ
giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước
tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm sinh trưởng của cây con, dễ làm
đất và chăm sóc cây con hơn… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng
cần căn cứ và đặc tính sinh học của loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất
thịt trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm. Gieo ươm cây Thông ưa đất cát
pha, thoát nước tốt.
+ Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất
dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi
lượng khác. Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm trên
đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận thân, rễ, cành,
lá phát triển cân đối.
+ Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân
đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con. Đất quá khô
hoặc quá ẩm đều không tốt. Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên
quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho đất cát pha ở độ sâu là
1,5 - 2m, đất sét là trên 2,5m.
Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước
ngầm cao hay thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài
cây ươm. Ví dụ: Gieo ươm cây Phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, song
gieo ươm cây Thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước.
+ Nước: Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai
đoạn vườn ươm. Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số
lượng. Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây Lôi khoai. Hệ
rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh
trưởng. Nhiều nước sẽ tạo ra môi trường quá ẩm, kết quả rễ cây phát triển
kém hoặc chết do thiếu không khí. Vì thế, việc xác định hàm lượng nước
7
thích hợp cho cây non ở vườn ươm là việc làm rất quan trọng (Larcher, 1983;
Nguyễn Văn Sở, 2004)
+ Độ pH của đất: Có ảnh hưởng tới tốc độ nảy mầm của hạt giống và
sinh trưởng của cây con, đa số các loài cây thích hợp với độ pH trung tính, cá
biệt có loài ưa chua như Thông, ưa kiềm như Phi lao.
+ Sâu bệnh hại:
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều nên
hầu hết các vườn ươm đều có rất nhiều sâu, bệnh hại, làm ảnh hưởng đến sản
lượng và chất lượng cây con, tăng giá thành sản xuất cây con, thậm chí có nơi
còn dẫn đến thất bại hoàn toàn. Cho nên trước khi xây dựng vườn ươm cần
điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất, để có biện pháp xử lý đất trước
khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm tại những nơi bị nhiễm sâu
bệnh nặng.
- Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho
cây. Phân bón có thể là sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo trong công
nghiệp. Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và
tác dụng như nhau đối với sinh trưởng của cây.
+ Bón phân qua rễ: Lượng phân bón trực tiếp vào đất, chất dinh dưỡng
được ngấm vào đất. Bộ rễ của cây hút chất dinh dưỡng từ đất chuyển lên các bộ
phận lên trên mặt đất của cây (thân, lá, hoa, quả) cây trồng phát triển bình thường.
+ Bón phân qua lá: Lá, thân, cành, quả, cây, lượng phân hòa tan vào
nước ở một nồng độ cho phép. Phun ướt đẫm lá và thân cây quả, chất dinh
dưỡng được ngấm qua lá.
+ Phân Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng
lượng. Lân có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự
phát triển của hệ rễ. Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích
thích sự phát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả. Cây được cung
8
cấp đầy đủ lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh,
nóng, đất chua và kiềm. Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường,
lá cây phồng cứng, lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây
mềm, thấp; năng xuất chất khô giảm. Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả
sử dụng đạm. Một vài loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím,
tím nâu hay đỏ. Ở những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh
đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm. Khi thừa lân không thấy
tác hại nghiêm trọng như thừa nitơ (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [17]; Viện thổ
nhưỡng nông hóa, 1998 [16]; Ekta Khurana and J.S. Singh, 2000 [20];
Thomas D. Landis, 1985 [22]).
Bón phân vào đất (qua rễ) cây hấp thụ thường không hết nên giữ lại
trong đất hoặc tự rửa trôi. Còn bón phân qua lá nồng độ bón phân qua lá
thường nhỏ. Nếu bón nồng độ cao thì cây tự xót và chết. Nếu bón nồng độ
quá thấp thì hiệu quả không rõ. Vì vậy trong một đời cây phải bón nhiều lần ở
những nồng độ thích hợp. Trong vườn ươm hầu hết phân bón được trộn với
đất trong hỗn hợp ruột bầu, tùy theo tính chất đất, đặc tính sinh thái học của
cây con mà tỉ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp.
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1. Nghiên cứu về phân bón
- Trên thế giới
Từ lâu phân bón đã là thành phần không thể thiếu cho cây trồng trên
thế giới, hàng năm phân bón trên thế giới được tiêu thụ khoảng 130 triệu tấn
phân bón. Phân bón được phát triển rất sớm từ thế kỉ XVII (1676) lúc ông E.
Mariotte đã thấy lá cây có thể hấp thụ nước từ bên ngoài. Nhưng phải đến thế
kỉ XIX của thập niên 70 - 80, các nhà khoa học trên thế giới mới công nhận
phân bón lá có hiệu quả hơn, kinh tế hơn và tránh được nạn chai cứng đất và ô
nhiễm môi trường bằng cách dùng Igionop phóng xạ trộn vào phân bón phun
9
qua lá. Sau nhiều lần làm thí nghiệm ở nhiều nơi, phân bón lá được đánh giá
có hiệu lực, tác dụng và hiệu quả kinh tế cao hơn.
Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX thuyết mùn do Thaer (1873) đề
xuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống. Đến thế kỷ XIX nhà hóa học người
đức Liibig (1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng Liibig cho rằng độ màu mỡ
của đất là do muối khoáng trong đất. Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân hóa
học cho cây sẽ làm tăng năng xuất cây trồng. Năm 1963 Kinur và Chiber
khẳng định việc bón phân cho đất theo từng thời kỳ khác nhau là khác nhau.
Cùng năm đó Turbittki đã đưa ra quan điểm: Phân bón là nguồn dinh dưỡng
bổ xung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuổi
cây cần có nhiều nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân bón không cần thiết.
Việc bón phân thừa hay thiếu đều dẫn tới biểu hiện của cây sinh trưởng chậm
và chất lượng kém.
Năm 1974 Polster, Fidler và Lir cũng đã kết luận: Sinh trưởng của cây
thân gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trong đất trong suốt quá
trình sinh trưởng. Nhu cầu dinh dưỡng của cây thân gỗ ở mỗi thời kỳ khác
nhau là khác nhau.
Trên thế giới nhiều nhà khoa học cũng công nhận phân bón giúp cho
cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống chịu được
với hạn hán, sâu bệnh. Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ biến và
không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp.
Theo Thomas D. Landis (1985) [22], chất lượng cây con có mối quan
hệ logic với tình trạng chất khoáng. Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu
cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây
con thể hiện rõ qua màu sắc của lá.
Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp
bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25 tấn/ha. Do đó tính ưu việt của chế
10
phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát huy
hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao.
Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử
dụng các chể phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư. Phân bón sinh học trở
thành loại phân phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất, nông lâm nghiệp
hiện đại.
-Ở Việt Nam
Những năm trước thời kì đổi mới chúng ta chưa đánh giá đúng tầm
quan trọng và vai trò to lớn của công tác giống trong sản xuất lâm nghiệp. Sự
quan tâm của công tác giống lúc bấy giờ chủ yếu là làm sao có đủ số lượng
giống cho rừng trồng, hầu như chưa coi trọng đến chất lượng giống. Sử dụng
giống không rõ nguồn gốc xuất xứ, thu hái xô bồ, dẫn đến rừng trồng có chất
lượng kém, năng xuất thấp phổ biến chỉ đạt 5 - 10 m3/ha/năm. Đến những
năm gần đây chúng ta mới bắt đầu chú trọng đến khâu sản xuất giống năng
xuất, chất lượng đã tăng lên 30 - 70 m3/ha/năm 1998. Lâm nghiệp cho quyết
định ban hành: Quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống.
Một số nghiên cứu về loài cây Kháo vàng như của Hà Thị Mừng (2010)
“Nghiên cứu ảnh hưởng của N, P, K đến sinh trưởng của cây kháo vàng giai
đoạn 1 - 2 năm tuổi ở vườn ươm”, kết quả đã tìm ra hàm lượng N, P, K thích
hợp nhất cho sinh trưởng của Kháo vàng giai đoạn 1 tuổi là 57,3mg N +
76,33mg P2O5 + 34,4mg K2O, giai đoạn 2 tuổi là 76,3mg N + 114,5mg P2O5 +
45,8mg K2O. Đề tài tốt nghiệp của Nông Bằng Giang (2017) “Nghiên cứu đặc
điểm sinh vật học loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) phân bố tại xã
Điểm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”, kết luận rằng điều kiện lập
địa của khu vực phù hợp với nhiều loài cây gỗ và cây Kháo vàng.
Tất cả đều nhằm mục đích tìm ra phương pháp gieo ươm thích hợp nhất
cho mỗi loại cây đạt hiệu quả tốt cả về chất lượng, số lượng và thu được lợi
11
nhuận cao lại nhanh nhất. Ngoài ra còn đáp ứng cho nhu cầu nghiên cứu, thử
nghiệm cho công tác nghiên cứu áp dụng khoa học tiên tiến.
2.2.2. Nghiên cứu về Lôi khoai
- Ở Việt Nam:
Lôi khoai tên khoa học (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.)
thuộc họ Đậu (Fabaceae). Các loài trong chi này là các dạng cây thân gỗ từ
nhỡ tới lớn, có thể cao từ 10 tới 30 m, đường kính thân cây đạt 0,6 tới 0,9 m.
Tán lá có đường kính tới 8 m. Thân cây thường chia thành 3 đến 4 nhánh ở độ
cao 3 - 5 m. Các cành to, mập, nhiều ruột. Rễ chùm. Vỏ cây màu xám tro, dễ
bóc. Các lá kép hai lần chẵn, mọc so le và các lá chét cấp 2 (khoảng 10 tới 14)
mọc đối. Các lá chét cấp 1 phía dưới suy giảm thành các lá nhỏ. Kích thước
lá: dài khoảng 60 - 90 cm và rộng khoảng hai phần ba chiều dài. Cuống lá và
cuống của các lá chét hình trụ thon, phình to ở phần gốc, nhẵn khi trưởng
thành, màu lục nhạt, thường tía ở mặt trên. Các lá chét hình trứng, kích thước
dài tới 5 - 6 cm, hình nêm hoặc thuôn tròn không đều ở gốc, mép lá hơi gợn,
nhọn đỉnh. Khi mới xuất hiện từ chồi có màu hồng hay đỏ tươi, nhanh chóng
chuyển sang màu xanh đồng, nhẵn và bóng ở mặt trên.
Khi phát triển đầy đủ có màu xanh lục sẫm ở mặt trên, lục nhạt ở mặt
dưới. Về mùa thu chuyển sang màu vàng. Hoa ra vào mùa hè, đơn tính khác
gốc, mọc ở đầu cành, màu trắng ánh xanh lục. Đài hoa hình ống, có lông tơ,
10 gân, 5 thùy. Các thùy mở bằng mảnh vỏ trong chồi. Tràng hoa với 5 cánh
hoa thuôn dài, có lông tơ, lợp khi ở trong chồi. Các hoa đực mọc thành ngù
ngắn giống như chùm hoa, dài 8 - 10 cm, các hoa cái mọc thành chùm dài 25 -
30 cm. Nhị hoa 10, với 5 nhị dài và 5 nhị ngắn, bao phấn màu vàng cam,
hướng trong. Bầu nhụy thượng, không cuống, có lông tơ, co lại thành vòi
nhụy ngắn với 2 thùy đầu nhụy. Các lá noãn mọc thành 2 hàng. Quả dạng quả
đậu, dài 15 - 25 cm, rộng 3 - 5 cm, hơi cong, mép dầy, màu nâu ánh đỏ sẫm,
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng cây con Lôi khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khoa_luan_nghien_cuu_anh_huong_cua_phan_bon_den_sinh_truong.pdf

