Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây con Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
MÙA A VINH  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN SINH  
TRƯỞNG CỦA CÂY CON LIM XẸT (peltophorum tonkinensis A.Chev)  
TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC  
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: Lâm nghiệp  
Khóa học  
: 2016 - 2020  
Thái Nguyên, năm 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
MÙA A VINH  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN SINH  
TRƯỞNG CỦA CÂY CON LIM XẸT (peltophorum tonkinensis A.Chev)  
TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC  
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K48 QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2016 - 2020  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Lê Văn Phúc  
Thái Nguyên, năm 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân  
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu được thu thập trong quá trình thực hiện  
đề tài, hoàn toàn trung thực. Nội dung khóa luận có tham khảo một số tài liệu  
được liệt kê trong danh mục tài liệu của khóa luận. Nếu có gì sai sót tôi xin  
hoàn toàn chịu trách nhiệm.  
Thái Nguyên, ngày ... tháng ... năm 2020  
Xác nhận của GVHD  
Sinh viên  
TS. Lê Văn Phúc  
Mùa A Vinh  
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN  
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của Hội đồng  
chấm khóa luận Tốt Nghiệp  
(Kí và ghi rõ họ tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt ngiệp là một giai đoạn không thể thiếu để mỗi sinh viên có  
thể vận dụng được những gì mình đã học và làm quen với thực tiễn, nâng cao  
chuyên môn nghiệp vụ và tích lũy được những kinh nghiệm cần thiết cho  
công việc sau này.  
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Bán giám  
hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp. Tôi tiến hành thực hiện đề  
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây  
con Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) trong giai đoạn vườn ươm  
tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.  
Để hoàn thành khóa luận tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của cán  
bộ, công nhân viên vườn ươm, các thầy cô giáo khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là  
sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn: TS. Lê Văn Phúc đã  
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài.  
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ quý báu đó. Do  
thời gian và năng lực của bản thân còn hạn chế nên bài khóa luận không tránh  
khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của  
thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được  
hoàn thiện hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2020  
Sinh viên  
Mùa A Vinh  
 
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Cm  
CT  
: Xentimet  
: Công thức  
CTTN  
D00  
D00  
: Công thức thí nghiệm  
: Đường kính gốc  
: Đường kính gốc trung bình  
: Đại Học Nông Lâm  
ĐHNL  
Hvn  
Hvn  
: Chiều cao vút ngọn  
: Chiều cao vút ngọn trung bình  
: Số thứ tự  
STT  
SL  
: Số lượng  
TB  
: Trung bình  
 
vi  
MỤC LỤC  
 
vii  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là lá phổi xanh  
khổng lồ của nhân loại. Rừng là tài nguyên quý giá của nhân loại, rừng giữ  
vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội loài người. Rừng không chỉ là nơi  
cung cấp thức ăn, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh, tham gia vào quá trình  
giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu, phòng hộ và bảo vệ môi trường, bảo vệ  
các nguồn gen quý hiếm và là nơi cư trú của các loài động, thực vật, tạo ra sự  
đa dạng sinh học trên hành tinh của chúng ta. Tuy nhiên trong những năm gần  
đây diện tích rừng tự nhiên đang ngày càng bị thu hẹp diện tích, giảm đi liên  
tục chất lượng và trữ lượng. rừng nghèo, đất trống đồi núi trọc tăng lên do  
hoạt động khai thác chặt phá, đốt nương làm rẫy, sử dụng rừng không hợp lí.  
Gỗ và các tài nguyên khác ngoài gỗ đang dần bị cạn kiệt, các loài cây gỗ có  
giá trị đã và đang đang bị hủy hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu  
là do chính hoạt động của con người gây ra.  
Theo số liệu điều tra của viện quy hoạch rừng năm 1945 diện tích rừng  
tự nhiên nước ta là 14 triệu ha tương đương với độ che phủ là 43%, đến năm  
1990 diện tích rừng tự nhiên nước ta chỉ còn 9,175 triệu ha, tương đương độ  
che phủ là 27,2 %. Từ khi chính phủ có chỉ thị 268/TTg (1996) cấm khai thác  
rừng tự nhiên nên tốc độ rừng phục hồi đã trở nên khả quan hơn. Theo quyết  
định số 1423/QĐ-BNN-TCLN ngày 15/04/2020 của bộ nông nghiệp và phát  
triển nông thôn công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2019, diện tích rừng  
tự nhiên nước ta gần 10,3 triệu ha, độ che phủ tương ứng là 41,89%. Từ đó  
rừng cũng dần cung cấp cho con người nhiều sản phẩm hơn, duy trì sự phát  
triển của động thực vật có giá trị kinh tế cao. Đồng thời rừng còn là một thế  
   
2
mạnh của khu vực miền núi trung du. Góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giàu  
bền vững cho nhiều hộ dân.  
Ngày nay Đảng và nhà nước Việt Nam ta đang trong quá trình mở của  
phát triển nền kinh tế, nhiều khu đô thị đang được hình thành, do dân số tăng  
nhanh, sự phát triển của các ngành công nghiệp, xí nghiệp, nhà máy, sự gia  
tăng của các phương tiện giao thông,.. làm cho môi trường đô thị bị ô nhiễm  
ngày càng nghiêm trọng. Cho nên, bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ hết  
sức cấp bách. Cây xanh, là một thành phần quan trọng trong các công trình  
kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ  
môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh. Cùng với việc giảm thiểu  
nguồn ô nhiễm thì sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong  
việc bảo vệ môi trường và tạo nên các khu rừng cảnh quan du lịch sinh thái  
cho nhân dân tới nghỉ ngơi, thăm quan. Vì vậy, cây xanh đô thị đã trở thành  
chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm.  
Trong sản xuất cây con từ hạt có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng  
của cây con trong giai đoạn vườn ươm, trong đó có hỗn hợp ruột bầu và sâu  
bệnh hại. Ruột bầu là nơi cung cấp chủ yếu dinh dưỡng cho cây trong giai đoạn  
nuôi dưỡng ở vườn ươm, tuy nhiên mỗi loài cây phù hợp với thành phần ruột  
bầu khác nhau. Thực tế có những kết quả nghiên cứu đầy đủ về tạo hỗn hợp ruột  
bầu và được áp dụng cho một số loài cây đã sử dụng để trồng rừng trong cả  
nước. Đặc tính chống chịu sâu bệnh của mỗi loài cây cũng khác nhau.  
Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên  
cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây con Lim  
xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) trong giai đoạn vườn ươm tại  
trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.  
Nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức hỗn hợp ruột bầu khác  
nhau trong quá trình sinh trưởng của cây Lim xẹt, có ảnh hưởng như thế nào  
3
đến quá trình sinh trưởng của cây Lim xẹt trong giai đoạn vườn ươm, và tìm  
ra một số biện pháp kỹ thuật phù hợp trong chăm sóc cây trong giai đoạn  
vườn ươm.  
Là loài cây có khả năng tái sinh hạt tốt ở chỗ trống hoặc nơi có độ tàn  
che nhẹ. Cây có thể sống được trên nhiều loại đất, kể cả đất chua, chịu được  
nắng nóng khô hạn là một trong những loài cây nhiệt đới điển hình, có khả  
năng sinh trưởng phát triển tốt trong nhiều điều kiện khác nhau, có thể chọn  
làm cây cải tạo rừng nghèo hoặc khoanh nuôi trong rừng đang phục hồi. Gỗ  
Lim xẹt có màu hồng, thớ tương đối mịn, ít bị mối mọt, cong vênh, được dùng  
để đóng đồ mộc và xây dựng nhà cửa. Đặc biệt Lim xẹt có thể sử dụng làm cây  
xanh đô thị. Do cây Lim xẹt có hình dáng đẹp, tán lá rộng, sinh trưởng nhanh,  
tái sinh chồi và hạt tốt trên đất chua và nghèo dinh dưỡng, hoa màu vàng rất  
đẹp, quả không mọng nước nên có thể trồng làm cây xanh đô thị, cải tạo rừng,  
chống xói mòn đất. Xuất phát từ những vấn đề đặt ra và căn cứ vào một số đặc  
điểm cũng như giá trị của cây Lim xẹt, cho nên tôi quyết định chọn cây Lim xẹt  
(Peltophorum tonkinensis A.Chev) để thực hiện đề tài của mình.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Đánh giá được ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ nảy mầm,  
sinh trưởng của cây con Lim xẹt (Hvn, D00, số lá).  
- Trên cơ sở đó, xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm cây Lim  
xẹt phục vụ trồng rừng.  
1.3. Ý nghĩa đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Giúp ta làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng kiến  
thức đã học được từ trong nhà trường và thực tiễn.  
- Củng cố kiến thức cơ sở cũng như chuyên nghành, sau này có điều  
kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển nghành Lâm nghiệp.  
     
4
- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công  
tác nghiên cứu khoa học.  
- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về nghiên cứu chuyên sâu loài  
cây Lim xẹt.  
- Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn phương thức  
nhân giống và phát triển loài Lim xẹt.  
- Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu  
khoa học cho bản thân sinh viên.  
- Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa  
tiếp theo.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
Biết được cây con Lim xẹt ở giai đoạn vườn ươm cần loại hỗn hợp ruột  
bầu nào phù hợp nhất, góp phần vào việc quản lý tài nguyên rừng bền vững.  
Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất cây giống Lim xẹt, đồng thời có  
thể phổ biến công thức tốt nhất cho cây sinh trưởng cho bà con cùng áp dụng.  
Từ những hạn chế đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo  
giống cây con ở giai đoạn vườn ươm. Tạo cây con đảm bảo chất lượng tốt.  
 
5
Phần 2  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học  
Theo tổng cục lâm nghiệp cây con được tạo ra từ các vườn ươm phải  
đảm bảo cây giống được lựa chọn có những phẩm chất tốt phù hợp với điều  
kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của các loài cây khác  
với chúng. Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con  
trong tương lai.  
Trong sản xuất nông nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sống trực tiếp  
của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây. Đất tốt cây  
sinh trưởng tốt ra hoa kết quả sớm, sản lượng, chất lượng quả hạt cao, chu kì  
sai quả ngắn và ngược lại. Đất tốt là đất giàu dinh dưỡng chủ yếu là N, P,  
K,… và các nguyên tố vi lượng cần thiết đồng thời các thành phần đó có một  
tỷ lệ thích hợp, Bộ lâm nghiệp (1987) [15].  
Trong gieo ươm:  
- Điều kiện đất đai:  
Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con  
sinh trưởng, phát triển tốt hay xấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng nước và  
không khí cho cây.  
Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay  
không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH,… của đất quyết định.  
+ Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ  
giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước  
tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm sinh trưởng của cây con, dễ làm  
đất và chăm sóc cây con hơn… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng  
cần căn cứ và đặc tính sinh học của loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất  
   
6
thịt trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm. Gieo ươm cây Thông ưa đất cát  
pha, thoát nước tốt.  
+ Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất  
dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi  
lượng khác… Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm  
trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận thân, rễ,  
cành, lá phát triển cân đối, Mai Quang Trường, Lương Thị Anh (2007) [16].  
+ Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân  
đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con. Đất quá khô  
hoặc quá ẩm đều không tốt. Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên  
quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho đất cát pha ở độ sâu là  
1,5-2m, đất sét là trên 2,5m.  
Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước  
ngầm cao hay thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài  
cây ươm. Ví dụ: Gieo ươm cây Phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, song  
gieo ươm cây Thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước  
Nước: Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai  
đoạn vườn ươm. Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số  
lượng. Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây Kháo vàng.  
Hệ rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh  
trưởng. Nhiều nước sẽ tạo ra môi trường quá ẩm, kết quả rễ cây phát triển  
kém hoặc chết do thiếu không khí. Vì thế, việc xác định hàm lượng nước  
thích hợp cho cây non ở vườn ươm là việc làm rất quan trọng, Nguyễn Văn  
Sở (2004) [10].  
+ Độ pH của đất: Có ảnh hưởng tới tốc độ nảy mầm của hạt giống và  
sinh trưởng của cây con, đa số các loài cây thích hợp với độ pH trung tính, cá  
biệt có loài ưa chua như Thông, ưa kiềm như Phi lao.  
7
- Sâu bệnh hại:  
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều nên  
hầu hết các vườn ươm đều có rất nhiều sâu, bệnh hại, làm ảnh hưởng đến sản  
lượng và chất lượng cây con, tăng giá thành sản xuất cây con, thậm chí có nơi  
còn dẫn đến thất bại hoàn toàn. Cho nên trước khi xây dựng vườn ươm cần  
điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất, để có biện pháp xử lý đất trước  
khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm tại những nơi bị nhiễm sâu  
bệnh nặng.  
Một trong nhiều phương pháp đang được sử dụng nhiều hiện nay là  
nhân giống từ hạt. Để cây con phát triển tốt trong giai đoạn vườn ườm nhân tố  
rất quan trọng tới sinh trưởng của cây đó là hỗn hợp ruột bầu.  
Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao gồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ) và  
chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa tính của ruột bầu. Đất được chọn làm  
ruột bầu là đất tốt, có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt, thành phần cơ giới từ  
cát pha đến thịt nhẹ, PH trung tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại.  
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới  
2.2.1. Nghiên cứu về hỗn hợp ruột bầu  
Theo Thomas D. Landis (1985) [25] chất lượng cây con có mối quan hệ  
logic với tình trạng chất khoáng. Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho  
sự sinh trưởng và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con  
thể hiện rõ qua màu sắc của lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là một  
cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt của dinh dưỡng cây con.  
Khi nghiên cứu về sinh thái của hạt giống và sinh trưởng của cây gỗ  
non, Ekta và Singh (2000) [23] đã nhận thấy rằng, cường độ ánh sáng, hỗn  
hợp ruột bầu có ảnh hưởng rõ rệt tới sự nảy mầm, sự sống sót và quá trình  
sinh trưởng của cây con.  
Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp  
bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha. Do đó tính ưu việt của  
   
8
chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát  
huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao. Nên trên  
thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng các chể phẩm  
sinh học rất được chú trọng đầu tư. Phân bón sinh học trở thành loại phân phổ  
biến và không thể thiếu trong sản xuất, nông lâm nghiệp hiện đại, Ngô Kim Khôi  
(1998) [17].  
Trong những năm gần đây, nhiều nước trê thế giới như: Mỹ, Anh, Nhật,  
Trung Quốc…. Đã sữ dụng nhiều chếp phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm  
tăng năng xuất cho nông sãn, không làm ô nhiễm môi trường như: Atonik,  
Yogen…. (Nhật Bản), Bloom, Blus…. (Hoa Kỳ). Nhiều chế phẩm đã được  
nghiên cứu và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.  
2.2.2. Nghiên cứu về họ Đậu (Fabaceae), loài Lim xẹt  
Họ Đậu (danh pháp khoa học: Fabaceae) là một họ thực vật. Theo định  
nghĩa của hệ thống APG thì nó là một họ lớn: Fabaceae sensu lato (nghĩa  
rộng). ICBN cho phép sử dụng cả Fabaceae (nghĩa rộng) và Leguminosae  
như là các tên gọi thực vật học tương đương nhau ở mức độ họ. Hệ thống  
APG sử dụng tên gọi Fabaceae, Lê Mộng Châu, Lê Thị Huyên (2000) [18].  
Tuy nhiên, họ Fabaceae có thể định nghĩa khác đi như là Fabaceae  
sensu stricto (nghĩa hẹp), ví dụ như trong hệ thống Cronquist. Trong các phân  
loại như thế thì các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và Vang  
(Caesalpinioideae) được nâng lên thành cấp họ với tên gọi tương ứng là  
Mimosaceae và Caesalpiniaceae. Nhóm còn lại có các tên gọi thực vật học  
tương ứng là Fabaceae và Papilionaceae (nhưng không phải là Leguminosae).  
APG coi nhóm này ở mức độ phân họ, với tên gọi Faboideae (tên gọi tương  
đương của nó trong Leguminosae là Papilionoideae) Lê Mộng Châu, Lê Thị  
Huyên (2000) [18].  
 
9
Khi tra cứu hay tham khảo bất kỳ cuốn sách nào có sử dụng tên gọi  
Fabaceae, cần phải lưu ý là tên gọi này dùng trong ngữ cảnh nào. Các tên gọi  
như Leguminosae hay Papilionaceae là rõ ràng và các nhà phân loại học dùng  
các từ này chủ yếu cùng với tên gọi Leguminosae. Leguminosae (hay  
Fabaceae sensu lato) là họ lớn thứ hai của thực vật có hoa với 650 chi và trên  
18.000 loài, Lê Mộng Châu, Lê Thị Huyên (2000) [18]. Các tên gọi thông  
thường chủ yếu của các loài trong họ này là đỗ hay đậu và họ này chứa một số  
loài cây quan trọng bậc nhất trong cung cấp thực phẩm cho con người, chẳng  
hạn các loại đậu, đỗ, lạc, đậu tương và đậu lăng v.v. Các loài khác trong họ  
cũng là các nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc, gia cầm hoặc để  
làm phân xanh, chẳng hạn đậu lupin, cỏ ba lá, muồng hay đậu tương. Một số  
chi như Laburnum, Robinia, Gleditsia, Acacia, Mimosa và Delonix là các loại  
cây cảnh. Một số loài còn có các tính chất y học hoặc diệt trừ sâu bọ (chẳng  
hạn Derris) hay sản sinh ra các chất quan trọng như gôm Ả Rập, tanin, thuốc  
nhuộm hoặc nhựa. Một số loài, như sắn dây, một loài có nguồn gốc ở khu vực  
Đông Á, đầu tiên được trồng tại miền đông nam Hoa Kỳ nhằm cải tạo đất và  
làm thức ăn cho gia súc, nhưng đã nhanh chóng trở thành một loài cỏ dại xâm  
hại nguy hiểm có xu hướng phát triển trên mọi thứ đất và chèn ép nhiều loài  
bản địa.  
Tất cả các thành viên trong họ này đều có hoa chứa 5 cánh hoa, trong  
đó bầu nhụy lớn khi phát triển được sẽ tạo ra quả thuộc loại quả đậu, hai vỏ  
của nó có thể tách đôi, bên trong chứa nhiều hạt trong các khoang riêng rẽ.  
Các loài trong họ này theo truyền thống được phân loại trong ba phân họ, đôi  
khi được nâng lên thành họ trong bộ Đậu (Fabales), trên cơ sở hình thái học  
của hoa (đặc biệt là hình dạng cánh hoa): Phân họ Vang (Caesalpinioideae),  
hay họ Vang - Caesalpiniaceae: Hoa của chúng đối xứng hai bên, nhưng thay  
đổi nhiều tùy theo từng chi cụ thể, chẳng hạn trong chi Cercis thì hoa tương  
10  
tự như hoa của các loài trong phân họ Faboideae, trong khi tại chi Bauhinia  
thì nó là đối xứng với 5 cánh hoa bằng nhau, Nguyễn Bá (2006) [20].  
Phân họ Trinh nữ (Mimosoideae), hay họ Trinh nữ - Mimosaceae: Các  
cánh hoa nhỏ và thông thường có dạng hình cầu hay là cụm hoa dạng bông và  
các nhị hoa là bộ phận sặc sỡ nhất của hoa, Nguyễn Bá (2006) [20].  
Phân họ Đậu (Faboideae hay Papilionoideae) (họ Fabaceae nghĩa hẹp  
hay họ Papilionaceae): Một cánh hoa lớn và có nếp gấp trên nó, hai cánh hoa  
cận kề mọc bên cạnh còn hai cánh hoa dưới chúng nối liền với nhau ở đáy,  
tạo thành một cấu trúc tương tự như cái thuyền con. Một đặc trưng nổi bật của  
các loài cây thuộc họ Đậu là chúng là các loại cây chủ cho nhiều loài vi khuẩn  
tại các nốt sần trên rễ của chúng. Các loại vi khuẩn này được biết đến như là  
vi khuẩn nốt rễ (rhizobium), có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và  
chuyển hóa nó thành các dạng chất mà cây có thể hấp thụ được (NO3- hay  
NH3). Hoạt động này được gọi là cố định đạm.Cây đậu, trong vai trò của cây  
chủ, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra  
một quan hệ cộng sinh.  
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam  
2.3.1. Nghiên cứu về hỗn hợp ruột bầu  
Theo Nguyễn Xuân Quát (1985) [8] để chuẩn bị đất làm ruột bầu cần  
đảm bảo các tiêu chí:  
- Tiêu chuẩn đất làm ruột bầu:  
+ Đất làm bầu là thành phần chủ yếu dùng để làm hỗn hợp ruột bầu tạo  
ra cây con có bầu, đây là cách thức được sử dụng phổ biến ở nhiều nơi, góp  
phần quan trọng vào quy mô phát triển và kết quả của việc trồng rừng.  
+ Hỗn hợp ruột bầu được coi là một cái giá đỡ và cái kho chứa chất  
dinh dưỡng nuôi cây, đảm bảo môi trường an toàn và thuận lợi cho cây phát  
triển không chỉ trong vườn ươm mà cả trong thời gian đầu khi trồng xong.  
   
11  
+ Đất làm bầu thường chiếm 80 - 90% trọng lượng ruột bầu thậm chí  
chiếm đến 99% hoặc 100% nếu đất tốt. Để đáp ứng được yêu cầu trên, đất  
làm bầu phải tơi xốp, thấm và giữ nước tốt và thoáng khí cho rễ phát triển  
nhưng cũng phải có độ kết dính không có hạt đất hoặc các hạt khác to hơn 4 -  
5mm để không bị vỡ khi di chuyển (trừ loại bầu treo).  
+ Tiêu chuẩn đất làm ruột bầu là thành phần cơ giới trung bình thuộc  
loại đất thịt hay thịt pha có 40 - 50% hạt đất mịn và bạt sét, ít chua có độ pH  
từ 5 - 6, đất tầng mặt có mùn và các dưỡng chất cần thiết.  
- Kĩ thuật làm đất ruột bầu:  
+ Lấy đất: Phát dọn sạch thực bì nơi được chọn, cuốc hoặc cày lớp đất  
mặt sâu không quá 20 - 30 cm, đập nhỏ và nhặt bỏ đá cục và các tạp vật thô,  
sàng đất qua lưới thép hoặc phên nan tre để loại bỏ các hạt đất lớn hơn 4 - 5 mm.  
+ Phơi ải và ủ đất: Rải đất trên nền phẳng ở ngoài trời dày khoẳng 5 - 7  
cm, dùng tấm vải mưa trong suốt phủ lên mặt đất, lấy gạch đá chặn mép tấm vải  
mưa, để nguyên như vậy phơi nắng khoảng 3 - 4 ngày để cho đất ải. Vun đất lại  
thành đống cao 40 - 50 cm cũng dùng vải mưa phủ kín và chặn mép để ủ đất sau  
vài ba tuần để diệt trừ mầm mống sâu bệnh và cỏ dại trước khi đem dùng.  
+ Trộn hỗn hợp ruột bầu: Cân đong chính xác từng loại nguyên liệu (đất,  
phân bón...) theo tỉ lệ cần dùng, loại nguyên liệu nào nhiều đổ trước ở dưới, loại  
nguyên liệu ít đổ sau ở trên tạo thành đống hình nón. Dùng xẻng xúc đảo hỗn  
hợp chuyển sang bên cạnh phải đảo trộn như vậy 2 - 3 lần cho đều.  
+ Bảo quản đất và hỗn hợp ruột bầu: sau khi phơi ủ hoặc trộn xong nếu  
chưa dùng hoặc dùng chưa hết phải để trên nền khô ráo có mái che và tủ bằng  
vải nhựa để tránh mưa hoặc bị nhiễm lại các mầm mống sâu, bệnh hại và cỏ  
dại làm giảm phẩm chất nguyên liệu.  
Nước ta, rừng trồng trải dài trên diện tích rộng lớn, cây rừng sống lâu  
năm, trình độ cơ giới hoá trong sản xuất, nhân lực, vốn đầu tư có hạn. Rừng  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 72 trang yennguyen 19140 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây con Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_anh_huong_cua_hon_hop_ruot_bau_den_sinh.pdf