Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán tại các doanh nghiệp bảo hiểm do kiểm toán nhà nước thực hiện

gIaûI pHaùp naâng caO cHaÁT löôÏng KIEÅm TOaùn  
TaÏI caùc dOanH ngHIEÄp baûO HIEÅm dO  
KIEÅm TOaùn nHaØ nöôùc THöÏc HIEÄn  
S. NGUYỄN HùNG MINH*  
rong những năm qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã khẳng định được vai trò quan trọng  
trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện môi trường kinh  
doanh của Việt Nam. ị trường bảo hiểm ngày càng thể hiện được vai trò, vị trí trong nền  
T
kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện thành công các giải pháp chủ yếu về chỉ đạo, điều hành  
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, yêu cầu đặt ra là hoạt động của các DNBH cần được  
kiểm soát tốt để đảm bảo sự phát triển, cũng như tính ổn định của nền kinh tế, chính trị và đời sống xã  
hội. Hơn nữa, Nhà nước cũng như các chủ thể liên quan có nhu cầu nắm bắt, kiểm soát tình hình quản lý  
và sử dụng vốn, cũng như khả năng quản lý, điều hành hoạt động của các DNBH. Trong những năm gần  
đây, các kết quả thanh tra kiểm toán cho thấy công tác quản lý chi bồi thường, chi hoa hồng và hỗ trợ đại  
lý tại các DNBH có nhiều vấn đề; nhiều trường hợp chi trả bồi thường không đúng đối tượng hoặc đã được  
loại trừ nhưng vẫn chi trả... Điều này đặt ra yêu cầu kiểm soát hoạt động các DNBH, tình hình tuân thủ  
các quy định, chính sách của Chính phủ, Bộ Tài chính tại các DNBH trong quá trình hoạt động. Chính vì  
vậy, việc đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán tại các DNBH trở thành nhiệm vụ, mục tiêu  
của KTNN trong quá trình thực hiện kiểm toán, việc này có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và  
hiệu quả chung của cuộc kiểm toán.  
Từ khóa: kiểm toán, doanh nghiệp bảo hiểm.  
Solutions to improve the quality of auditing at insurance corporations implemented by SAV  
In recent years, Vietnam’s insurance market has affirmed its important role in socio-economic  
development, contributing to ensuring social security and improving the business environment of Vietnam.  
e insurance market is increasingly showing the role and position in the socio-economy, contributing to  
the successful implementation of major solutions on direction and administration of the implementation  
of socio-economic development plans. erefore, the requirement is that the operation of insurers should  
be well controlled to ensure the development, as well as the stability of the economy, politics and social life.  
Moreover, the State as well as related subjects need to grasp and control the management and use of capital,  
as well as the ability to manage and administer the operations of insurers. In recent years, audit inspection  
results show that the management of compensation, commission payment and agency support in insurance  
businesses has many problems; many cases of compensation payment are not the right person or have  
been excluded but still paid... is poses a requirement to control the operation of insurers, the situation  
of complying with regulations and policies of the Government, Ministry of Finance at insurers during  
operation. erefore, the introduction of solutions to improve the audit quality at the insurers becomes the  
task and objectives of SAV in the process of implementing auditing, this plays an important role, influencing  
quality and overall effectiveness of the audit.  
key words: Audit, insurers.  
1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận cơ  
bản về kiểm toán báo cáo tài chính tại các DNBH  
do kTNN thực hiện  
eo pháp luật hiện hành thì khái niệm “Doanh  
nghiệp bảo hiểm” được hiểu như sau: “Doanh  
nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập,  
tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Kinh  
doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp  
a) Phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với các loại  
hình doanh nghiệp khác  
* Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán; Kiểm toán nhà nước  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 - tháng 12/2018 35  
NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI  
luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo  
hiểm”. Với tư cách là doanh nghiệp, nó có đầy đủ  
các đặc điểm của doanh nghiệp nói chung. Tuy  
nhiên, doanh nghiệp bảo hiểm còn có đặc điểm  
đặc thù giúp chúng ta nhận biết nó với các loại  
doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác.  
động kinh doanh bảo hiểm có tên gọi là Ủy ban  
Giám sát bảo hiểm. Các nước khác như Anh, Nhật  
Bản, cơ quan này là một phòng trực thuộc vụ quản  
lý các ngân hàng.  
Như vậy, đây là các đặc điểm giúp ta phân biệt  
doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác  
trong nền kinh tế. Trong khi các doanh nghiệp  
kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề khác  
chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước  
khác như các tổ chức tín dụng chịu sự quản lý nhà  
nước trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước, các doanh  
nghiệp kinh doanh chứng khoán chịu sự quản lý  
nhà nước của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước...  
ứ nhất, tính chất đặc biệt của kinh doanh bảo  
hiểm thể hiện ở chỗ: Nó là loại dịch vụ tài chính  
đặc biệt, là hoạt động kinh doanh trên những rủi  
ro. Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình,  
nó là sự bảo đảm về mặt tài chính trước rủi ro  
cho người được bảo hiểm kèm theo là các dịch vụ  
có liên quan. Chu trình kinh doanh bảo hiểm là  
chu trình đảo ngược, tức là sản phẩm được bán ra  
trước, doanh thu được thực hiện, sau đó mới phát  
sinh chi phí. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhận phí  
bảo hiểm trước của người tham gia bảo hiểm đóng  
góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên được bảo  
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thực tế.  
b) Báo cáo tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm  
và vai trò của nó  
Hệ thống báo cáo tài chính của DNBH bao gồm  
có 4 báo cáo: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả  
hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ  
và thuyết minh BCTC.  
ứ hai, doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản  
lý trực tiếp của Bộ Tài chính. Để quản lý hoạt động  
kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế  
giới đều giao cho một cơ quan quản lý nhà nước  
nhất định. Một số nước ở châu á như Singapore,  
Philippines, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt  
Báo cáo tài chính có vai trò quan trọng và chiếm  
phần lớn trong báo cáo thường niên của DNBH.  
ông qua báo cáo tài chính của DNBH, ta có thể  
thấy rõ vai trò của nó như sau:  
- Trình bày một cách tổng quát nhất, phản ánh  
36 Số 134 - tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
rõ tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình tài chính  
của DNBH bằng những con số thực tế mà kế toán  
tổng hợp trong kỳ.  
2. ực trạng chất lượng kiểm toán BCTC tại  
các DNBH do kiểm toán nhà nước thực hiện  
- Những kết quả đạt được: Việc thực hiện kiểm  
toán theo đúng trọng tâm, mục tiêu, nội dung đặt  
ra đã tạo sự thống nhất giữa các đoàn kiểm toán  
từ trình tự tiến hành các bước, các phương pháp  
vận dụng cũng như hình thức, nội dung thể hiện  
trên báo cáo, giúp cho các đoàn kiểm toán có định  
hướng rõ ràng về mục đích, yêu cầu nội dung phải  
thực hiện trong từng công việc; thủ tục kiểm toán  
báo cáo tài chính đã thiết lập được các công việc cơ  
bản và trình tự thực hiện một cách tương đối khoa  
học; chỉ ra được những việc cần làm cụ thể, các  
phương pháp có thể vận dụng cũng như cách thức  
tiến hành của từng bước trong một cuộc kiểm toán;  
thực hiện đầy đủ các bước hướng dẫn của quy trình  
thủ tục kiểm toán giúp KTV hạn chế và tránh các  
rủi ro trong quá trình thực hiện kiểm toán. Việc  
áp dụng thủ tục kiểm toán tại các DNBH vào hoạt  
động kiểm toán đã làm tăng chất lượng kiểm toán.  
- Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin,  
số liệu cụ thể để đánh giá hiệu quả hoạt động của  
DNBH, thực trạng tài chính, kinh tế giúp cho việc  
kiểm tra, giám sát và sử dụng vốn của DN, đánh  
giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn vào hoạt động  
của DN.  
- Giúp các nhà quản trị DN, các đối tượng kinh  
doanh có những thông tin cần thiết phục vụ trong  
quá trình nhìn nhận, đánh giá và ra quyết định  
chiến lược.  
- Báo cáo tài chính là các số liệu thực tế, những  
chỉ tiêu thực trạng. Đây sẽ là căn cứ, tiền đề, là cơ  
sở để tính ra các chỉ tiêu đánh giá khác trong DN.  
- Báo cáo tài chính của DNBH là căn cứ quan  
trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát triển  
về quản lý, điều hành DN. Đồng thời là cơ sở để xây  
dựng kế hoạch chiến lược kinh doanh riêng biệt  
nhằm đưa hoạt động DN hiệu quả hơn, tối đa hóa  
lợi nhuận.  
- Hạn chế: Kiểm toán BCTC các DNBH đã được  
thực hiện thông qua nhiều cuộc kiểm toán nhưng  
nhiều vấn đề cụ thể trong từng bước của cuộc kiểm  
toán chưa có văn bản nào hướng dẫn một cách chi  
tiết, điều này rất bất lợi cho những KTV mới vào  
nghề hoặc KTV còn ít kinh nghiệm. Hệ thống hồ  
sơ mẫu biểu kiểm toán còn chưa đầy đủ, một số  
chỉ tiêu còn trùng lắp. Đặc biệt, chưa có hướng  
dẫn cụ thể đối với việc ghi chép nhật ký của KTV;  
Chưa có quy trình cụ thể đối với việc soát xét chất  
lượng kiểm toán và giám sát đạo đức hành nghề  
của KTV...  
b) Các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh  
hưởng đến kiểm toán BCTC các doanh nghiệp bảo  
hiểm do KTNN thực hiện  
- Cơ chế phân công, phân cấp nhiệm vụ của  
KTNN;  
- Các quy định về chuyên môn nghiệp vụ kiểm  
toán;  
- Quy chế, thủ tục về kiểm soát chất lượng kiểm  
toán;  
- Nguyên nhân chất lượng kiểm toán hạn chế:  
Xác định mục tiêu kiểm toán hàng năm của Kiểm  
toán nhà nước nhiều khi cũng chung chung, mục  
tiêu kiểm toán chưa gắn kết với hệ thống các chỉ  
tiêu trọng điểm, chưa gắn kết với đối tượng kiểm  
toán; hệ thống luật pháp, chính sách, chế độ hiện  
nay chưa đầy đủ, chặt chẽ, chưa đồng bộ giữa các  
ngành, lĩnh vực và thường xuyên thay đổi; hiểu biết  
về DNBH nói chung và chuyên môn về nghiệp vụ  
bảo hiểm của các KTV còn nhiều hạn chế. Những  
vấn đề trên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động  
kiểm toán nói chung và kiểm toán các DNBH nói  
- Trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp  
KTV;  
- Cơ cấu tổ chức, quy mô hoạt động kinh  
doanh, đặc thù về lĩnh vực hoạt động kinh doanh  
của doanh nghiệp...;  
- Quan điểm, nhận thức, tinh thần phối hợp  
công tác của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán đối  
với công việc kiểm toán của KTV cũng là những  
nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kiểm toán  
trong thực tiễn...  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 - tháng 12/2018 37  
NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI  
riêng; trình độ tổng hợp và viết báo cáo của KTV  
hiện nay cũng khá hạn chế, thêm vào đó việc chỉ  
đạo, phân công giữa KTV làm công tác kiểm toán  
tổng hợp của một cuộc kiểm toán và KTV viết báo  
cáo tổng hợp lại không đồng bộ, sử dụng chưa đúng  
người đúng việc. Một số đoàn kiểm toán nhiều khi  
còn có sự phân công, phân nhiệm không hợp lý, tạo  
ra sự chồng chéo, một số kiểm toán viên không có  
chuyên sâu về nghiệp vụ nhưng lại được giao kiểm  
toán các doanh nghiệp bảo hiểm dẫn tới chất lượng  
công việc không cao. Một số Đoàn kiểm toán có  
các kiểm toán viên vẫn chưa thực hiện đúng quy  
chế hoạt động đoàn kiểm toán...  
chuẩn bị kiểm toán, gộp bước “Đánh giá hệ thống  
kiểm soát nội bộ và các thông tin đã thu thập về  
đơn vị được kiểm toán” với bước “Xác định trọng  
yếu và rủi ro kiểm toán” thành bước “Phân tích,  
đánh giá các thông tin đã thu thập, đánh giá rủi ro  
kiểm toán và lựa chọn các đơn vị được kiểm toán”  
như vậy sẽ phù hợp với quy định của chuẩn mực  
lập kế hoạch kiểm toán.  
- Bỏ nội dung xác định trọng yếu, thay bằng xác  
định trọng tâm kiểm toán vì cũng theo chuẩn mực,  
trong kế hoạch kiểm toán tổng quát chưa xác định  
trọng yếu kiểm toán.  
- KTNN cần tổ chức các Tổ khảo sát với thành  
phần là các KTV có trình độ, kinh nghiệm, được  
trang bị đầy đủ phương tiện làm việc, kéo dài thời  
gian khảo sát để có thể thu thập được đầy đủ các  
thông tin đủ điều kiện làm cơ sở cho việc đánh giá  
về đơn vị được kiểm toán.  
3. Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán  
BCTC tại các DNBH do kiểm toán nhà nước  
thực hiện  
Từ những phân tích ở trên, bài viết đưa ra  
phương hướng nâng cao chất lượng kiểm toán  
BCTC tại các DNBH như việc kiểm toán báo cáo  
tài chính đối với các DNBH là không thể thiếu và  
luôn phát triển song song với kiểm toán tài chính  
công, tài sản công của Nhà nước, mà các công ty  
kiểm toán độc lập không thể thay thế vị trí của một  
cơ quan kiểm tra tài chính công. Một cuộc kiểm  
toán BCTC DNBH của KTNN thực hiện không chỉ  
kiểm toán báo cáo tài chính mà xu hướng chủ yếu  
là kết hợp với kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt  
động để đạt được nhiều mục tiêu khác nhau theo  
yêu cầu của quản lý Nhà nước. Quá trình xây dựng  
và nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC DNBH  
một mặt phải đảm bảo phù hợp với các quy định  
hiện hành của Luật KTNN về chức năng, nhiệm  
vụ của KTNN, Hệ thống Chuẩn mực KTNN, mặt  
khác phải đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn,  
tính kinh tế, tính hiệu quả, dễ hiểu và dễ áp dụng,  
đồng thời phải phù hợp với hệ thống các quy định  
hiện hành của Nhà nước về công tác quản lý kinh  
tế, tài chính, kế toán...  
- Xây dựng hệ thống thông tin về các DNBH  
được kiểm toán là rất cần thiết. Hệ thống thông tin  
này sẽ liên tục được cập nhật theo những thay đổi,  
biến động của khách thể kiểm toán.  
b) Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán ở  
giai đoạn thực hiện kiểm toán  
- Triển khai một cách chủ động và tích cực các  
kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra  
những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và  
hợp lý của báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng  
chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy.  
- Bước nghiên cứu, đánh giá các thông tin về  
DNBH được kiểm toán trong kế hoạch cần phải  
được chú trọng. Tổ chức thực hiện kiểm toán báo  
cáo tài chính DNBH chủ yếu phải dựa vào kế hoạch  
kiểm toán và đề cương kiểm toán đã được duyệt để  
phân công, bố trí lực lượng KTV trong Đoàn thực  
hiện kiểm toán các nội dung, mục tiêu và các trọng  
tâm, trọng điểm đã được xác định trong giới hạn,  
phạm vi của cuộc kiểm toán. Trên cơ sở tiến hành  
kiểm toán để thu thập các bằng chứng kiểm toán  
trung thực, chính xác, đầy đủ để phân loại phục  
vụ cho việc phân tích, đánh giá, kết luận và đưa ra  
những kiến nghị cho việc lập báo cáo kiểm toán.  
Một số giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng  
kiểm toán BCTC tại các DNBH ở các giai đoạn cụ  
thể như sau:  
a) Nâng cao chất lượng kiểm toán ở giai đoạn  
chuẩn bị kiểm toán  
- Đối với các bước công việc trong giai đoạn  
- Căn cứ các nội dung kiểm toán để xác định  
38 Số 134 - tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán thích  
hợp... Trong nội dung bước thiết kế chương trình  
kiểm toán chi tiết của kiểm toán lĩnh vực bảo hiểm  
nên có chương trình kiểm toán mẫu (bố trí ở phần  
phụ lục hướng dẫn kèm theo để KTV có thể tham  
khảo khi lập chương trình kiểm toán chi tiết).  
giấy tờ làm việc mô tả ngắn gọn nhưng đầy đủ cơ  
sở về nguồn tài liệu, số liệu và trình tự thực hiện.  
c) Nâng cao chất lượng kiểm toán ở giai đoạn lập  
và gửi Báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán  
- KTNN cần lựa chọn, bố trí nhân sự phụ trách  
công tác lập báo cáo là những người có trình độ  
chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm đồng thời  
tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra nhằm phát  
hiện các sai sót.  
- Sau khi thực hiện các thủ tục kiểm toán cơ  
bản, KTV cần xem xét quy định pháp lý và các quy  
định khác để đánh giá tính tuân thủ trong việc chấp  
hành luật pháp của đơn vị được kiểm toán.  
- Giai đoạn lập và gửi báo cáo kiểm toán của  
Đoàn kiểm toán cần có những sự điều chỉnh để phù  
hợp với quy định của các chuẩn mực mới ban hành.  
- Trong quá trình kiểm toán, KTV phải thường  
xuyên ghi chép, tập hợp đầy đủ những nhận định  
về các nghiệp vụ, các con số, các sự kiện… nhằm  
tích luỹ bằng chứng, nhận định cho những kết  
luận kiểm toán và loại trừ những nhận xét ban đầu  
không chính xác về nghiệp vụ, các sự kiện thuộc  
đối tượng kiểm toán.  
- BCKT của Đoàn kiểm toán phải báo đảm các  
yêu cầu chung quy định tại Chuẩn mực Kiểm toán  
nhà nước và theo mẫu biểu quy định của Tổng  
Kiểm toán nhà nước. Kết cấu của báo cáo kiểm  
toán cũng phải sửa đổi, bổ sung để phù hợp với  
quy định của chuẩn mực mới ban hành.  
- Hệ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán theo quy  
định của KTNN là hết sức cần thiết, nó là “xương  
sống’’ của hồ sơ kiểm toán, nhưng chưa đủ đối với  
yêu cầu về hồ sơ kiểm toán của một cuộc kiểm  
toán cụ thể. Điều này đòi hỏi các KTV phải tự phát  
huy khả năng sáng tạo, dựa vào kinh nghiệm nghề  
nghiệp để thu thập và ghi chép các tài liệu làm việc  
một cách khoa học và hợp lý.  
- Để báo cáo kiểm toán có giá trị pháp lý cao  
thì phải nâng cao chất lượng kiểm toán nói chung  
và các kết luận, kiến nghị kiểm toán nói riêng phải  
đảm bảo đúng pháp luật và khả thi.  
d) Nâng cao chất lượng kiểm toán ở giai đoạn  
kiểm tra kết luận, kiến nghị của Đoàn kiểm toán  
- Một số yêu cầu cơ bản cần thực hiện trong quá  
trình thu thập, lưu trữ các bằng chứng kiểm toán  
đó là:  
- Việc thực hiện kiến nghị kiểm toán là điều  
kiện để nhìn nhận đánh giá lại hoạt động kiểm  
toán, các khuyến nghị kiểm toán đưa ra có phù hợp  
hay không, có đảm bảo tính khả thi hay không.  
+ KTV cần phải sao, chụp các bằng chứng kiểm  
toán do đơn vị được kiểm toán cung cấp (chứng  
từ kế toán, trang sổ kế toán phản ánh hoặc tài liệu  
khác) gắn với những sai phạm trọng yếu mà KTV  
phát hiện. Đồng thời có những ghi chép, chú giải  
để thấy rõ nguồn gốc của những tài liệu, số liệu có  
liên quan đến phát hiện kiểm toán đó.  
- KTNN phải sắp xếp thời gian và nhân sự hợp  
lý để kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán.  
Nhân sự của tổ kiểm tra nên bố trí những người đã  
thực hiện kiểm toán và có liên quan đến vấn đề mà  
Đoàn kiểm toán kiến nghị đơn vị phải thực hiện.  
- ời gian kiểm tra việc thực hiện các kiến  
nghị kiểm toán liên quan đến các sai phạm xử lý  
tài chính nên để sau 30 ngày kể từ ngày phát hành  
BCKT nhằm đảm bảo tính hiệu lực của kiến nghị  
kiểm toán.  
+ Đối với các bằng chứng kiểm toán do bên thứ  
ba cung cấp cần có xác nhận của bên thứ ba, KTV  
chủ động tạo ra các biên bản hoặc bản xác nhận có  
nội dung ghi chép rõ ràng và chứng tỏ được ý kiến  
xác nhận của bên cung cấp.  
- Đối với những kiến nghị liên quan đến cải  
tiến công tác quản lý thì không nên quy định thời  
gian cố định mà phải tùy thuộc vào tính chất, mức  
độ phức tạp của kiến nghị. Nội dung kiểm tra của  
+ Đối với các hoạt động nghiệp vụ quan trọng  
cần phải thực hiện theo yêu cầu của chuẩn mực,  
quy trình kiểm toán, KTV cần phải tự tạo ra các  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 - tháng 12/2018 39  
NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI  
KTNN sẽ tập trung vào việc đơn vị được kiểm toán  
có biện pháp thực hiện kiến nghị như thế nào? Tiến  
độ thực hiện đến đâu? Đối với trường hợp không  
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, KTNN  
đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy  
định tại Khoản 4, Điều 16, Luật KTNN.  
đối tượng kiểm toán như kiểm toán các doanh  
nghiệp bảo hiểm...  
- Kiểm toán nhà nước cần đẩy mạnh công  
tác đào tào bằng việc tăng cường công tác tuyên  
truyền, cập nhật kiến thức về pháp luật cho KTV;  
mở các khóa đào tạo chuyên sâu về kiểm toán sai  
phạm, gian lận, tham nhũng và kiểm toán trách  
nhiệm kinh tế, điều tra trong hoạt động kiểm toán.  
- Chuyển bước thứ tư của quy trình kiểm toán  
“Kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm  
toán” tập trung về một đầu mối, không để một bộ  
phận vừa thực hiện kiểm toán vừa kiểm tra thực  
hiện kiến nghị. Bộ phận kiểm tra thực hiện kiến  
nghị kiểm toán sẽ cân nhắc để chuyển những đơn  
vị không thực hiện kiến nghị hoặc thực hiện không  
thỏa đáng kết luận và kiến nghị của KTNN sang cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo pháp  
luật. Bộ phận đó cũng đánh giá lại các kiến nghị  
do các đoàn kiểm toán yêu cầu về tính khả thi và  
chính xác. Về hình thức kiểm tra thực hiện có thể  
tùy thuộc tính chất từng cuộc kiểm toán, tùy thuộc  
ý thức thực hiện kết luận, kiến nghị và chế độ báo  
cáo của đơn vị, bộ phận được giao nhiệm vụ kiểm  
tra sẽ cân nhắc và trình Tổng KTNN quyết định,  
không nhất thiết phải tổ chức kiểm tra tại đơn vị  
được kiểm toán.  
- Công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán phải  
được bắt đầu bằng việc tuyển dụng nhân sự với  
các tiêu chuẩn tối thiểu được xem xét kỹ lưỡng. Để  
thực hiện điều này, cơ chế tuyển dụng công chức  
của Nhà nước cần được kiến nghị điều chỉnh, thay  
đổi theo xu hướng phù hợp hơn với đặc điểm của  
ngành, tuyển dụng những người có phẩm chất đạo  
đức tốt nhưng cũng phải có đầy đủ năng lực chuyên  
môn đáp ứng nhu cầu riêng của ngành KTNN.  
- KTNN cần yêu cầu, hướng dẫn KTV, các tổ  
kiểm toán khi đưa ra các kiến nghị phải tập hợp  
đầy đủ các bằng chứng thuyết phục, các lý lẽ phù  
hợp với kiến nghị; các bằng chứng đó phải có tính  
pháp lý, hiệu lực; các bằng chứng do chính đơn  
vị cung cấp phải có dấu và chữ ký xác nhận của  
những người có thẩm quyền.  
Một số đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất  
lượng kiểm toán tại các DNBH do Kiểm toán nhà  
nước thực hiện:  
- Để thu hút và giữ được các nhân tài, Nhà nước  
cần cải thiện chế độ đãi ngộ đối với KTV về điều  
kiện làm việc, trang thiết bị, chế độ lương, thưởng,  
cơ hội được đào tạo, cơ hội thăng tiến... xứng  
đáng với công sức và cống hiến của KTV. Khi đó  
thì KTV mới có điều kiện dành toàn bộ tâm sức  
vào công việc, KTNN mới tránh được tình trạng  
chảy máu chất xám. Đi đôi với việc khen thưởng  
thì hình thức xử phạt cũng cần được chú ý để nâng  
cao chất lượng đội ngũ KTV.  
* Đối với Quốc hội, Chính phủ: Hoàn thiện các  
cơ sở pháp lý, nâng cao vai trò, vị trí của cơ quan  
KTNN; Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi  
hành Luật KTNN; Cần bổ sung thêm biên chế cho  
KTNN để có thể đáp ứng được nhiệm vụ kiểm toán  
thường xuyên hàng năm; Có chế độ ưu tiên thoả  
đáng đối với lực lượng KTV Nhà nước trong khi  
thực hiện nhiệm vụ.  
- Cần mở rộng đối tượng kiểm toán sang các cơ  
quan, đơn vị cổ phần không có cổ phần chi phối  
của Nhà nước.  
* Đối với cơ quan Kiểm toán nhà nước: KTNN  
phải xây dựng, hoàn thiện và ban hành đầy đủ hệ  
thống các văn bản pháp lý, chuẩn mực và quy trình  
nghiệp vụ cho hoạt động của KTNN và KTNN  
chuyên ngành nhằm phục vụ, hỗ trợ và đảm bảo  
hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán.  
- Rà soát lại hệ thống hồ sơ, mẫu biểu kiểm toán  
để giúp KTV trong việc ghi chép, tổng hợp số liệu  
nhanh và chuẩn xác. Xây dựng tiêu chí, cơ chế giám  
sát, đánh giá chất lượng kiểm toán BCTC riêng cho  
các tổ chức tài chính - ngân hàng.  
- KTNN cần tiếp tục xây dựng, bổ sung và hoàn  
thiện hệ thống quy trình kiểm toán theo các lĩnh  
vực, đặc biệt quy trình kiểm toán riêng cho từng  
* Đối với Kiểm toán viên nhà nước:  
40 Số 134 - tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
- Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV  
cần tuân thủ các quy định của Luật KTNN, các  
chuẩn mực KTNN đặc biệt là chuẩn mực về trình  
độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của KTV.  
toán báo cáo tài chính nhằm nâng cao chất  
lượng kiểm toán, Luận văn ạc sỹ Kế toán  
- Kiểm toán, Học viện Tài chính, Hà Nội;  
8. Vương Đình Huệ, 2002 Giáo trình Kiểm  
toán. Hà Nội, Nhà Xuất bản Tài chính;  
- KTV cần thực hiện đúng các công việc được  
phân công trong kế hoạch kiểm toán chi tiết do Tổ  
trưởng xây dựng, tuân thủ các bước trong quy trình  
kiểm toán.  
9. Kiểm toán nhà nước, 2010. Luật Kiểm toán  
nhà nước, Hà Nội;  
10. Kiểm toán nhà nước, 2010. Quy trình kiểm  
toán các tổ chức tài chính tín dụng của  
Kiểm toán nhà nước ban hành, Hà Nội;  
- Để đảm bảo chất lượng công việc kiểm toán,  
KTV cần tích cực nghiên cứu học hỏi về chuyên  
môn nghiệp vụ, tìm hiểu sâu hơn về đặc điểm và  
nghiệp vụ chuyên môn của hoạt động các công  
ty bảo hiểm, đáp ứng được yêu cầu kiểm toán;  
Chủ động, sáng tạo, trách nhiệm trong công việc;  
thường xuyên cập nhập các kiến thức về nghiệp vụ,  
văn bản pháp luật mới ban hành về lĩnh vực kiểm  
toán.  
11. Kiểm toán nhà nước 2010, 2012. Chuẩn mực  
kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, Hà Nội;  
12. Kiểm toán nhà nước, 2007. Quyết định số  
04/2007/QĐ-KTNN ngày 02/8/2007 của  
Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành Công tác  
kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, Hà Nội;  
- Chấp hành tốt các quy định của KTNN ban  
hành như quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn  
KTNN, quy chế bảo vệ bí mật của KTNN.  
13. Luật Kinh doanh Bảo hiểm, 2010.  
14. Ngô ị Hoài Nam, 2012. Hoàn thiện tổ  
chức kiểm toán Báo cáo tài chính doanh  
nghiệp của Kiểm toán nhà nước hiện nay,  
Tạp chí Kiểm toán, số 67, trang 55 – 58;  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
I. Tài liệu Tiếng Việt:  
15. Phạm ị Kiều Trinh, (2011), Hoàn thiện  
công tác lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài  
chính tại Công ty Deloitt Việt Nam, Luận văn  
ạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế, Đà Nẵng;  
1. Đoàn Tuấn Anh, 2011. Hoàn thiện công  
tác kiểm toán báo cáo tài chính các doanh  
nghiệp nhà nước do Kiểm toán nhà nước  
thực hiện, Luận văn ạc sỹ Kinh tế,  
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội;  
16. Võ ị Hải Yến, (2011), Hoàn thiện công  
tác kiểm soát chất lượng kiểm toán Báo cáo  
tài chính tại Công ty Kiểm toán và Kế toán  
ACC, Luận văn ạc sĩ Kinh tế, Đại học  
Kinh tế Quốc dân, Hà Nội;  
2. Quốc hội, Luật Ngân sách Nhà nước,  
Hà Nội;  
3. Bộ Tài chính, 2012. Thủ tục, chương  
trình kiểm toán mẫu do VACPA ban  
hành, Hà Nội;  
II. Tài liệu tiếng nước ngoài:  
17. David Mcnamee, 2005. Internal auditing:  
Basic and best practices. Oxford: Oxford  
University, 96, pp. 103-130;  
4. Bộ Tài chính, 2008. Chuẩn mực Kiểm toán  
Việt Nam, Hà Nội;  
5. Bộ Tài chính, 2005. Chuẩn mực Kế toán Việt  
Nam, Hà Nội;  
18. Paul J.Sobel, June 2007. Auditor’s risk  
management guide: intergrating auditing  
an ERM, 78, pp. 156-190;  
6. John Dunn, 2008. Kiểm toán lý thuyết và  
thực hành - Người dịch Vũ Trọng Hùng,  
2010, Hà Nội, Nhà Xuất bản ống kê;  
19. e IIA Research Foundation , July 2007.  
Internal Auditing: Assurance an Consulting  
service, 56, pp. 98-200.  
7. Cát ị Hà, 2010. Hoàn thiện quá trình  
thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 - tháng 12/2018 41  
pdf 7 trang yennguyen 20360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán tại các doanh nghiệp bảo hiểm do kiểm toán nhà nước thực hiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_nang_cao_chat_luong_kiem_toan_tai_cac_doanh_nghiep.pdf