Đồ án Chuyển trục công trình lên cao bằng công nghệ GPS

§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
MỞ ĐẦU  
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền  
kinh tế, ngày càng có nhiều công trình nhà cao tầng đã và đang được xây  
dựng lên. Để thi công được các công trình này thì công tác trắc địa là rất quan  
trọng. Nhiệm vụ chính của công tác trắc địa trong thi công nhà cao tầng là  
đảm bảo cho nó được xây dựng đúng vị trí thiết kế, đúng kích thước hình học  
và điều quan trọng nhất của công tác trắc địa đối với nhà cao tầng là đảm bảo  
độ thẳng đứng của nó.  
Để đảm bảo độ thẳng đứng của tòa nhà trên suốt chiều cao cần xây  
dựng theo đúng thiết kế, các trục chính của công trình tại tất cả các tầng xây  
dựng đều phải được định vị cho cùng nằm trong một mặt phẳng thẳng đứng đi  
qua các trục tương ứng trên mặt bằng gốc.  
Ngày nay, với việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, việc  
chuyển trục công trình lên cao đã đạt được độ chính xác cao hơn rất nhiều.  
Nhưng do các công trình nhà cao tầng ngày càng cao hơn nên cần thiết phải  
tìm ra một phương án chuyển trục công trình lên cao vừa khả thi lại vừa đạt  
được độ chinh xác cao hơn. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng với việc thi  
công nhà cao tầng.  
Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển trục công trình lên cao  
đối với thi công các công trình nhà cao tầng nên khi được giao đồ án tốt  
nghiệp tôi đã chọn đề tài: “ Chuyển trục công trình lên cao bằng công nghệ  
GPS ”.  
Nội dung của đồ án gồm ba chương:  
Chương 1: Tổng quan về công tác trắc địa trong xây dựng nhà cao tầng  
Chương 2: Các phương pháp chuyển trục công trình lên cao’  
Chương 3: Chuyển trục công trình lên cao bằng công nghệ GPS  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
1
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
Do còn hạn chế về trình độ nên đồ án không thể tránh khỏi những thiếu  
sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô cùng  
các bạn để đồ án được hoàn thiện hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các Thầy, Cô trong Khoa  
Trắc địa cùng các bạn, đặc biệt là Cô giáo Hoàng Thị Minh Hương đã chỉ  
bảo tận tình và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đồ án này.  
Hà Nội , tháng năm 2011  
Sinh viên thực hiện  
Hoàng Nghĩa Tài  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
2
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
Chương 1  
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC TRẮC ĐỊA  
TRONG XÂY DỰNG NHÀ CAO TẦNG  
1.1. THÀNH LẬP LƯỚI KHỐNG CHẾ TRÊN KHU VỰC XÂY DỰNG  
CÔNG TRÌNH  
1.1.1. Cấu trúc hệ thống lưới thi công nhà cao tầng  
Lưới khống chế thi công là mạng lưới mặt bằng có kết cấu dạng ô  
vuông, lưới tam giác nhỏ hoặc lưới đa giác đo góc cạnh, bao gồm các điểm bố  
trí ngoài công trình và các điểm bên trong công trình. Lưới khống chế thi  
công là dạng lưới độc lập được tính toán trong hệ tọa độ vuông góc phẳng và  
thường có các trục tọa độ OX, OY song song với các trục chính của công  
trình.  
Do đặc điểm thi công nhà cao tầng nên lưới khống chế thi công bao  
gồm 3 cấp sau:  
Lưới khống chế thi công gồm các điểm nằm ngoài công trình, có chiều  
dài cạnh tùy thuộc vào diện tích xây dựng nhà, trung bình khoảng 100m.  
Trong một số trường hợp đơn giản, lưới tạo thành khung hình chữ nhật (hoặc  
hình vuông) bao quanh và có các cạnh song song với các trục chính của tòa  
nhà. Các mốc được bố trí ở nơi ổn định cách công trình một khoảng cách an  
toàn để không bị dịch chuyển hoặc phá hủy do tác động của quá trình thi  
công. Các mốc này dùng để đinh vị các trục của tòa nhà và phục vụ các giai  
đoạn thi công móng tầng hầm. Mạng lưới khống chế này được định vị dựa  
vào vị trí các điểm khống chế được địa chính cấp khi phân đất. Mạng lưới này  
được gọi là mạng lưới khống chế cơ sở trên mặt bằng xây dựng.  
Do các điểm bên ngoài dần mất tác dụng khi công trình bắt đầu xây  
dựng lên cao, nên phải lập lưới khống chế thi công gồm các bố trí bên trong  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
3
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
công trình. Chiều dài canh thường tù 20-50m. Các cạnh của lưới thường song  
song với các trục chính của tòa nhà do đó lưới thường là hình chữ nhật hoặc  
hình vuông có thể đo thêm đường chéo. Các điểm này phục vụ cho việc bố trí  
các trục chình và trục chi tiết của tòa nhà tại sàn tầng 1 và là cơ sở của lưới  
trên các tầng tiếp theo. Lưới này được định vị dựa vào các cấu trúc được gửi  
bên ngoài (trên tường bao,trên khung định vị). Lưới này được gọi là lưới  
khống chế thi công trên mặt bằng móng.  
Các điểm lưới khống chế trên mặt bằng tầng 1 được chuyển lên các sàn  
thi công theo phương thẳng đứng bằng phương pháp chiếu đứng quang học  
hoặc bằng phương pháp tọa độ nhờ các các máy toàn đạc điện tử hoặc GPS.  
Trước đây khi thi công nhà thì việc thành lập lưới này chưa được quan tâm  
theo đúng tầm quan trọng của nó và việc dảm bảo độ thẳng đứng của công  
trình chỉ được thực hiện bằng công tác chiếu điểm từ tầng dưới lên tầng trên,  
sau đó sử dụng phương pháp đo góc và cạnh kiểm tra trên các tầng được  
chiếu mà không cần xác định tọa đô chính xác của các điểm được chiếu lên  
nhưng với việc xây dựng nhà cao tầng ngày càng nhiều và số tầng ngày càng  
lớn thì nhất thiết cần phải quan tâm tới công tác này, điều quan trọng nhất là  
phải đảm bảo đảm được độ thẳng đứng của nó. Trên thực tế để đảm bảo được  
độ thẳng đứng hoàn toàn của một tòa nhà là không thể mà bao giờ nó cũng bị  
nghiêng đi một lượng nhất định. Do đó đối với một tòa nhà cao tầng giá trị độ  
nghiêng cho phép là một giá trị cực kì quan trọng mà bất cứ một đơn vị nào  
tham gia xây dựng một tòa nhà cao tầng đều phải lưu ý và tuân thủ. Vì vậy  
nhất thiết coi việc chuyển trục chính công trình lên trên các sàn thi công là  
một bậc lưới độc lập và việc xây dựng lưới này cũng cần tuân thủ đầy đủ các  
bước cơ bản của xây dựng lưới khống chế. Cho nên trên mỗi sàn thi công cần  
xây dựng một hệ thống lưới trục. Các trục này được xây dựng trong một hệ  
tọa độ thống nhất. Khi chiếu tất cả các lưới trục trên tất cả các tầng thi công  
thi công xuống sàn tầng gốc thì đều trùng khít lên nhau và cùng trùng khít với  
lưới khống chế trên mặt bằng móng, thì có nghĩa là tòa nhà được xây dựng  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
4
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
thẳng đứng, còn sự không trùng khít của các lưới trục khi chiếu xuống sẽ đặc  
trưng cho độ nghiêng của công trình và độ nghiêng này phải tuân thủ theo các  
tiêu chuẩn của bộ xây dựng. Lưới được thành lập trên các tầng thi công gọi là  
lưới trục công trình.  
1.1.2. Thành lập lưới khống chế mặt bằng  
1.1.2.1. Những vấn đề chung về lưới khống chế mặt bằng  
Để xác định tọa độ của một hoặc nhiều điểm trên mặt bằng xây dựng công  
trình tối thiểu chúng ta phải có hai điểm đã biết trước tọa độ. Như vậy, các  
điểm đã biết trước tọa độ đóng vai trò vô cùng quan trọng vì dựa vào nó  
người ta mới bố trí được các trục của tòa nhà cao tầng ra thực địa vì vậy các  
điểm này được gọi là các điểm khống chế ra mặt bằng. Trong TCXVN 309  
:2004 “Công tác trắc địa trong xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp”  
có quy định rõ: Đối với công trình công nghiệp mật độ các điểm khống chế  
mặt bằng từ 2-3 ha/1 điểm nhưng không ít hơn 4 điểm. Như vậy đối với mỗi  
nhà cao tầng đều phải xây dựng một lưới khống chế mặt bằng số lượng điểm  
khống chế mặt bằng nhiều hay ít phụ thuộc vào diện tích xây dựng và tính  
phức tạp của công trình nhưng không được ít hơn 4 điểm.  
Thông thường, hình dạng của lưới khống chế mặt bằng phụ thuộc chủ yếu  
vào hình dạng của tòa nhà. Nếu tòa nhà có dạng hình vuông hoặc hình chữ  
nhật thì lưới khống chế cũng có dạng hình vuông hoặc hình chữ nhật nếu tòa  
nhà có dạng hình tròn thi lưới khống chế sẽ được thành lập dưới dạng một đa  
giác trung tâm. Nói chung lưới khống chế sẽ được thành lập dưới một dạng  
nào đó sao cho nó được sử dụng một cách thuận tiện nhất cho quá trình thi  
công xây dựng công trình.  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
5
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
Trước đây các mấy toàn đạc điện tử còn chưa được thông dụng như hiện  
nay thì người ta phải xây dựng lưới khống chế sao cho cạnh của nó song song  
(hoặc vuông góc) với trục chính của công trình, điều này làm cho việc bố trí  
các trục của công trình được thuận tiện và chính xác nhưng cũng gây nhiều  
phiền phức trong việc bố trí chọn điểm và nhất là vấn đề bảo vệ các mốc  
khống chế trong quá trình thi công xây dựng. Ngày nay, với sự xuất hiện của  
các máy toàn đạc điện tử trên các công trình xây dựng nhà cao tầng việc chọn  
các điểm sao cho các cạnh của lưới khống chế song song với trục chính của  
công trình không còn là yêu cầu bắt buộc vì vậy chúng ta luôn luôn có thể  
chọn các điểm khống chế ở các vị trí an toàn không bị phá hủy trong suốt quá  
trình xây dựng. Các điểm khống chế phải được đánh dấu bằng các mốc kiên  
cố. Cấu tạo của các mốc được thể hiện trên hình 1.2  
Hình 1-2. Mốc khống chế mặt bằng và độ cao  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
6
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
1.1.2.2. Quy trình thành lập lưới khống chế mặt bằng  
Quy trình thành lập lưới khống chế mặt bằng gồm các bước sau:  
Bước 1: Thiết kế sơ bộ  
Để làm được việc này trước hết cần phải có bản vẽ mặt bằng tồng thể của  
công trình cùng với tất cả các mốc cấp đất, ranh giới thửa đất do sở địa chính  
cung cấp, dựa vào các tài liệu trên sẽ vạch ra vài phương án thiết kế lưới cho  
phù hợp với quy mô và tính chất của công trình xây dựng  
Bước 2: Đánh giá các phương án thiết kế và chọn phương án có lợi nhất.  
Đây là một khâu cực kỳ quan trọng và cũng là khâu khó khăn nhất vì  
nó đòi hỏi phải thực hiện một khối lượng tính toán rất lớn. Việc đánh giá  
phương án thiết kế được thực hiện theo trình tự sau đây:  
- Dựa vào năng lực thiết bị của đơn vị để chọn máy móc và thiết bị đo  
góc và đo chiều dài  
- Dự kiến các đại lượng đo trực tiếp trong dưới (góc và cạnh đo)  
- Đánh giá độ chính xác của lưới theo các dữ liệu đã có  
Sau khi đánh giá, nếu thấy độ chính xác của lưới quá thấp so với yêu  
cầu của quy phạm (lưới không đáp ứng yêu câu kỹ thuật) thì phải tăng cường  
các đại lượng đo hoặc sử dụng các thiết bị có độ chính xác cao hơn cho đến  
khi đạt yêu cầu kỹ thuật. Ngược lại, nếu kết quả đánh giá cho độ chính xác  
của lưới quá cao thì có thể giảm bớt các đại lượng đo trong lưới để giảm bớt  
chi phí xây dựng lưới. Tóm lại, việc đánh giá các phương án thiết kế nhằm  
mục đích chọn ra một phương án tối ưu đáp ứng các yêu cầu kinh tế kỹ thuật  
Bước 3: Khảo sát hiện trường.  
Sau khi đã sơ bộ thiết kế lưới trên bản vẽ cần tiến hành khảo sát thực  
tế trên hiện trường để kịp thời phát hiện những vướng mắc để chỉnh sửa.  
Trong bước này cần lưu ý xem xét tính ổn định của các vị trí chọn mốc đã  
chọn trên bản vẽ, tầm nhìn thông giữa các điểm và điều kiện thực hiện việc đo  
đạc. Nếu phát hiện những vấn đề bất hợp lý cần phải chỉnh sửa lại cho phù  
hợp  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
7
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
Bước 4: Xây dựng các mốc ngoài hiện trường.  
Sau khi đã chọn được phương án xây dựng lưới thích hợp thì tiến hành xây  
dựng các mốc khống chế ngoài hiện trường. Việc xây dựng các mốc cần phải  
được giám sát một cách cách chặt chẽ sau khi xây dựng xong các mốc cần  
phải được rào lại và ghi số liệu điểm cùng với biển cảnh báo để mọi người có  
ý thức giữ gìn  
Bước 5: Đo đạc các yếu tố trong lưới.  
Các yếu tố khống chế trong lưới khống chế sẽ được đo bằng các thiết bị  
và các phương pháp đo nêu trong phương án đã được duyệt. Việc đo đạc phải  
do những người có chuyên môn thực hiện và phải tuân thủ các quy định ghi  
trong các tiêu chuẩn chuyên ngành.  
Bước 6: Xử lý số liệu đo đạc.  
Việc xử lý các số liệu đo đạc được thực hiện theo các bước sau đây:  
- Kiểm tra số liệu đo đạc hiện trường : Tất cả các số liệu đo đạc hiện  
trường phải được kiểm tả để để phát hiện các sai số thô. Việc kiểm tra  
phải do hai người thực hiện độc lập với nhau. Nếu phát hiện các sai lầm  
thì phải tìm hiêu nguyên nhân để sửa chữa, nếu có phép đo không đạt  
yêu cầu thì phải đo lại.  
- Xử lý toán học các số liệu đo: Sau khi kiểm tra các số liệu đo nếu  
không có sai số thô và tất cả các phép đo đều đạt các chỉ tiêu kỹ thuật thì tiến  
hành xử lý toán học các kết quả đo. Đây là bước cần phải thực hiện tính toán  
các yếu tố trong lưới, xác định tọa độ của các điểm, đánh giá độ chính xác  
thực tế của các điểm trong lưới.  
Bước 7: Lập hồ sơ báo cáo.  
Sau khi hoàn thành các công đoạn xây dựng lưới khống chế cần hoàn  
chỉnh hồ sơ, lập báo cáo kỹ thuật theo quy định.  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
8
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
1.1.3. Thành lập lưới khống chế độ cao  
1.1.3.1. Các loại độ cao sử dụng trong xây dựng nhà cao tầng  
1. Độ cao tuyệt đối  
Độ cao tuyệt đối là độ cao của các điểm so với mực nước biển trung  
bình được quy ước trong hệ độ cao quốc gia. Lưới độ cao quốc gia của Việt  
Nam được tính theo mức độ cao chuẩn Hòn Dấu – Đồ Sơn – Hải Phòng và  
được dùng thống nhất trong phạm vi toàn quốc.  
Độ cao từ mốc quốc gia lần lượt được dẫn lan tỏa ra khắp nước bằng các  
đường truyền thủy chuẩn hạng I, II, III và IV trong lưới độ cao quốc gia với  
mật độ các mốc độ cao đủ để thực hiện các công tác đo vẽ bản đồ, quy hoạch  
và xây dựng trong phạm vi toàn quốc.  
2. Độ cao tương đối  
Độ cao tương đối là độ cao của của các điểm so với một điểm chuẩn quy  
ước nào đó. Trong xây dựng công trình người ta hay quy ước lấy mặt sàn tầng  
1 có cao độ là 0.0 (gọi là cốt 0) và độ cao của các điểm được tính theo cốt 0.  
Cốt 0 được chọn để phù hợp với quy hoạch cấp thoát nước tổng thể của thành  
phố. Như vậy, trước khi triển khai xây dựng nhà cao tầng phải nghiên cứu kỹ  
hồ sơ thiết kế xem cốt 0 ứng với cao độ quốc gia là bao nhiêu và chuyển vào  
công trình.  
1.1.3.2.Thành lập lưới khống chế độ cao phục vụ xây dựng nhà cao tầng  
Tương tự như vai trò của lưới khống chế mặt bằng, lưới khống chế độ cao  
có nhiệm vụ đảm bảo cho việc xây dựng nhà cao tầng đúng cao độ thiết kế  
trong quy hoạch chung của đô thị. Thông thường với các nhà cao tầng trong  
thành phố lưới khống chế độ cao được xây dựng có độ chính xác tương đương  
với thủy chuẩn Nhà nước hạng IV là đủ. Người ta cũng không xây dựng các  
mốc độ cao riêng mà thường dẫn độ cao từ mốc độ cao quốc gia vào tất cả  
mốc của lưới khống chế mặt bằng. Ngoài ra, để tiện sử dụng người ta thường  
vạch các mốc độ cao 0.0 (cốt 0) trên các vật kiến trúc kiên cố. Việc dẫn độ  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
9
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
cao được thực hiện bằng các máy móc chuyên dụng và tuân theo các hạn sai  
của quy phạm hoặc tiêu chuẩn chuyên ngành.  
1.2 CÔNG TÁC TRẮC ĐỊA PHỤC VỤ XÂY DỰNG PHẦN MÓNG  
CÔNG TRÌNH  
1.2.1. Bố trí chi tiết hố móng  
1.2.1.1. Định vị hố móng  
Giai đoạn đầu của công tác bố trí chi tiết hố móng là định vị hố móng và  
hào móng của các tòa nhà và các móng để lắp đặt thiết bị.  
Khi bố trí chi tiết móng, người ta dựng một khung định vị không lớn lắm  
bao quanh hố móng, cách mép hố móng một khoảng cách an toàn nào đó, sau  
đó đưa các trục chính dọc và ngang của móng lên khung định vị bằng phương  
pháp đóng hướng (hình 1-3)  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
10  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
Từ các trục chính này, người ta dùng thước thép cuộn đặt các khoảng  
cách thiết kế đến các cạnh mép và đường viền của móng (mép hố móng,  
đường viền chân móng, các mép bậc móng…) với độ chính xác đến mm, đánh  
dấu chúng bằng các đinh nhỏ có ghi chú bên cạnh số liệu cùng trục.  
Sau khi nối liền các điểm cùng tên trên khung định vị bằng các dây thép  
nhỏ ta sẽ xác định được đường viền từng bộ phận của móng.  
Để đánh dấu ranh giới của hố móng trên thực địa, tại giao điểm của các  
sợi dây thép nối các dấu trục tương ứng trên khung định vị, dùng dây dọi  
chiếu điểm giao nhau đó xuống mặt đất và cố định bằng các cọc nhỏ.  
1.2.1.2. Truyền độ cao tới hố móng  
Khi hố móng đã được đào sơ bộ thì cần truyền độ cao từ mốc thủy chuẩn  
gần đó xuống đáy hố móng để đảm bảo đưa độ cao đáy móng đến đúng mức  
độ cao thiết kế. Nếu hố móng có mái nghiêng (vách thoải) thì việc truyền độ  
cao được tiến hành bằng thủy chuẩn hình học tuần tự qua 2 hoặc 3 bậc.  
Trường hợp mái dốc dựng đứng và khó đặt máy thủy chuẩn trên đó thì có thể  
truyền độ cao bằng cách dùng 2 máy thủy chuẩn và một thước thép cuộn thả  
treo xuống hố móng như hình 1-4.  
Trên mép hố móng đặt một giá đỡ và treo vào đó một thước thép cuộn,  
đầu thước có vạch “0” được thả xuống hố móng và được treo một quả nặng có  
trọng lượng bằng trọng lượng khi kiểm nghiệm thước. Máy thủy chuẩn thứ  
nhất đặt trên mặt đất ở khoảng giữa thước treo và mia (đặt tại mốc độ cao gần  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
11  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
nhất). Còn máy thủy chuẩn thứ hai đặt dưới đáy hố móng ở điểm giữa thước  
thép và điểm cần truyền độ cao tới.  
Đọc số trên 2 mia đặt tại mốc thủy chuẩn A trên mặt đất và đặt tại điểm  
M trong hố móng. Sao đó cả 2 người đo đều quay máy về phía thước treo và  
đồng thời đọc số trên thước đó.  
Độ cao điểm M ở hố sẽ là:  
HM = HA + a – d – b  
Trong đó  
( 1.1 )  
HA là độ cao của mốc thủy chuẩn A  
a và b là số đọc trên mia tương ứng đặt tại mốc A và điểm M  
d=n2 n1 là hiệu số đọc trên thước thép cuộn  
-
độ cao điểm M ở đáy hố móng sẽ là cơ sở để xác định độ cao các điểm chi tiết  
khác dưới hố mong và hoàn thiện việc đào hố móng đúng độ cao thiết kế.  
1.2.1.3. Đo chi tiết móng  
Việc đo vẽ hoàn công hố móng được tiến hành sau khi hố móng đã  
được hoàn thiện. Căn cứ vào các trục doc và ngang đã được chuyển vào hố  
móng, người ta đo khoảng cách đến mép hố móng và đo thủy chuẩn hoàn  
công đáy hố theo mạng lưới 5-10m. Các số liệu đo đạc nhận dùng để lập bản  
vẽ hoàn công hố móng. Sai lệch độ cao của các điểm chi tiết so với độ cao  
thiết kế không vượt quá 2-3cm. Độ sai lệch cho phép của các kích thước hố  
móng so với giá trị thiết kế là 5cm.  
1.2.2. Bố trí chi tiết khi xây móng  
1.2.2.1. Lắp đặt ván khuôn  
Sau khi kết thúc việc đào hố móng, rải bê tông hoặc đá dăm xong, tiến  
hành lắp đặt ván khuôn để chuẩn bị đổ bê tông. Ván khuôn được lắp đặt theo  
đúng vị trí, kích thước và hình dạng đã thiết kế của công trình. Các cốt sắt và  
các bộ phận ngầm trong móng được lắp đặt đay đủ bên trong ván khuôn trước  
khi đổ bê tông.  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
12  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
Để lắp đặt ván khuôn vào đúng vị trí mặt bằng thiết kế, người ta sử dụng  
các trục đã được đánh dấu trên khung định vị bao quanh móng. Vị trí các trục  
của móng được xác định bằng cách nối liền các điểm cùng tên đã được đánh  
dấu trên các cạnh đối diện của khung định vị bằng 1 sợi dây thép nhỏ. Dùng  
dây dọi chiếu các trục này xuống phía dưới để xác định vị trí của ván khuôn  
và các bộ phận khác được lắp đặt ở trong ván khuôn  
Độ cao thiết kế các bộ phận của ván khuôn được dẫn từ mốc độ cao gần  
nhất bằng thủy chuẩn hình học và được đánh dấu trên ván khuôn bằng một nét  
vạch mảnh có ghi rõ độ cao thiết kế. Sai số truyền độ cao so với mốc thủy  
chuẩn thi công không được vượt quá 3-5mm.  
1.2.2.2. Lắp đặt các kết cấu neo giữ trong móng  
Các kết cấu neo giữ được lắp đặt vào trong móng trước khi đổ bê tông,  
điển hình là các bulông nền mà sau này sẽ được dùng để gắn kết chặc chẽ các  
kết cấu xây dựng và các thiết bị kỹ thuật được đặt trên móng. Việc đặt các  
bulông nền loại này đòi hỏi phải được tiến hành thật cẩn thận và chính xác với  
sai số trung phương lệch tâm của các chốt bulong so với vị trí thiết kế không  
được vượt quá 2mm. Sai số bố trí trục của các dãy bulông nền so với trục  
chính của công trình không được vượt quá 4mm.  
Để đảm bảo độ chính xác theo yêu cầu trên cần có phương pháp bố trí  
và lắp đặt riêng. Cơ sở mặt bằng để bố trí hệ thống các bulông nền (hoặc các  
thiết bị neo giữ khác) là các trục chính của móng mà các trục này đã được  
chuyển lên phía mặt trên của ván khuôn và đánh dấu ở đó. Việc đặt độ cao  
đầu các bulông được tiến hành theo 2 bước: Đầu tiên đặt gần đúng về độ cao  
bằng cách đặt những khoảng cách tương ứng đo từ mặt phẳng phía trên của  
khuôn dẫn, sau đó đặt chính xác vào độ cao thiết kế bằng máy thủy chuẩn.  
Khi đó mỗi đầu bulông nền sẽ được nâng lên hoặc hạ xuống từ từ cùng với  
mia đặt trên nó cho đến khi số đọc trên mia trùng với số đọc đã được tính toán  
trước với sai số không lớn hơn 2mm.  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
13  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
Sau khi điều chỉnh xong vị trí mặt bằng và độ cao, các chốt bu lông sẽ  
được gắn chặt vào khuôn dẫn, phần đuôi của chốt bu lông được hàn vào  
khung giá đỡ hay cốt sắt để khi đổ bê tông thì vị trí của chúng không bị xê  
dịch.  
1.2.2.3. Kiểm tra việc lắp đặt các bộ phận trong móng  
Việc lắp đặt các kết cấu neo giữ và các bộ phận khác trong móng là một  
việc rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của công tác lắp ráp. Do  
vậy trước khi đổ bê tông móng cần phải phải kiểm tra về mặt bằng và độ cao  
vị trí được lắp đặt của các bộ phận này. Trong quá trình đổ bê tông móng cần  
chú ý đặt vào móng một số mốc trắc địa mặt bằng và độ cao cần cho công tác  
quan trắc biến dạng công trình.  
1.2.2.4. Đo vẽ hoàn công móng sau khi đổ bê tông  
Trong quá trình đổ bê tông dưới tác động của đầm rung, các bộ phận  
được đặt trong móng cũng như các ván khuôn có thể bị xê dịch đi 1chút.  
Ngoài ra do sự co ngót của bê tông cũng làm cho bề mặt bê tông bị giảm độ  
cao. Vì vậy để biết rõ vị trí thực tế của các bộ phận được đặt cũng như xác  
định các kích thước và độ cao các phần của móng, sau khi tháo dỡ các ván  
khuôn cần phải đo vẽ hoàn công móng.  
Độ chính xác đo vẽ hoàn công móng được quy định như sau: Khoảng  
cách đo từ trục đến các bộ phận được đặt trong móng và độ cao của chúng  
được xác định với độ chính xác 1mm, kích thước của các phần bê tông được  
đo đến 1cm.  
Kết quả đo vẽ hoàn công là bản vẽ hoàn công móng và bảng kê các số  
liệu đo vẽ hoàn công các bộ phận neo giữ. Tài liệu hoàn công này sẽ là cơ sở  
cho việc nghiệm thu móng.  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
14  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
1.3. CÔNG TÁC TRẮC ĐỊA PHỤC VỤ XÂY DỰNG PHẦN THÂN  
CÔNG TRÌNH  
1.3.1. Chuyển các trục bố trí vào bên trong công trình  
Hệ thống các trục bố trí đã được đánh dấu trên khung định vị và được  
cố định bằng các mốc chôn ở bên ngoài công trình sẽ dần bị mất tác dụng do  
bức tường được xây cao dần. Để tiếp tục các công tác bố trí về sau cần phải  
chuyển các trục bố trí từ ngoài vào bên trong công trình.  
Việc chuyển các trục bố trí này cần phải được tiến hành ngay từ lúc còn  
có thể ngắm thông suốt giữa các điểm đối diện của trục, nghĩa là lúc chiều cao  
của các bức tường bao được xây chưa quá 1m.  
Việc chuyển trục tiến hành theo cách đóng hướng các điểm cùng tên  
trên các cạnh đối diện của khung định vị ở phía ngoài và đánh dấu lại trên  
mốc trắc địa ở phía trong tòa nhà.  
1.3.2. Định vị các cột, các kết cấu và các chi tiết khác  
Hiện nay trong xây dựng công nghiệp, kỹ thuật lắp ráp đang được áp  
dụng rộng rãi. Do vậy công tác trắc địa trong xây dựng, ngoài nhiệm vụ bố trí  
công trình còn phải phục vụ việc lắp ráp các kết cấu công trình vào đúng vị trí  
thiết kế.  
Trước khi dựng cột cần phải kiểm tra móng cột. Dùng máy kinh vĩ  
kiểm tra các dấu trục ở mép trong móng, có thể dùng thước đo khoảng cách  
giữa các trục móng hoặc dùng dây chằng giữa các điểm dóng hai đầu trục  
tương ứng trên khung định vị. Dùng máy thủy chuẩn kiểm tra độ cao đáy  
móng.  
Sau khi đã kiểm tra móng cột ta tiến hành dựng cột. Muốn đảm bảo cho  
cột thẳng đứng phải dùng hai máy kinh vĩ đặt ở hai hướng vuông góc với  
nhau để kiểm tra ở hai mặt cột. Khi kiểm tra độ thẳng đứng của dãy cột ở một  
phía nào đó, người ta đặt máy kinh vĩ cách dãy cột một đoạn, đọc số trên mia  
ngang gắn vào cột sẽ phát hiện cột bị nghiêng. Dùng máy thủy chuẩn để kiểm  
tra độ cao cột theo phương pháp bố trí độ cao.  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
15  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
1.3.3. Truyền tọa độ từ mặt bằng cơ sở lên các tầng  
Truyền tọa độ và độ cao là công việc phải thực hiện thường xuyên trong  
quá trình xây dựng phần thân nhà cao tầng. Để đảm bảo độ thẳng đứng của  
tòa nhà trên suốt chiều cao, các trục công trình tại tất cả các tầng xây dựng  
đều phải được định vị sao cho cùng nằm trong một mặt phẳng thẳng đứng đi  
qua các trục tương ứng trên mặt bằng gốc. Tức là các điểm tọa độ của lưới bố  
trí cơ sở đã lập trên mặt bằng gốc sẽ được chuyển lên mặt sàn thi công xây  
dựng của các tầng theo một đường thẳng đứng. Để đảm bảo điều kiện này cần  
thiết phải truyền tọa độ từ mặt bằng cơ sở lên tất cả các tầng còn lại của tòa  
nhà. Quá trình truyền tọa độ từ mặt bằng cơ sở lên các mặt bằng xây dựng là  
một dạng công việc rất quan trọng khi xây dựng công trình có chiều cao lớn.  
Công việc này sẽ được thực hiện bằng nhiều phương án và có thể lựa chọn  
bằng một trong các phương án sau:  
1.3.3.1. Truyền tọa độ bằng máy kinh vĩ  
Thực chất của việc truyền tọa độ từ mặt bằng cơ sở trên các tầng bằng  
máy kinh vĩ là phương pháp sử dụng mặt phẳng đứng của máy kinh vĩ. Đây là  
phương pháp chiếu điểm bằng tia ngắm nghiêng, có thể thực hiện ở những nơi  
điều kiện xây dựng rộng rãi, công trình xây dựng có số tầng ít hơn 4. Hoàn  
toàn không phù hợp cho những nhà có số tầng cao hơn và những nhà xây  
chen mặt bằng xung quanh chật hẹp.  
1.3.3.2. Truyền tọa độ bằng máy chiếu đứng  
Đối với các công trình nhà cao tầng xây dựng trên mặt bằng tương đối  
rộng rãi, chiều cao công trình không vượt quá 10 tầng, có thể sử dụng máy  
toàn đạc điện tử để chuyển vị trí các điểm lưới cơ sở lên mặt sàn. Thực chất là  
chuyển tọa độ từ điểm đã đánh dấu ở mặt bằng gốc lên sàn thi công. Các máy  
điện tử được sử dụng để chuyển điểm lên cao phải có sai số đo cạnh  
<5mm, sai số đo góc < 5”.  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
16  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
1.3.3.3. Truyền tọa độ bằng máy chiếu đứng  
Do điều kiện các nhà cao tầng được xây dựng trong các thành phố chủ  
yếu là xây chen, điều kiện thi công chật hẹp. Mặt khác do quỹ đất có hạn vì  
vậy nhà cao tầng ngày càng phải xây cao hơn, nhiều tầng hơn, phục vụ nhiều  
mục đích sử dụng hơn. Do đó các phương pháp trắc địa phục vụ thi công nhà  
cao tầng cụ thể là đưa các điểm lưới lên các tầng đòi hỏi độ chính xác cao  
hơn. Phương pháp chiếu trục bằng tia ngắm nghiêng của máy kinh vĩ, chuyển  
tọa độ lên cao theo phương pháp đo tọa độ của máy toàn đạc điện tử đều gặp  
khó khăn không thể áp dụng được. Giải pháp thông dụng và chắc chắn nhất là  
sử dụng các máy chiếu đứng để chuyển tọa độ lên cao theo phương pháp  
thẳng đứng. Hiện nay có hai loại máy chiếu đứng đang được sử dụng trong  
các công tác trắc địa công trình: Đó là loại máy tạo ra đường thẳng đứng bằng  
tia laze và tia ngắm quang học. Trong 2 loại máy này thì loại máy chiếu đứng  
bằng quang học có độ chính xác cao hơn và thường được áp dụng vào công  
việc chiếu chuyển các tâm tọa độ lên các tầng có độ cao lớn với độ chính xác  
cao.  
1.3.3.4. Truyền độ cao bằng công nghệ GPS  
Hiện nay công nghệ GPS đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh  
vực Trắc địa với các máy móc và phương tiện xử lý vô cùng hiện đại và  
thường xuyên được cập nhật các công nghệ và thiết bị mới. Công nghệ GPS  
cho phép đo không cần thông hướng giữa các điểm với nhau, thuận tiện cho  
việc đo đạc, phục vụ thi công nhà cao tầng và có độ chính xác cao thỏa mãn  
yêu cầu thi công xây dựng nhà cao tầng và có độ chính xác cao thảo mãn yêu  
cầu thi công xây dựng nhà cao tầng.  
1.3.4. Truyền độ cao từ mặt bằng cơ sở lên các tầng  
Để truyền độ cao lên các tầng thi công người ta có thể dùng 2 cách:  
Dùng máy thủy chuẩn và mia theo đường cầu thang hoặc có thể truyền độ cao  
lên tầng bằng hình học kết hợp với thước thép treo thẳng đứng. Trong xây  
dựng nhà cao tầng hiện nay, biện pháp thông dụng nhất và chắc chắn nhất là  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
17  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
thủy chuẩn hình học kết hợp với thước thép treo thẳng đứng. Sơ đồ truyền độ  
cao lên tầng được thể hiện trên hình 1-5.  
Hình 1-5. Truyền độ cao lên mặt sàn xây  
Theo sơ đồ này cần sử dụng hai máy thủy chuẩn đặt tại mặt bằng gốc  
(hoặc mức sàn nào đó) và đặt tại sàn tầng thứ i cần phải chuyển độ cao lên.  
Thước phép được treo thẳng đứng và kéo căng, đồng thời để hạn chế sự rung  
động của thước thép do tác động của gió, có thể chọn vị trí khuất gió phía  
trong của công trình để thả thước thép treo. Máy thủy chuẩn tại mặt sàn gốc  
đọc số trên mia dựng tại điểm mốc độ cao R là a  
1
và trên thước thép treo là b  
và trên mia dựng tại  
. Vậy độ cao Hm của tầng thứ i  
1
.
Máy thủy chuẩn còn lại đọc số trên thước mép treo là b  
2
điểm cần chuyển độ cao M trên tầng thứ i là a  
2
sẽ được xác định theo công thức:  
HM  
= H  
R
+ a  
1
+ (b  
1
– b  
2
) – a  
2
Tương tự như trên cần chuyển thêm một điểm độ cao nữa trên tầng thi  
công thứ i để tạo điều kiện kiểm tra và nâng cao độ chính xác cũng như thuận  
lợi cho việc chuyển độ cao lên tầng tiếp theo. Trong quá trình đo cần đặt máy  
thủy chuẩn ở giữa mia và thước thép để loại trừ sai số do trục ngắm không  
song song với trục của ống thủy dài.  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
18  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
1.4. CÔNG TÁC TRẮC ĐỊA PHỤC VỤ QUAN TRẮC CHUYỂN DỊCH  
CÔNG TRÌNH  
1.4.1. Công tác quan trắc chuyển dịch trong giai đoạn thi công  
1.4.1.1. Quan trắc hiện tượng trồi lún của hố móng  
Khi xây dựng phần móng của các nhà cao tầng người ta phải lấy một  
khối lượng rất lớn đất đá ở dưới hố móng đi. Khi đó do không còn áp lực bề  
mặt nên nền hố móng sẽ bị trồi lên. Trong giai đoạn xây dựng phần móng khi  
tải trọng của tòa nhà dần dần tăng lên thì sự trồi của nền hố móng cũng dần  
dần giảm đi. Để phân tích quá trình lún của các tòa nhà cao tầng cần thiết phải  
theo dõi đánh giá hiện tượng trồi lên của nền móng từ khi mở móng cho tới  
khi nó bị dập tắt hoàn toàn.  
Sau khi lấy hoàn toàn đất đá ở dưới móng đi người ta bắt đầu thi công  
phần móng và các tầng ngầm. Trong giai đoạn này, do tải trọng của công trình  
tăng dần nên mặt hố móng lại dần lún xuống, vì vậy phải thường xuyên kiểm  
tra độ cao của mốc quan trắc. Hiện tượng trồi lún của mặt hố móng được coi  
là tắt hoàn toàn khi độ cao của mốc quan trắc trở lại giá trị ban đầu và chỉ sau  
giai đoạn này mới bắt đầu gắn mốc và quan trắc độ lún công trình.  
1.4.1.2. Quan trắc chuyển dịch ngang của bờ cừ  
Khi xây dựng các nhà cao tầng hoặc các công trình khác nhất là trong  
các thành phố lớn, để bảo vệ các công trình xung quanh người ta thường xây  
dựng các bờ cừ bao quanh công trình đang xây dựng.  
Khi chưa lấy đất đá từ hố móng đi áp lực đất đá lên cọc cừ theo mọi  
phương là cân bằng. Sau khi lấy đất đá đi sự cân bằng sẽ bị phá với làm cho  
các cọc có xu hướng bị di chuyển và nghiêng về phía trong hố móng.Giá trị  
của độ dịch chuyển này có thể đạt tới 10cm hoặc lớn hơn. Vì vậy trong quá  
trình đào hố móng, bộ phận trắc địa phải tiến hành quan trắc dịch chuyển  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
19  
§å ¸n tèt nghiÖp  
Tr-êng ®¹i häc Má - §Þa ChÊt  
ngang của bờ cừ để kịp thời có các biện pháp xử lý đảm bảo an toàn cho công  
trình đang xây dựng cũng như công trình lân cận.  
1.4.1.3.Quan trắc độ nghiêng của nhà cao tầng trong giai đoạn thi công  
Quan trắc độ nghiêng trong giai đoạn thi công gồm 2 giai đoạn:  
- Quan trắc vị trí thực tế của các trục chi tiết và các kết cấu độ nghiêng  
của công trình.  
- Quan trắc độ nghiêng thực tế của hệ khung.  
1. Quan trắc vị trí thực tế của các trục chi tiết và các kết cấu độ nghiêng của  
công trình  
Trong giai đoạn thi công, độ nghiêng của công trình xuất hiện do các  
sai số của người thi công nên vì vậy việc quan trắc độ nghiêng thực tế là xác  
định vị trí của các trục và các kết cấu so với vị trí của chúng ở mặt bằng cơ  
sở. Việc quan trắc được thực hiện các thiết bị đo thông thường như thước thép  
đã kiểm định, máy toàn đạc điện tử.  
2. Quan trắc độ nghiêng thực tế của hệ khung  
Sau khi kiểm tra vị trí các trục và các cấu kiện tiến hành quan trắc độ  
nghiêng thực tế của hệ khung của tòa nhà. Việc này tốt nhất nên sử dụng các  
máy toàn đạc điện tử có chế độ đo trực tiếp không cần gương. Vị trí đo  
thường là các góc nhà và các điểm đặc trưng của tòa nhà  
1.4.1.4 Quan trắc độ lún của tòa nhà cao tầng trong giai đoạn thi công  
1. Xây dựng hệ thống mốc chuẩn và mốc đo lún  
Sau khi thi công xong phần móng cần phải xây dựng các mốc chuẩn và  
gắn các mốc đo lún vào vị trí chịu lực của công trình theo đúng thiết kế.  
Mốc chuẩn là hệ thống các mốc cố định, có độ cao không thay đổi theo  
thời gian. Thông thường các mốc chuẩn được đặt vào lớp đất ổn định bằng  
cách khoan sâu vào lòng đất đến tầng đá gốc và cách chân móng của tòa nhà  
một khoảng > 1.5 lần chiều cao tòa nhà. Xây dựng mốc chuẩn thành từng cụm  
mỗi cụm 3 mốc, số lượng cụm mốc tùy theo diện tích của tòa nhà mà xây  
dựng một cách hợp lý.  
SV: Hoµng NghÜa Tµi  
Líp: Tr¾c §Þa A – K51  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 67 trang yennguyen 15320 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Chuyển trục công trình lên cao bằng công nghệ GPS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docdo_an_chuyen_truc_cong_trinh_len_cao_bang_cong_nghe_gps.doc