Giáo trình mô đun Điều động tàu 2 - Nghề: Điều khiển tàu biển

CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I  
GIÁO TRÌNH  
MÔ ĐUN: ĐIỀU ĐỘNG TÀU 2  
NGHỀ: ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG NGHỀ  
(Ban hành kèm theo Quyết định số.....QĐ/ ngày......tháng........năm....của...........)  
HẢI PHÒNG, năm 2017  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được  
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh  
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
i
LỜI GIỚI THIỆU  
An toàn cho con người, con tàu, hàng hóa và môi trường biển là một trong  
những mục đích cao nhất của thuyền trưởng và các sĩ quan hàng hải. Lịch sử nghành  
hàng hải thế giới cho thấy rất nhiều vụ tai nạn xảy mà nguyên nhân chủ yếu là do  
thiếu sót của người điều khiển tàu. Trong những thiếu sót đó thì sai lầm do điều  
động tàu chiếm một phần lớn.  
Để nâng cao khả năng điều khiển tàu cho thuyền trưởng và các sĩ quan hàng  
hải, thì trước hết phải trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng về điều động tàu cho  
sinh viên nghành điều khiển tàu biển khi đang học trong trường, bao gồm giáo trình  
ĐIỀU ĐỘNG TÀU 1 đã học ở kỳ trước và cả giáo trình ĐIỀU ĐỘNG TÀU này.  
Đào tạo nhân lực cho ngành vận tải biển là nhiệm vụ chủ yếu của trường Cao  
đẳng Hàng hải I, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế STCW 95/2010 và cung cấp cho  
ngành Hàng hải trong nước cũng như Quốc tế những thuyền viên giỏi về chuyên  
môn, vững vàng về nghiệp vụ, phục vụ cho sự nghiệp phát triển của ngành vận tải  
biển. Để phục vụ cho công tác dạy và học trong nhà trường được tốt, chúng tôi đã  
biên soạn giáo trình ĐIỀU ĐỘNG TÀU 2 để làm tài liệu giảng dạy và học tập trong  
nhà trường đối với hệ Cao đẳng nghề ngành Điều khiển tàu biển. Giáo trình này  
cũng là tài liệu cho các đọc giả có chuyên ngành về Điều khiển tàu biển cùng các  
lĩnh vực có liên quan tham khảo.  
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp và sự cộng tác nhiệt tình  
của các đồng nghiệp trong Khoa Điều khiển tàu biển - Trường Cao đẳng Hàng hải  
I. Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong  
các bạn đồng nghiệp và bạn đọc đóng góp ý kiến để chúng tôi tiếp tục cập nhật và  
hiệu chỉnh cho giáo trình “ĐIỀU ĐỘNG TÀU 2” ngày thêm hoàn thiện hơn.  
Xin chân thành cám ơn.  
Hải phòng, ngày 28 tháng 09 năm 2017  
Tham gia biên soạn  
1. Đoàn Tân Thành  
2.Nguyễn Văn Tâm  
ii  
 
MỤC LỤC  
Trang  
iii  
 
iv  
v
DANH MỤC BẢNG  
Trang  
DANH MỤC HÌNH  
Trang  
vii  
   
viii  
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN ĐIỀU ĐỘNG TÀU 2  
Mã mô đun: MĐ6840109.35  
1. Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun:  
- Vị trí: Mô đun chuyên ngành được giảng dạy sau mô đun Điều động tàu 1.  
- Tính chất: Đây là mô đun thực hành nhằm trang bị cho người học những kiến thức  
và kỹ năng cơ bản về điều động tàu.  
- Ý nghĩa và vai trò:  
+ Trang bị kiến thức cho người học về điều động tàu  
+ Tạo kỹ năng điều động tàu trong các tình huống khác nhau  
2. Mục tiêu của mô đun:  
- Về kiến thức: Trình bày được những kiến thức cơ bản về điều động tàu cập, rời cầu  
phao khi có ảnh hưởng của gió nước và trong các trường hợp đặc biệt.  
- Về khả năng: Trợ giúp được thuyền trưởng theo đúng chức trách và nhiệm vụ trong  
điều động tàu cập và rời cầu phao, điều động tàu khi có sự cố, điều động tàu trong  
sóng gió lớn, điều động tàu trong bão, điều động tàu trong luồng hẹp và kênh đào,  
điều động tàu tìm kiếm và cứu nạn trên biển.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện tính cẩn thận, nhanh chóng, chính  
xác, đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường đồng thời trợ giúp thuyền trưởng điều  
động tàu trong tình huống khác nhau.  
Nội dung của mô đun:  
1
 
Bài 01. ĐIỀU ĐỘNG TÀU CẬP VÀ RỜI CẦU  
Mã bài: 6840109.35.01  
Giới thiệu:  
Cập và rời cầu khi gió nước êm là điều kiện vô cùng thuận lợi cho người điều  
khiển khi điều động tàu nhưng thực tế không phải lúc nào cũng nhu vậy. Trong quá  
trình khai thác tàu, thuyền trưởng và các sĩ quan hàng hải thường xuyên gặp phải hai  
điều kiện ngoại cảnh đó là gió và dòng chảy, chúng có tác động rất lớn trong suốt  
quá trình điều động tàu cập và rời cầu đồng thời ảnh hưởng đến an toàn tàu, cầu tàu,  
trang thiết bị cảng…  
Mục tiêu:  
Sau khi học xong bài này người học có khả năng:  
- Trình bày được các phương pháp điều động tàu cập và rời cầu tuỳ vào các điều  
kiện, hoàn cảnh cụ thể;  
- Có kỹ năng điều động tàu cập và rời cầu trong các điều kiện khác nhau;  
- Rèn luyện tính bình tĩnh, chính xác khi điều động tàu cập và rời cầu.  
Nội dung chính:  
1. Điều động tàu cập cầu  
1.1. Cập cầu khi có ảnh hưởng của nước  
1.1.1. Cập cầu mạn phải  
Xét trường hợp tàu cập cầu với chân vịt chiều phải, quá trình điều động tàu  
cập cầu có thể chia thành các giai đoạn sau:  
Giai đoạn đầu, được thực hiện từ xa, người điều khiển đưa tàu đi ngược nước,  
mũi tàu hướng về điểm cần cập phía trước điểm cập mũi tàu khoảng 1/4÷1/5 chiều  
dài thân tàu. Việc chọn góc cập cầu tùy thuộc và hoàn cảnh cụ thể như điều kiện của  
cầu cảng có tàu cập phía trước hoặc sau không, thủy diện cảng có đủ rộng hay không,  
thông thường góc cập cầu được chọn trong khoảng 10°÷20°, tàu giảm máy sẵn sàng  
điều động.  
Giai đoạn xử lý trớn tàu, khi tàu còn cách cầu khoảng 3÷4 lần chiều dài thân  
tàu thì tiến hành dừng máy, việc quyết định khoảng cách dừng máy tới cầu cảng phụ  
thuộc vào tốc độ tàu trước khi dừng máy, tải trọng tàu và tốc độ dòng chảy. Tốc độ  
lớn tàu phải dừng máy từ xa, tốc độ nhỏ thì dừng máy gần hơn, tốc độ dòng chảy  
nhỏ cần dừng máy ở khoảng cách xa hơn so với tốc độ dòng chảy lớn. Sau khi dừng  
máy người điều khiển xử lý trớn tàu đến tiếp cận cầu, có thể phải sử dụng máy tới  
2
     
hoặc lùi, tùy thuộc trớn tàu sao cho khi mũi tàu đến ngang điểm cập lái trớn tới của  
tàu còn nhẹ, mũi tàu cách cầu khoảng 10÷20 mét theo chiều ngang.  
Giai đoạn tiếp cận cầu, sau khi mũi tàu vượt qua điểm cập lái tùy thuộc trớn  
tới còn lại của tàu, nếu trớn tới còn rất nhẹ thì tiến hành lấy hết lái sang phải, trường  
hợp trớn tới còn lớn thì tiến hành lùi máy phá trớn, do hiệu ứng bánh lái và chân vịt  
mũi tàu từ từ ngả về phía cầu, tàu tiếp cận cầu bằng mũi, phía mũi tàu nhanh chóng  
đưa dây ném lên bờ.  
Giai đoạn làm dây cập cầu, thông thường làm dây dọc mũi trước, tuy nhiên  
trong trường hợp dòng chảy nhẹ tàu có thể làm dây chéo mũi trước. Sau khi đưa  
được dây dọc mũi lên bờ, tàu nhanh chóng thu căng dây để đưa mũi tàu tiếp cận cầu.  
Để đưa lái tiếp cận cầu tàu tiến hành thực hiện lái ra mạn ngoài của cầu, do tác dụng  
của dòng nước vào bánh lái và dây dọc mũi làm cho lái tàu từ từ ép và cầu. Nhanh  
chóng làm dây chéo lái, dây chéo mũi và lần lượt đưa các dây còn lại lên bờ. Việc  
điều chỉnh vị trí tàu tại cầu cảng bằng cách xông hoặc thu các dây chéo mũi và dây  
chéo lái có thể sử dụng máy tàu hỗ trợ trong trường hợp dòng chảy mạnh.  
Giai đoạn kết thúc, tàu tiến hành thu căng đều tất cả các dây buộc cầu, cố định các  
dây và làm các công việc khác như đặt chắn chuột, thu dọn dây, tắt tời, hạ cầu thang…  
* Quy trình cập cầu mạn phải  
A
Bước 1: Công tác chuẩn bị;  
Bước 2: Từ xa, người điều  
4
khiển đưa tàu đi ngược nước, mũi  
5
tàu hướng về điểm cần cập;  
3
Bước 3: Dừng máy và xử  
100-200  
lý trớn tàu;  
Bước 4: Dùng trớn tới tiếp  
cận cầu;  
Bước 5: Tiến hành làm dây  
2
cập cầu theo lệnh thuyền trưởng;  
Bước 6: Tiến hành thu căng  
1
đều tất cả các dây buộc cầu, cố định  
các dây và làm các công việc khác  
như đặt chắn chuột, thu dọn dây, tắt  
Hình 1.1 - Cập cầu mạn phải khi có ảnh  
tời, hạ cầu thang…  
hưởngcủa nước  
3
 
1.1.2. Cập cầu mạn trái  
Xét trường hợp tàu cập cầu với chân vịt chiều phải, quá trình điều động tàu  
cập cầu có thể chia thành các giai đoạn sau:  
Giai đoạn đầu, được thực hiện từ xa, người điều khiển đưa mũi tàu hướng về  
điểm cần cập phía trước cầu cần cập, cách điểm cập mũi tàu khoảng 1/4÷1/5 chiều  
dài thân tàu. Việc chọn góc cập cầu tùy thuộc và hoàn cảnh cụ thể như điều kiện của  
cầu cảng có tàu cập phía trước hoặc sau không, thủy diện cảng có đủ rộng hay không,  
thông thường góc cập cầu được chọn trong khoảng 20°÷40°,tàu giảm máy sẵn sàng  
điều động.  
Giai đoạn xử lý trớn tàu, khi tàu còn cách cầu khoảng 3÷4 lần chiều dài thân  
tàu thì tiến hành dừng máy. Việc quyết định khoảng cách dừng máy tới cầu cảng  
phụ thuộc vào tốc độ tàu trước khi dừng máy, tải trọng của tàu và tốc độ dòng chảy.  
Tốc độ lớn tàu phải dừng máy xa hơn so với tốc độ tàu nhỏ nhỏ, tàu đầy tải thì cần  
dừng máy sớm hơn tàu nhẹ tải, tốc độ dòng chảy lớn thì dừng máy gần hơn so với  
trường hợp tốc độ dòng chảy nhẹ. Sau khi dừng máy người điều khiển xử lý trớn tàu  
đến tiếp cận cầu, quá trình đưa tàu đến tiếp cận cầu có thể phải sử dụng máy tới hoặc  
lùi tùy thuộc trớn tàu, sao cho khi mũi tàu đến ngang điểm cập lái trớn tới của tàu  
còn nhẹ, mũi tàu cách cầu  
khoảng 10÷20 mét theo chiều  
ngang.  
A
Giai đoạn tiếp cận cầu,  
4
5
sau khi mũi tàu vượt qua điểm  
cập lái thì thực hiện lái sang mạn  
3
ngoài của cầu, trường hợp trớn  
200-400  
tới còn lớn thì tiến hành lùi máy  
phá trớn, do hiệu ứng bánh lái và  
chân vịt mũi tàu từ từ ngả ra xa  
cầu, tàu gần như song với cầu,  
tàu tiếp cận cầu bằng mũi, phía  
2
mũi tàu nhanh chóng đưa dây  
ném lên bờ.  
1
Giai đoạn làm dây cập  
cầu, tàu tiến hành làm dây dọc  
mũi trước, sau khi đưa được dây  
Hình 1.2 - Cập cầu mạn trái khi có ảnh  
dọc mũi lên bờ, tàu nhanh chóng  
thu căng để đưa mũi tàu tiếp cận  
hưởng của nước  
4
   
cầu. Để đưa lái tiếp cận cầu tàu tiến hành thực hiện lấy hết lái ra mạn ngoài của cầu  
do tác dụng của dòng nước vào bánh lái và dây dọc mũi làm cho lái tàu từ từ ép và  
cầu. Nhanh chóng làm dây chéo lái, chéo mũi và lần lượt đưa các dây còn lại lên bờ.  
Việc điều chỉnh vị trí tàu tại cầu cảng bằng cách xông hoặc thu các dây chéo mũi,  
dây chéo lái có thể phải sử dụng máy tàu hỗ trợ trong trường hợp dòng chảy mạnh.  
Giai đoạn kết thúc, tàu tiến hành thu căng đều tất cả các dây buộc cầu, cố định các  
dây và làm các công việc khác như đặt chắn chuột, thu dọn dây, tắt tời, hạ cầu thang…  
* Lưu ý  
Khi cập cầu với chân vịt chiều trái thì tiến hành ngược lại với trường hợp tàu  
cập cầu với chân vịt chiều phải, nếu cập cầu mạn trái chân vịt chiều trái giống cập  
cầu mạn phải chân vịt chiều phải còn cập cầu mạn phải chân vịt chiều trái giống cập  
cầu mạn trái chân vịt chiều phải đã trình bày ở trên.  
* Quy trình cập cầu mạn trái  
Bước 1: Công tác chuẩn bị;  
Bước 2: Từ xa, người điều khiển đưa tàu đi ngược nước, mũi tàu hướng về  
điểm cần cập;  
Bước 3: Dừng máy và xử lý trớn tàu;  
Bước 4: Dùng trớn tới tiếp cận cầu;  
Bước 5: Tiến hành làm dây cập cầu;  
Bước 6: Tiến hành thu căng đều tất cả các dây buộc cầu, cố định các dây và làm các công  
việc khác như đặt chắn chuột, thu dọn dây, tắt tời, hạ cầu thang…  
1.2. Cập cầu khi có ảnh hưởng của gió  
1.2.1. Gió song song với cầu  
a. Cập cầu mạn phải  
Xét trường hợp tàu cập cầu với chân vịt chiều phải, quá trình điều động tàu  
cập cầu có thể chia thành các giai đoạn sau:  
Giai đoạn đầu, được thực hiện từ xa, người điều khiển đưa tàu đi gió mũi tàu  
hướng về điểm cần cập phía trước điểm cập mũi tàu khoảng 1/3÷1/4 chiều dài thân  
tàu. Việc chọn góc cập cầu tùy thuộc và hoàn cảnh cụ thể như điều kiện của cầu cảng  
có tàu cập phía trước hoặc sau không, thủy diện cảng có đủ rộng hay không, thông  
thường góc cập cầu được chọn trong khoảng 10°÷20°,tàu giảm máy sẵn sàng điều  
động.  
Giai đoạn xử lý trớn tàu, khi tàu còn cách cầu khoảng 3÷4 lần chiều dài thân  
tàu thì tiến hành dừng máy, việc quyết định khoảng cách dừng máy tới cầu cảng phụ  
thuộc vào tốc độ tàu trước khi dừng máy, tải trọng tàu và tốc độ gió, mạn khô hứng  
5
   
gió của tàu. Tốc độ lớn tàu phải dừng máy xa hơn trường hợp tốc độ tàu nhỏ, tàu đầy  
tải cần phải dừng máy sớm hơn trường hợp tàu nhẹ tải, gió nhẹ cần dừng máy ở khoảng  
cách xa hơn so với gió mạnh. Sau khi dừng máy người điều khiển xử lý trớn tàu đến  
tiếp cận cầu, có thể phải sử dụng máy tới hoặc lùi, tùy thuộc trớn tàu sao cho khi mũi  
tàu đến ngang điểm cập lái, trớn tới của tàu còn nhẹ, mũi tàu cách cầu khoảng 10÷20  
mét theo chiều ngang.  
Giai đoạn tiếp cận cầu, sau khi mũi tàu vượt qua điểm cập lái tùy thuộc trớn  
tới còn lại của tàu, nếu trớn tới còn rất nhẹ thì tiến hành lấy hết lái sang phải, trường  
hợp trớn tới còn lớn thì tiến hành lùi máy phá trớn, do hiệu ứng bánh lái và chân vịt  
mũi tàu từ từ ngả về phía cầu, tàu tiếp cận cầu bằng mũi, phía mũi tàu nhanh chóng  
đưa dây ném lên bờ.  
Giai đoạn làm dây cập cầu, thông thường làm dây dọc mũi trước tuy nhiên  
trường hợp gió nhẹ tàu có thể làm dây chéo trước. Sau khi đưa được dây dọc mũi  
lên bờ, tàu nhanh chóng thu căng để đưa mũi tàu tiếp cận cầu, nhanh chóng làm dây  
chéo mũi. Để đưa lái tiếp cận cầu tàu tiến hành thực hiện lấy hết lái ra mạn ngoài  
của cầu tới nhẹ máy, do tác dụng của dòng nước vào bánh lái và dây chéo mũi làm  
cho lái tàu từ từ ép và cầu, lần lượt đưa các dây còn lại lên bờ. Việc điều chỉnh vị trí  
tàu tại cầu cảng bằng cách xông hoặc thu các dây chéo mũi và dây chéo lái, có thể  
sử dụng máy tàu hỗ trợ trong trường hợp gió mạnh.  
Giai đoạn kết thúc, tàu tiến  
A
hành thu căng đều tất cả các dây buộc  
cầu, cố định các dây và làm các công  
4
việc khác như đặt chắn chuột, thu dọn  
5
dây, tắt tời, hạ cầu thang…  
* Quy trình cập cầu mạn phải  
10
0
-20
0  
3
Bước 1: Công tác chuẩn bị;  
Bước 2: Từ xa, người điều  
khiển đưa tàu đi ngược gió, mũi tàu  
hướng về điểm cần cập;  
Bước 3: Dừng máy và xử lý  
2
trớn tàu;  
1
Bước 4: Dùng trớn tới tiếp  
cận cầu;  
Bước 5: Tiến hành làm dây  
Hình 1.3 - Cập cầu mạn phải khi có ảnh  
cập cầu;  
hưởng của gió  
6
 
Bước 6: Tiến hành thu căng đều tất cả các dây buộc cầu, cố định các dây và làm các công  
việc khác như đặt chắn chuột, thu dọn dây, tắt tời, hạ cầu thang…  
b. Cập cầu mạn trái  
Xét trường hợp tàu cập cầu với chân vịt chiều phải, quá trình điều động tàu  
cập cầu có thể chia thành các giai đoạn sau:  
Giai đoạn đầu, được thực hiện từ xa, người điều khiển đưa mũi tàu ngược gió,  
hướng về điểm cần cập phía trước điểm cập mũi tàu khoảng 1/3÷1/4 chiều dài thân  
tàu. Việc chọn góc cập cầu tùy thuộc và hoàn cảnh cụ thể như điều kiện của cầu cảng  
có tàu cập phía trước hoặc sau không, thủy diện cảng có đủ rộng hay không, thông  
thường góc cập cầu được chọn trong khoảng 20°÷40°, tàu giảm máy sẵn sàng điều  
động.  
Giai đoạn xử lý trớn tàu, khi tàu còn cách cầu khoảng 3÷4 lần chiều dài thân  
tàu thì tiến hành dừng máy. Việc quyết định khoảng cách dừng máy tới cầu cảng  
phụ thuộc vào tốc độ tàu trước khi dừng máy, tải trọng tàu, tốc độ gió và diện tích  
mạn khô hứng gió của tàu. Khi tốc độ lớn tàu phải dừng máy xa hơn so với trường  
hợp tốc độ tàu nhỏ, tàu đầy tải cần dừng máy sớm hơn trường hợp tàu nhẹ tải, gió  
lớn thì dừng máy gần hơn so với trường gió nhẹ. Sau khi dừng máy người điều khiển  
xử lý trớn tàu đến tiếp cận cầu, có thể  
phải sử dụng máy tới hoặc lùi tùy  
thuộc trớn tàu, sao cho khi mũi tàu  
đến ngang điểm cập lái trớn tới của  
tàu còn nhẹ, mũi tàu cách cầu khoảng  
10÷20 mét theo chiều ngang.  
A
4
5
3
200-400  
Giai đoạn tiếp cận cầu, sau khi  
mũi tàu vượt qua điểm cập lái thì thực  
hiện lái sang mạn ngoài của cầu,  
trường hợp trớn tới còn lớn thì tiến  
hành lùi máy phá trớn, do hiệu ứng  
bánh lái và chân vịt mũi tàu từ từ ngả  
ra xa cầu, tàu gần như song với cầu,  
tàu tiếp cận cầu bằng mũi, phía mũi  
tàu nhanh chóng đưa dây ném lên bờ.  
Giai đoạn làm dây cập cầu, tàu tiến  
hành làm dây dọc mũi trước, sau khi  
đưa được dây dọc mũi lên bờ, tàu  
nhanh chóng thu căng để đưa mũi tàu  
2
1
Hình 1.4 - Cập cầu mạn trái khi có ảnh  
hưởng của gió  
7
 
tiếp cận cầu, nhanh chóng làm dây chéo mũi. Để đưa lái tiếp cận cầu tàu tiến hành  
thực hiện lấy hết lái ra mạn ngoài của cầu tới nhẹ máy, do tác dụng của dòng nước  
vào bánh lái và dây chéo mũi làm cho lái tàu từ từ ép và cầu. Nhanh chóng làm dây  
chéo lái và lần lượt đưa các dây còn lại lên bờ. Việc điều chỉnh vị trí tàu tại cầu cảng  
bằng cách xông hoặc thu các dây chéo mũi, dây chéo lái có thể sử dụng máy tàu hỗ  
trợ trong trường hợp dòng chảy mạnh.  
Giai đoạn kết thúc, tàu tiến hành thu căng đều tất cả các dây buộc cầu, cố định các  
dây và làm các công việc khác như đặt chắn chuột, thu dọn dây, tắt tời, hạ cầu thang…  
* Quy trình cập cầu mạn trái  
Bước 1: Công tác chuẩn bị;  
Bước 2: Từ xa, người điều khiển đưa tàu đi ngược gió, mũi tàu hướng về điểm  
cần cập;  
Bước 3: Dừng máy và xử lý trớn tàu;  
Bước 4: Dùng trớn tới tiếp cận cầu;  
Bước 5: Tiến hành làm dây cập cầu;  
Bước 6: Tiến hành thu căng đều tất cả các dây buộc cầu, cố định các dây và làm các công  
việc khác như đặt chắn chuột, thu dọn dây, tắt tời, hạ cầu thang…  
1.2.2. Gió thổi vuông góc với cầu  
a. Gió thổi từ cầu ra  
Về nguyên tắc cần đưa tàu vào tiếp cận cầu có hướng đối hoặc gần đối với  
hướng gió. Ở trường hợp này công tác cập cầu ít nguy hiểm vì gió luôn có xu hướng  
đẩy tàu ra xa cầu nhưng lại đòi hỏi tàu có khả năng khống chế gió tốt mới có thể tiến  
hành cập cầu được, trường hợp gió mạnh nên sử dụng tàu lai hỗ trợ.  
Giai đoạn đầu, được thực hiện từ xa, người điều khiển đưa mũi tàu hướng về  
điểm cập mũi tàu. Việc chọn góc cập cầu tùy thuộc vào sự tác động của gió, thông  
thường góc cập cầu được chọn trong khoảng 40°÷70°, trường hợp gió mạnh thì  
hướng mũi tàu gần như vuông góc với cầu cảng, giảm máy sẵn sàng điều động.  
Giai đoạn xử lý trớn tàu, khi tàu còn cách cầu khoảng 1÷3 lần chiều dài thân  
tàu thì tiến hành dừng máy, việc quyết định khoảng cách dừng máy tới cầu cảng phụ  
thuộc vào tốc độ tàu trước khi dừng máy, tải trọng tàu, tốc độ gió và diện tích mạn  
khô hứng gió của tàu, tốc độ lớn tàu phải dừng máy xa hơn so với trường hợp tốc độ  
tàu nhỏ, tàu đầy tải cần dừng máy xa hơn tàu nhẹ tải, gió nhẹ cần dừng máy ở khoảng  
cách xa hơn so với gió mạnh. Sau khi dừng máy người điều khiển xử lý trớn tàu đến  
tiếp cận cầu, có thể phải sử dụng máy tới hoặc lùi, tùy thuộc trớn tàu sao cho khi  
mũi tàu đến ngang điểm cập trớn tàu còn nhẹ, mũi tàu cách cầu khoảng 10÷20 mét  
theo chiều ngang.  
8
 
Giai đoạn tiếp cận cầu, sau khi mũi tàu đến gần điểm cập tùy thuộc trớn tới  
còn lại của tàu, nếu trớn tới còn rất nhẹ thì tiến hành lấy hết lái sang phải, trường  
hợp trớn tới còn lớn thì tiến hành lùi máy phá trớn, do hiệu ứng bánh lái và chân vịt  
mũi tàu từ từ quay về phía cầu, phía mũi tàu nhanh chóng đưa dây ném lên bờ.  
Giai đoạn làm dây cập cầu, tùy thuộc vào trường hợp cụ thể để tiến hành làm dây  
thông thường làm dây ngang mũi trước và dây chéo mũi trước. Sau khi đưa được  
ngang mũi trước và dây chéo mũi lên bờ, tàu nhanh chóng thu căng để đưa mũi tàu  
tiếp cận cầu. Để đưa lái tiếp cận cầu tàu tiến hành thực hiện lấy hết lái ra mạn ngoài  
của cầu tới máy, do tác dụng của dòng nước vào bánh lái và dây chéo mũi làm cho  
lái tàu từ từ ép và cầu, lần lượt đưa các dây còn lại lên bờ. Việc điều chỉnh vị trí tàu  
tại cầu cảng bằng cách xông hoặc thu các dây chéo mũi và dây chéo lái có thể sử  
dụng máy tàu hỗ trợ trong trường hợp gió mạnh.  
Giai đoạn kết thúc, tàu tiến hành thu căng đều tất cả các dây buộc cầu, cố định  
các dây và làm các công việc khác như đặt chắn chuột, thu dọn dây, tắt tời, hạ cầu  
thang…  
* Quy trình cập cầu  
Bước 1: Công tác chuẩn  
bị;  
Bước 2: Từ xa, người điều  
4
5
khiển đưa mũi tàu hướng về  
400-700  
điểm cập mũi tàu;  
3
Bước 3: Dừng máy và  
xử lý trớn tàu;  
2
Bước 4: Dùng trớn tới  
tiếp cận cầu;  
Bước 5: Tiến hành làm  
dây cập cầu;  
1
Bước 6: Tiến hành thu  
Hình 1.5 - Cập cầu mạn phải khi gió thổi từ  
căng đều tất cả các dây buộc  
cầu ra  
cầu, cố định các dây và làm các  
công việc khác như đặt chắn  
chuột, thu dọn dây, tắt tời, hạ cầu  
thang…  
b. Gió thổi từ ngoài vào  
Điều động tàu vào cầu khi có gió thổi từ ngoài vào cầu là trường hợp dễ gây  
tai nạn cho tàu và cầu, vì gió luôn có xu hướng đẩy tàu vào cầu. Vì vậy đối với các  
9
 
tàu cỡ lớn và trung bình thì không được phép tự vào mà phải có sự hỗ trợ của tàu  
lai. Đối với các tàu loại nhỏ gió không quá cấp 3,4 thì có thể tự cập cầu được nhưng  
phải hết sức thận trọng và nếu cần phải sử dụng neo để giúp cho việc điều động tàu  
vào cập cầu thuận lợi hơn.  
Giai đoạn đầu, được thực hiện từ xa, người điều khiển đưa tàu đi với tốc độ  
chậm, hướng mũi tàu về trước điểm cập mũi khoảng 1/3- :1/4 chiều dài thân tàu.  
Việc chọn góc cập cầu tùy thuộc vào sự tác động của gió, thông thường góc cập cầu  
được chọn trong khoảng 40°÷50°, giảm máy sẵn sàng điều động.  
Giai đoạn xử lý trớn tàu, khi tàu còn cách cầu khoảng 4÷5 lần chiều dài thân  
tàu thì tiến hành dừng máy, việc quyết định khoảng cách dừng máy tới cầu cảng phụ  
thuộc vào tốc độ tàu trước khi dừng máy, tải trọng tàu và tốc độ gió, tốc độ lớn tàu  
phải dừng máy xa hơn tốc độ tàu nhỏ, tàu đầy tải dừng máy sớm hơn tàu nhẹ tải, gió  
mạnh dừng máy sớm hơn gió nhẹ. Sau khi dừng máy người điều khiển xử lý trớn  
tàu đến tiếp cận cầu, có thể phải sử dụng máy tới hoặc lùi, tùy thuộc trớn tàu sao cho  
khi mũi tàu đến ngang điểm cập trớn tàu còn nhẹ, mũi tàu cách cầu khoảng 20÷30  
mét theo chiều ngang.  
Giai đoạn tiếp cận cầu, sau khi mũi tàu đến gần điểm cập tùy thuộc trớn tới còn  
lại của tàu, nếu trớn tới còn rất nhẹ thì tiến hành lấy hết lái sang mạn ngoài cầu, trường  
hợp trớn tới còn lớn thì tiến hành lùi máy phá trớn, do hiệu ứng bánh lái và chân vịt  
mũi tàu từ từ quay về phía phải, phía mũi tàu nhanh chóng đưa dây ném lên bờ.  
Giai đoạn làm dây cập cầu, tùy  
thuộc vào trường hợp cụ thể để tiến  
hành làm dây thông thường làm  
dây chéo mũi trước. Do tác động  
của gió mũi tàu từ từ tiếp cận cầu  
trước, tàu nhanh chóng thu dây  
chéo mũi, do sự tác động của gió  
lái tàu bị đẩy về phía cầu, để giảm  
nhẹ va trạm lái tàu với cầu cảng,  
tàu cần lấy lái về phía cầu tới nhẹ  
máy, do tác động của dòng nước  
vào bánh lái dỡ cho lái tàu không  
bị va đập vào cầu, lần lượt đưa các  
dây còn lại lên bờ. Việc điều chỉnh  
vị trí tàu tại cầu cảng bằng cách  
A
4
5
3
400-500  
2
1
Hình 1.6 - Cập cầu mạn phải khi gió  
thổi từ ngoài vào cầu  
10  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 113 trang yennguyen 26761 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Điều động tàu 2 - Nghề: Điều khiển tàu biển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxgiao_trinh_mo_dun_dieu_dong_tau_2_nghe_dieu_khien_tau_bien.docx