Đề tài Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm về môi trường không khí đô thị, nước mặt và nước ven biển ở Việt Nam

ĐỀ TÀI KHOA HỌC  
SỐ: 2.2.2-CS07  
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO SỚM  
VỀ MÔI TRƢỜNG KHÔNG KHÍ ĐÔ THỊ, NƢỚC MẶT VÀ NƢỚC  
VEN BIỂN Ở VIỆT NAM  
1. Cấp đề tài  
: Cơ sở  
2. Thời gian nghiên cứu : 2007  
3. Đơn vị chủ trì  
4. Đơn vị quản lý  
5. Chủ nhiệm đề tài  
: Vụ Thống kê Xã hội và Môi trƣờng  
: Viện Khoa học Thống kê  
: CN. Vũ Thị Thu Thủy  
6. Những ngƣời phối hợp nghiên cứu:  
Nguyễn Văn Thụy  
Nguyễn Quang Phƣơng  
Hồ Thị Kim Nhung  
Nguyễn Quốc Hƣng  
Nguyễn Thanh Tú  
7. Điểm đánh giá nghiệm thu đề tài: 7,8  
397  
I. Lời mở đầu  
Trong bối cảnh hiện nay Việt Nam đang thực hiện hội nhập sâu rộng  
vào nền kinh tế thế giới thông qua việc thực hiện các chính sách thƣơng mại  
mở cửa, tham gia các tổ chức thƣơng mại trên thế giới và trong khu vực với  
mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo toàn diện đồng thời  
đảm bảo phát triển bền vững. Cùng với quá trình này Việt Nam hiện đang  
phải đối mặt với nhiều vấn đề có liên quan đến môi trƣờng nhƣ: ô nhiễm  
nƣớc, đặc biệt là nƣớc tại các con sông trong các thành phố chính, ô nhiễm  
môi trƣờng không khí và gia tăng tiếng ồn, thiên tai diễn ra ngày càng phức  
tạp với chu kỳ ngắn; tốc độ đô thị hoá nhanh kéo theo khối lƣợng rác, nƣớc  
thải công nghiệp và sinh hoạt phát sinh tăng nhƣng tỷ lệ thu gom và xử lý còn  
thấp; khí thải phát ra từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, từ phƣơng tiện giao  
thông,... tăng làm cho môi trƣờng đang bị suy thoái, gây ảnh hƣởng tiêu cực  
đến sản xuất và đời sống hàng ngày của nhân dân.  
Trong khi hệ thống chỉ tiêu thống kê môi trƣờng nói chung cung cấp các  
thông tin đầy đủ và toàn diện cho việc đánh giá thực trạng môi trƣờng thì hệ  
thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng ngoài việc đánh giá hiện trạng môi  
trƣờng trong phạm vi hẹp, còn cung cấp các thông tin nhanh và bao quát về  
tình hình suy giảm môi trƣờng giúp cảnh báo các nhà hoạch định chính sách,  
các nhà quản lý về tình hình xuống cấp của môi trƣờng trong việc quản lý  
bảo vệ môi trƣờng và lập các chính sách liên quan có hiệu quả. Bên cạnh đó,  
hệ chống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng còn giúp đông đảo quần chúng  
nhân dân biết đƣợc mức độ giảm sút chất lƣợng môi trƣờng mà họ đang sinh  
sống, điều này giúp họ nhận thức và thực hiện tốt hơn các luật và những qui  
định về bảo vệ môi trƣờng.  
Với những lý do nhƣ vậy, đề tài khoa học này đƣa ra đề xuất về xây  
dựng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng không khí đô thị, nƣớc mặt  
và nƣớc ven biển nhằm cung cấp một công cụ hữu ích cho việc thu thập các  
số liệu môi trƣờng sử dụng cho phân tích cảnh báo sớm môi trƣờng.  
Đề tài này đƣợc thực hiện bởi một nhóm 6 chuyên viên của Vụ Thống  
kê Xã hôi và Môi trƣờng với sự góp ý kỹ thuật của các chuyên gia của Tổng  
cục Thống kê, Cục bảo vệ Môi trƣờng, Bộ Tài nguyên Môi trƣờng trong  
khoảng thời gian từ tháng 3/2007 đến tháng 10 năm 2008. Đề tài đã đề xuất  
một bộ gồm 24 chỉ tiêu cảnh báo sớm môi tƣờng không khí (8 chỉ tiêu), môi  
trƣờng nƣớc mặt (8 chỉ tiêu), môi trƣờng nƣớc ven biển (4 chỉ tiêu) và các chỉ  
tiêu về chất thải rắn bổ trợ cho 3 nhóm chỉ tiêu kể trên (4 chỉ tiêu).  
398  
II. Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu cảnh  
báo sớm môi trƣờng  
2.1. Cơ sở khoa học  
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản về hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trường  
Có nhiều dạng cảnh báo sớm môi trƣờng nhƣ cảnh báo tức thì, cảnh báo  
sớm, cảnh báo xa, cảnh báo gần.... Phổ biến nhất hiện nay là cảnh báo tức thì  
hay cảnh báo ngay lập tức về các sự cố môi trƣờng nhƣ cảnh báo bão, lốc, lốc  
xoáy hoặc cảnh báo về sự biến động của thời tiết nhƣ hiện tƣợng nóng dần  
lên của trái đất hoặc mực nƣớc biển dâng cao, cũng có thể đó là những cảnh  
báo về các sự kiện liên quan đến địa chất nhƣ động đất, sóng thần, thuỷ  
triều....  
Ngoài dạng cảnh báo tức thì nhƣ đƣợc nêu trên còn có một dạng cảnh  
báo khác là cảnh báo sớm môi trƣờng. Cảnh báo sớm môi trƣờng là việc cung  
cấp các thông tin về hiện trạng môi trƣờng nói chung và các thông tin về suy  
giảm môi trƣờng nói riêng do các tác động của các hoạt động kinh tế xã hội  
của con ngƣời gây ra nhằm mục đích tác động xây dựng chính sách và thực  
hiện chính sách bảo vệ môi trƣờng và ngăn chạn/hạn chế sự suy giảm đó  
trong tƣơng lai.  
Khác với cảnh báo tức thì về các sự cố môi trƣờng, cảnh báo sớm môi  
trƣờng thƣờng đƣợc thực hiện với hầu hết các loại hình suy giảm môi trƣờng  
do các hoạt động kinh tế, xã hội của con ngƣời gây ra mà sự suy giảm này có  
thể ngăn chặn/hạn chế đƣợc thông qua thực hiện các chính sách tích cực về  
bảo vệ môi trƣờng. Trong khi đó cảnh báo tức thì nhằm cung cấp các thông  
tin về các sự cố môi trƣờng có thể xảy ra trong tƣơng lai rất gần, các sự cố  
này khó ngăn chặn/hạn chế mà thƣờng là hạn chế các tác động tiêu cực khi  
các sự cố đó diễn ra.  
Cũng giống nhƣ các loại cảnh báo khác, để thực hiện cảnh báo sớm môi  
trƣờng cần phải có một hệ thống thông tin hay hệ thống chỉ tiêu cảnh báo  
sớm môi trƣờng. Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng nghiên cứu  
trong đề tài này không phải là những cảnh báo mang tính tức thời về những  
sự cố môi tƣờng mà là một tập hợp các chỉ số dùng để đo luờng, đánh giá  
thực trạng môi trƣờng và từ đó cảnh báo về suy giảm chất lƣợng môi trƣờng  
nếu thực trạng môi trƣờng đó vƣợt quá những tiêu chuẩn chất lƣợng cho  
phép. Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng cũng sẽ đánh giá tính  
nghiêm trọng của tác động suy giảm môi trƣờng đối với đời sống con ngƣời  
và hệ sinh thái nói chung nếu sự suy giảm đó vẫn diễn ra trong một thời gian  
dài.  
399  
2.1.2. Mục tiêu của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trường  
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng nhằm giúp các  
nhà lập chính sách bảo vệ môi trƣờng có các thông tin về thực trạng môi  
trƣờng và suy giảm chất lƣợng môi trƣờng phục vụ lập chính sách. Việc cung  
cấp các thông tin về thực trạng môi trƣờng và thực trạng suy giảm môi trƣờng  
sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có thông tin làm cơ sở lập chính sách  
dựa trên các bằng chứng, cảnh báo về các mức độ nguy hại khác nhau làm  
căn cứ xây dựng các chính sách ngăn chặn/hạn chế các mức độ suy giảm môi  
trƣờng tƣơng ứng một cách phù hợp và hiệu quả. Cũng giống nhƣ thiết lập  
các chính sách kinh tế, xã hội, cung cấp thông tin cảnh báo suy giảm môi  
trƣờng là một trong các hoạt động quan trọng góp phần xây dựng một chính  
sách khả thi và có hiệu quả tốt.  
Mục tiêu quan trọng thứ hai của việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu cảnh  
báo sớm môi trƣờng và thu thập các thông tin đáp ứng hệ thống là nhằm giúp  
các nhà quản lý về môi trƣờng cũng nhƣ đông đảo quần chúng nhân dân  
trong quản lý, thực thi các chính sách về bảo vệ môi trƣờng. Nắm bắt tốt, đầy  
đủ các thông tin về hiện trạng môi trƣờng mới giúp các nhà quản lý thực hiện  
tốt công việc của họ.  
Ngoài ra, hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng còn cung cấp  
thông tin nâng cao nhận thức cộng đồng về tình trạng suy giảm môi trƣờng và  
các cảnh báo suy giảm môi trƣờng tác động đến đời sống kinh tế, xã hội đối  
với các tầng lớp nhân dân, giúp họ có nhận thức tốt hơn về hiện trạng môi  
trƣờng sống, từ đó tác động đến thay đổi hành vi thân thiện với môi trƣờng và  
thực hiện tốt các chính sách bảo vệ môi trƣờng của nhà nƣớc.  
Một trong những mục tiêu của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi  
trƣờng là thực hiện giám sát thực hiện các chính sách bảo vệ môi trƣờng.  
Mặc dù có thể là chƣa đủ đối với một hệ thống giám sát và đánh giá quá trình  
thực thi các chính sách về bảo vệ môi trƣờng, nhƣng hệ thống chỉ tiêu cảnh  
báo sớm môi trƣờng cũng có thể sử dụng để đánh giá sơ bộ về quá trình thực  
hiện và các kết quả thực hiện các chính sách bảo vệ môi trƣờng thông qua  
chuỗi số liệu theo thời gian. Các chỉ số đo lƣờng mức độ suy giảm môi  
trƣờng giảm dần (giảm về dần trị số giá trị tiêu chuẩn chất lƣợng cho phép)  
cũng có thể đƣợc đánh giá một phần là do tác động chính sách.  
Để đáp ứng đƣợc những mục tiêu nhƣ vậy thì việc xây dựng hệ thống  
chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng mang tính khoa học và khả thi là rất quan  
trọng và cần thiết.  
400  
2.1.3. Yêu cầu của một hệ thống cảnh báo sớm môi trường  
Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng cần đƣợc xây dựng trên cơ  
sở khoa học, có đầy đủ khái niệm/định nghĩa rõ ràng đối với từng chỉ tiêu dựa  
trên các phƣơng pháp thu thập, tính toán rõ ràng, có căn cứ khoa học, đảm  
bảo tính so sánh về mặt không gian và thời gian.  
Có rất nhiều chỉ tiêu có thể sử dụng để cảnh báo sớm môi trƣờng, tuy  
nhiên khi xây dựng các chỉ tiêu trong hệ thống cần xem xét tính khả thi trong  
việc thu thập các chỉ tiêu đó. Tính khả thi đƣợc thể hiện ở khả năng thu thập  
chỉ tiêu đó, khả năng thu thập chỉ tiêu đó theo tần suất quy định phục vụ cảnh  
báo (tháng hoặc năm), khả thi trong việc phân công các cơ quan quản lý nhà  
nƣớc trong việc thu thập số liệu...  
Các thông tin trong hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng cần đƣợc  
định lƣợng cụ thể, thông tin phản ánh mang tính đại diện cao. Việc đƣa ra các  
phƣơng pháp tính toán, đo lƣờng cụ thể đối với từng chỉ tiêu sẽ giúp lƣợng  
hoá các thông tin có thể thu thập đƣợc cho hệ thống chỉ tiêu này. Danh sách  
các chỉ tiêu phải mang tính đại diện cao cho nhóm môi trƣờng đó nhằm đảm  
bảo thời gian thu thập số liệu (tần suất công bố), chất lƣợng số liệu đƣợc thu  
thập và đảm bảo tính liên tục trong việc thu thập và công bố số liệu (chuỗi số  
liệu theo thời gian).  
Ngoài ra, một hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm cần đƣợc thực hiện có hệ  
thống, đảm bảo tính thƣờng xuyên trong việc thu thập và cung cấp số liệu.  
Thông tin đƣợc cập nhật thƣờng xuyên, định kỳ theo chuỗi thời gian là nguồn  
đáng tin cậy cho cảnh báo sớm giúp lập các chính sách và đánh giá thực hiện  
các chính sách về bảo vệ môi trƣờng. Để đảm bảo có đƣợc các thông tin cập  
nhật thƣờng xuyên nhƣ vậy thì một hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi  
trƣờng cần đƣợc thực hiện trong một hệ thống tổ chức nhất định hoặc có sự  
hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc phân công thu thập số liệu và  
chia sẻ số liệu về cảnh báo sớm môi trƣờng.  
2.1.4. Nội dung của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trường  
Trong hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng, mỗi chỉ tiêu trong hệ  
thống bao gồm tên gọi chỉ tiêu, các khái niệm, định nghĩa và phƣơng pháp  
tính của từng chỉ tiêu, các nguồn số liệu có thể thu thập đƣợc thông tin, tần  
suất công bố thông tin và các tiêu chuẩn chất lƣợng môi trƣờng qui định đối  
với từng chỉ tiêu đó (nếu có).  
Với mỗi chỉ tiêu cũng sẽ nêu rõ phân tổ chi tiết của chỉ tiêu đó, ví dụ  
phân tổ theo các trạm quan trắc hay phân tổ theo các tỉnh/thành phố, khu vực  
thành thị hay nông thôn...  
401  
Số liệu của mỗi chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi  
trƣờng đƣợc lấy từ đâu (nguồn nào), của Bộ/ngành liên quan hay của Tổng  
cục Thống kê, từ hệ thống báo cáo định kỳ hay từ điều tra... cũng sẽ đƣợc nêu  
rõ trong phần Nguồn số liệu  
Tần suất công bố số liệu cũng là một trong các nội dung đƣợc nêu ra đối  
với mỗi chỉ tiêu. Do tính đặc thù của số liệu cảnh báo sớm môi trƣờng, chu  
kỳ thu thập số liệu càng ngắn càng tốt, tuy nhiên để đảm bảo tính khả thi  
trong điều kiện hiện nay một số chỉ tiêu có thể thu thập theo tháng, nhƣng  
một số chỉ tiêu chỉ đƣợc thu thập theo năm. Cụ thể về chu kỳ thu thập số liệu  
của từng chỉ tiêu sẽ đƣợc nêu ra.  
Bên cạnh đó, nguồn tra cứu rất quan trọng đối với việc cảnh báo sớm  
môi trƣờng đó là các tiêu chuẩn môi trƣờng cho phép đối với từng chỉ tiêu  
cũng sẽ đƣợc nêu ra. Đối với hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng sẽ  
sử dụng tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN).  
2.1.5. Nguyên tắc xây dựng Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trường  
theo ba nhóm chỉ tiêu môi trường không khí ở thành thị, nước mặt và  
nước ven biển  
Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng là một trong những Hệ  
thống chỉ tiêu thống kê sử dụng cho việc cung cấp thông tin nhanh, mang tính  
toàn diện về hiện trạng môi trƣờng (của từng lĩnh vực môi trƣờng đề cập)  
đồng thời có tính cảnh báo sớm về mức độ suy giảm môi trƣờng phục vụ cho  
quản lý và hoạch định các chính sách liên quan đến môi trƣờng. Do vậy Hệ  
thống chỉ tiêu cảnh báo môi trƣờng cũng phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu  
của một Hệ thống chỉ tiêu thống kê nói chung. Các yêu cầu đó là:  
- Hƣớng tới ngƣời sử dụng số liệu: Khi xây dựng một hệ thống chỉ tiêu  
cần phải nghĩ tới tính hữu dụng của nó, phải quan tâm tới việc ai sẽ sử dụng  
các số liệu thống kê đó và họ sẽ sử dụng nhƣ thế nào;  
- Có khả năng thu thập số liệu có độ chính xác và tin cậy cao;  
- Đảm bảo thu thập số liệu dễ dàng, rẻ;  
- Dễ hiểu: Khi xem số liệu ngƣời đọc phải hiểu đƣợc số liệu này nói đến  
vấn đề gì. Điều này liên quan nhiều tới việc đặt tên cho chỉ tiêu;  
- Thích hợp phục vụ cho việc lập chính sách: Thông qua các số liệu thu  
thập đƣợc tình hình kinh tế, xã hội đƣợc phản ánh rõ ràng, kịp thời từ đó giúp  
cho các nhà hoạch định chính sách định hƣớng đƣợc tình hình, đƣa ra các giải  
pháp, số liệu thu thập đƣợc phát huy hết tác dụng của nó;  
- Có thể phân cấp giữa trung ƣơng và các cấp ở địa phƣơng;  
402  
- Có thể sử dụng đƣợc trong một thời gian dài;  
Các tiêu chí chung đã bao hàm tất cả các yêu cầu về xây dựng một hệ  
thống chỉ tiêu trong đó có Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng, tuy  
nhiên đối với Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng có những tiêu chí  
đặc thù liên quan đến cảnh báo sớm môi trƣờng, đó là:  
- Số lƣợng chỉ tiêu cảnh báo ít nhƣng đảm bảo phản ánh toàn diện, đầy  
đủ về hiện trạng môi trƣờng đồng thời mang tính cảnh báo sớm. Tuy nhiên  
cân nhắc giữa lựa chọn chỉ tiêu đủ ít nhƣng vẫn đảm bảo có thể phản ánh hiện  
trạng môi trƣờng nói chung và suy giảm chất lƣợng môi trƣờng nói riêng;  
- Thời gian thu thập và công bố thông tin, số liệu nhanh đảm bảo tính  
thời sự của việc cảnh báo sớm môi trƣờng;  
- Thông tin sử dụng cho cảnh báo cần dễ thu thập;  
- Thông tin dễ sử dụng;  
- Phân tổ theo các nhóm lĩnh vực môi trƣờng. Một trong các tiêu chí  
chung về xây dựng một hệ thống chỉ tiêu thống kê đó là phân tổ theo cấp  
quản lý ở trung ƣơng và địa phƣơng, do vậy tiêu chí về phân tổ theo các  
nhóm lĩnh vực môi trƣờng có thể coi là một tiêu chí riêng biệt đối với việc  
xây dựng một Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng. Đặc thù của môi  
trƣờng là phạm vi bao phủ rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực môi trƣờng nhƣ  
môi trƣờng không khí, môi trƣờng nƣớc mặt, môi trƣờng nƣớc ven biển, môi  
trƣờng đất, môi trƣờng rừng....  
Theo các tiêu chí về xây dựng một hệ thống chỉ tiêu thống kê nói chung  
và xây dựng Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng nói riêng, việc xây  
dựng Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng không khí đô thị, nƣớc mặt,  
nƣớc ven biển cần đáp ứng một số các tiêu chí cụ thể của từng lĩnh vực môi  
trƣờng đó.  
Xây dựng Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng nhằm mục đích  
cung cấp những thông tin về thực trạng và những biến đổi về chất lƣợng và  
những tác động có thể có của sự suy giảm môi trƣờng đối với đời sống con  
ngƣời.  
Việc xây dựng các chỉ tiêu cảnh báo sớm cần phải dựa trên các hệ thống  
chỉ tiêu thống kê môi trƣờng hiện có của Việt Nam. Lựa chọn các chỉ tiêu  
phản ánh môi trƣờng không khí đô thị, nƣớc mặt, nƣớc ven biển có thể sử  
dụng để cảnh báo bao gồm các chỉ tiêu phản ánh thực trạng môi trƣờng, các  
chỉ tiêu phản ánh về suy giảm môi trƣờng và các chỉ tiêu phản ánh tác động  
của suy giảm môi trƣờng đối với đời sống con ngƣời. Đối với các chỉ tiêu  
403  
phản ánh thực trạng môi trƣờng cần nêu rõ các tiêu chuẩn Việt Nam đối với  
từng chỉ tiêu (nếu có) làm cơ sở cho việc đánh giá và cảnh báo suy giảm môi  
trƣờng.  
2.2. Cơ sở thực tiễn  
2.2.1. Sự cần thiết xây dựng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trường  
Chính sách bảo vệ môi trƣờng hợp lý cần phải đƣợc xây dựng dựa trên  
các bằng chứng hiện tại về suy giảm môi trƣờng và các cảnh báo sớm môi  
trƣờng. Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng và các số liệu đƣợc thu  
thập theo Hệ thống này sẽ là một nguồn thông tin hữu ích và đáng tin cậy  
giúp chính quyền các cấp trung ƣơng và địa phƣơng xây dựng các chính sách  
bảo vệ môi trƣờng quốc gia một cách phù hợp và hiệu quả. Tuy nhiên, hiện  
nay các bằng chứng về suy giảm môi trƣờng hay những cảnh báo sớm môi  
trƣờng chƣa đƣợc nhận biết một cách đầy đủ, rõ ràng và thƣờng xuyên. Các  
sự kiện môi trƣờng xảy ra nhƣ bão, lũ, động đất có thể gây tác động ngay lập  
tức tới đời sống kinh tế, xã hội của con ngƣời và mọi ngƣời có thể nhận thấy  
một cách rõ ràng, trong khi đó sự suy giảm môi trƣờng, sự suy thoái của hệ  
sinh thái có tác động rất lớn tới đời sống kinh tế xã hội của con ngƣời không  
chỉ trong phạm vi một lãnh thổ nhất định mà còn ảnh hƣởng tới môi trƣờng  
chung của cả thế giới nhƣng chƣa đƣợc nhận biết một cách đầy đủ, rõ ràng và  
thƣờng xuyên. Có thể vì những lý do đặc thù của các thông tin về cảnh báo  
sớm môi trƣờng: Thứ nhất, do các tác động về suy giảm môi trƣờng tới đời  
sống con ngƣời không gây ra tác động tiêu cực ngay tức thì (đa số), những  
tác động đó mang tính chất cộng dồn tích tụ lại theo thời gian; Thứ hai, các  
thông tin về suy giảm môi trƣờng đƣợc thông báo tới các nhà hoạch định  
chính sách, tới quần chúng nhân dân chƣa đƣợc đầy đủ, thƣờng xuyên và dễ  
hiểu, các thông tin về suy giảm môi trƣờng đƣợc công bố chƣa đi kèm với  
những giải thích về tác động nguy hại của chúng cũng nhƣ những cảnh báo  
về sự suy giảm môi trƣờng.  
Do vậy, cảnh báo sớm môi trƣờng là rất cần thiết cho việc nâng cao  
nhận thức về những tác động của suy giảm môi trƣờng đến phát triển bền  
vững, đến cuộc sống lâu dài của con ngƣời từ đó có kế hoạch sự ứng phó theo  
hƣớng bảo vệ môi trƣờng và thay đổi hành vi thân thiện với môi trƣờng.  
Tại Việt Nam hiện nay đang tồn tại một số hệ thống chỉ tiêu thống kê  
môi trƣờng nhằm mục đích theo dõi, giám sát tình hình môi trƣờng nói riêng  
trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên các chỉ tiêu môi trƣờng trong  
những hệ thống chỉ tiêu đó nhiều về số lƣợng nhƣng thiếu đối với một hệ  
thống cảnh báo. Trong khi đó nhu cầu về cảnh báo sớm môi trƣờng đang là  
404  
vấn đề bức bách của xã hội, do vậy cần phải có một hệ thống chỉ tiêu cảnh  
báo sớm môi trƣờng ở nƣớc ta.  
2.2.2. Thực trạng các hệ thống chỉ tiêu thống kê môi trường nói chung ở  
nước ta và trên thế giới  
Trên thế giới, hệ thống chỉ tiêu thống kê môi trƣờng hiện nay đƣợc xây  
dựng dựa trên các mô hình PSR (áp lực, hiện trạng và phản hồi) hoặc theo mô  
hình DPSIR (Động lực, áp lực, hiện trạng, tác động và phản hồi), đây là hai  
mô hình đƣợc sử dụng rộng rãi nhất trong xây dựng các hệ thống chỉ tiêu  
thống kê môi trƣờng. Mô hình DPSIR là mô hình mở rộng của PSR, trong đó  
Động lực và Tác động cung cấp những thông tin chi tiết về những phân tích  
nguyên nhân và kết quả của thay đổi môi trƣờng.  
Các chỉ tiêu Động lực là các chỉ tiêu mang tính khái quát về những tác  
động lên môi trƣờng ví dụ nhƣ sự gia tăng dân số, đô thị hoá…  
Các chỉ tiêu Áp lực là những chỉ tiêu phán ánh các nhân tố tác động đến  
môi trƣờng ví dụ nhƣ khí thải, nƣớc thải ô nhiễm, chất thải rắn …  
Các chỉ tiêu Hiện trạng là những chỉ tiêu phản ánh tình trạng môi trƣờng  
tại một thời điểm và thời gian nhất định, ví dụ tình trạng về hàm lƣợng các  
chất độc hại trong không khí, tình trạng nƣớc mặt….  
Các chỉ tiêu Tác động là những chỉ tiêu phản ánh những ảnh hƣởng tích  
cực hoặc tiêu cực của con ngƣời, các hoạt động sản xuất, xã hội… của con  
ngƣời do hiện trạng môi trƣờng mang lại, ví dụ tình trạng mắc các bệnh về  
đƣờng hô hấp, đƣờng ruột….  
Các chỉ tiêu Phản hồi là những chỉ tiêu phản ánh những hoạt động của  
con ngƣời nhằm khắc phục các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích  
cực do hiện trạng môi trƣờng đƣa lại, ví dụ những chính sách, qui định,  
khuyến khích cụ thể nhằm hƣớng con ngƣời có những hành động tích cực  
bảo vệ môi trƣờng.  
Các nƣớc thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) sử dụng  
mô hình PSR đối với việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi trƣờng. Úc cũng là  
một nƣớc sử dụng mô hình PSR trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi  
trƣờng. Chƣơng trình môi trƣờng Liên Hiệp Quốc (UNEP) thì sử dụng mô  
hình DPSIR cho việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê môi trƣờng, bao  
gồm môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội.  
Tại Việt Nam, có Hệ thống chỉ tiêu môi trƣờng đƣợc xây dựng dựa trên  
2 mô hình này (ví dụ hệ thống chỉ tiêu môi trƣờng và đói nghèo), nhƣng đa số  
những hệ thống chỉ tiêu môi trƣờng tại Việt Nam đƣợc xây dựng không dựa  
405  
trên 2 mô hình nói trên mà căn cứ vào các mục tiêu tiêu dõi và phát triển tình  
hình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc nhƣ các mục tiêu về đảm bảo phát  
triển kinh tế xã hội 5 năm của quốc gia, các mục tiêu thiên niên kỷ, các mục  
tiêu về tăng trƣởng và xoá đói giảm nghèo, các mục tiêu chƣơng trình quốc  
gia …  
Hiện nay đã có nhiều hệ thống thông tin đƣợc thiết lập nhằm giám sát và  
thực hiện các mục tiêu hoạt động của từng ngành trong đó có nội dung về bảo  
vệ môi trƣờng, các hệ thống này đều nhằm mục đích mô tả hiện trạng môi  
trƣờng nói chung và các mối quan hệ giữa môi trƣờng với kinh tế và xã hội  
nói riêng. Ở Việt Nam, các hệ thống chỉ tiêu thống kê có liên quan đến môi  
trƣờng đƣợc liệt kê nhƣ sau:  
Tại cơ quan Tổng cục Thống kê:  
Tháng 6 năm 2003 Luật Thống kê đƣợc chính thức thông qua, trong đó  
nêu rõ mỗi Bộ, ngành hoặc địa phƣơng có thể xây dựng hệ thống thu thập  
thống kê riêng của ngành mình phục vụ cho giám sát quản lý các mục tiêu  
ngành. Sau khi Luật Thống kê đƣợc thông qua, năm 2005 Thủ tƣớng Chính  
phủ đã ký quyết định số 306/2005/QĐ-TTg ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống  
kê quốc gia bao gồm 24 nhóm chỉ tiêu trong đó có 274 chỉ số thống kê. Trong  
24 nhóm chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia có một nhóm chỉ  
tiêu về bảo vệ môi trƣờng, gồm 16 chỉ số thống kê môi trƣờng do Tổng cục  
Thống kê và các Bộ, ngành có liên quan phối hợp cùng thu thập số liệu. Danh  
sách 16 chỉ tiêu gồm:  
- Tỷ lệ che phủ rừng (mã số 2301)  
- Diện tích rừng bị cháy, bị chặt phá (mã số 2302)  
- Số vụ thiên tai và mức độ thiệt hại (mã số 2303)  
- Hàm lƣợng chất độc hại trong không khí (mã số 2304)  
- Hàm lƣợng chất độc hại trong nƣớc mặt (mã số 2305)  
- Số vụ, số lƣợng dầu tràn và hoá chất rò rỉ trên biển, diện tích bị ảnh hƣởng  
(mã số 2306)  
- Cƣờng độ tiếng ồn và độ rung tại khu công nghiệp, khu tập trung dân cƣ  
(mã số 2307)  
- Tỷ lệ diện tích rừng đặc dụng đƣợc bảo tồn (mã số 2308)  
- Tỷ lệ diện tích đất đƣợc bảo vệ, duy trì đa dạng sinh học (mã số 2309)  
- Tỷ lệ các cơ sở công nghiệp đã xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn quy định  
(mã số 2310)  
406  
- Tỷ lệ các đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất đã xử lý rác thải, nƣớc thải đạt  
tiêu chuẩn quy định (mã số 2311)  
- Tỷ lệ chất thải nguy hại đã xử lý đạt tiêu chuẩn quy định (mã số 2312)  
- Tỷ lệ nƣớc thải đã xử lý (mã số 2313)  
- Tỷ lệ chất thải khí đã xử lý (mã số 2314)  
- Tỷ lệ chất thải rắn đã xử lý (mã số 2315)  
- Chi cho hoạt động bảo vệ môi trƣờng (mã số 2316)  
Trong số 16 chỉ số nói trên gồm có 12 chỉ số đánh giá về thực trạng môi  
trƣờng và bảo vệ môi trƣờng (các mã số 2301, 2304, 2305, 2307, 2308, 2309,  
2310, 2311, 2312, 2313, 2314, 2315); 3 chỉ số đánh giá mức độ suy giảm môi  
trƣờng (các mã số 2302, 2303, 2306) và 1 chỉ số đánh giá mức độ đầu tƣ cho  
bảo vệ môi trƣờng (mã số 2316).  
Ngoài nhóm chỉ tiêu thống kê về bảo vệ môi trƣờng (nhóm chỉ tiêu số  
23) trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia còn 5 nhóm chỉ tiêu thống kê  
khác bao gồm một số chỉ số môi trƣờng khác mà hiện nay số liệu đã đƣợc thu  
thập và công bố hàng năm trong Niên giám thống kê. Các chỉ số môi trƣờng  
đó là:  
Đất đai và khí hậu  
- Diện tích đất  
- Số giờ nắng, lƣợng mƣa, độ ẩm không khí, nhiệt độ không khí  
- Mực nƣớc và lƣu lƣợng ở một số sông chính.  
Dân số  
- Dân số  
- Tỷ suất nhập cƣ, xuất cƣ, tỷ suất di cƣ thuần .  
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản  
- Diện tích gieo trồng cây hàng năm  
- Diện tích cây lâu năm  
- Diện tích đất nông nghiệp đƣợc tƣới, tiêu  
- Diện tích rừng trồng mới tập trung  
- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản.  
Y tế và chăm sóc sức khoẻ  
- Tỷ lệ trẻ sơ sinh có trọng lƣợng dƣới 2500 gram  
407  
- Tỷ lệ trẻ em dƣới 5 tuổi bị suy dinh dƣỡng  
- Số ca mắc, số ngƣời chết do các bệnh dịch  
- Số vụ, số ngƣời bị ngộ độc thức ăn.  
Mức sống dân cƣ  
- Tỷ lệ hộ gia đình dùng điện sinh hoạt, dùng nƣớc hợp vệ sinh, dùng hố xí  
hợp vệ sinh.  
Trật tự, an toàn xã hội và tƣ pháp  
- Số vụ tai nạn giao thông, số ngƣời chết, bị thƣơng do tai nạn giao  
thông  
- Số vụ cháy nổ và mức độ.  
Các chỉ số môi trƣờng đƣợc xây dựng trong hệ thống chỉ tiêu thống kê  
quốc gia là những chỉ tiêu đánh giá môi trƣờng tầm vĩ mô, tuy nhiên với mục  
đích đánh giá và cung cấp thông tin về thực trạng môi trƣờng thì các chỉ tiêu  
này vừa thiếu, thiếu thông tin để đánh giá, và vừa thừa, thừa vì có những  
thông tin quá chi tiết không cần thiết cho việc đánh giá môi trƣờng ở tầm vĩ  
mô. Các chỉ tiêu trong hệ thống này có đặc điểm là nó đƣợc xây dựng trên cơ  
sở khoa học, có khái niệm/định nghĩa và các phƣơng pháp tính rõ ràng, có  
tính khả thi và đảm bảo tính bền vững trong thu thập số liệu.  
Tại cơ quan Bộ Kế hoạch và đầu tƣ:  
Thực hiện Chƣơng trình nghị sự 21 và Kế hoạch Phát triển kinh tế xã  
hội 2006-2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ đã dự thảo danh sách giám sát Kế  
hoạch phát triển kinh tế xã hội bao gồm 18 chỉ số về tài nguyên, môi trƣờng  
và phát triển bền vững nhƣ sau:  
- Tỷ lệ che phủ rừng*  
- Tỷ lệ dân số khu vực nông thôn đƣợc cấp nƣớc sạch*  
- Tỷ lệ khu vực thành thị có hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung đạt tiêu  
chuẩn qui định  
- Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nƣớc thải tập  
trung đạt tiêu chuẩn qui định về môi trƣờng*  
- Tỷ lệ hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh*  
- Tỷ lệ nhà ổ chuột tại khu vực đô thị và nhà tạm ở khu vực nông thôn bị  
xoá bỏ, đặc biệt ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long  
- Bảo tồn đất tự nhiên để duy trì đa dạng sinh học*  
408  
- Lƣợng thải Các bon đioxits (2)  
- Tỷ lệ dân số đƣợc tiếp cận các dịch vụ về vệ sinh môi trƣờng  
- Tỷ lệ cơ sở sản xuất đƣợc xây mới sử dụng công nghệ sạch hoặc đƣợc  
trang bị hệ thống xử lý môi trƣờng  
- Thu gom chất thải rắn  
- Chất thải nguy hại  
- Chất thải y tế  
- Xử lý triệt để các chất ô nhiễm nguy hại  
- Số đƣờng phố có cây xanh  
- Tổng tiêu dùng năng lƣợng (3)  
- Tỷ lệ doanh nghiệp đƣợc cấp chứng nhận về ISO  
- Số lƣợng các chƣơng trình về phát triển bền vững của các địa phƣơng và  
của các ngành đƣợc lập kế hoạch và thực hiện.  
Trong 18 chỉ số này có 5 chỉ số trùng với các chỉ số trong Hệ thống chỉ  
tiêu thống kê quốc gia (các chỉ tiêu đánh dấu *) và có 7 chỉ số có thể sử dụng  
để phân tích cảnh báo môi trƣờng.  
Tại cơ quan Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng: đang thu thập số liệu cho các  
bộ chỉ tiêu:  
- Bộ chỉ tiêu thống kê môi trƣờng Việt nam với hơn 87 chỉ tiêu do Cục  
Bảo vệ môi trƣờng thực hiện năm 1998 dựa trên các chỉ tiêu môi trƣờng của  
Chƣơng trình môi trƣờng Liên Hiệp Quốc (UNEP), hiện đang đƣợc thử  
nghiệm trên trang web của Cục bảo vệ môi trƣờng.  
- Bộ chỉ thị P-E-L (giảm nghèo, môi trƣờng, sinh kế) do Viện Khoa học  
khí tƣợng thuỷ văn và môi trƣờng trƣờng thực hiện, đã đề xuất 124 chỉ số  
môi trƣờng trong đó 26 chỉ số liên quan đến nghèo, 66 chỉ số liên quan đến  
môi trƣờng và 32 chỉ số liên quan đến sinh kế.  
- Hệ thống chỉ tiêu ngành tài nguyên môi trƣờng: thực hiện các yêu cầu  
về xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành, Bộ Tài nguyên môi  
trƣờng đã xây dựng Hệ thống chỉ tiêu ngành tài nguyên môi trƣờng bao gồm  
các chỉ tiêu môi trƣờng trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các chỉ  
tiêu thống kê khác chuyên sâu về lĩnh vực môi trƣờng.  
Tại cơ quan Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn:  
409  
Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn  
đã đƣợc ban hành theo quyết định số 71/2006/QĐ-BNN, ngày 14/9/2006. Hệ  
thống này gồm 230 chỉ số thuộc 21 nhóm chỉ tiêu thống kê, không có nhóm  
chỉ tiêu cụ thể cho lĩnh vực môi trƣờng. Các chỉ số liên quan đến môi trƣờng  
gồm:  
Đất nông nghiệp  
- Diện tích đất nông nghiệp*  
Rừng  
- Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp*  
- Diện tích rừng hiện có*  
- Tỷ lệ che phủ rừng*  
- Diện tích rừng bị thiệt hại*  
- Tỷ lệ diện tích rừng đặc dụng đƣợc bảo tồn*  
- Danh mục động, thực vật rừng nguy cấp, quí hiếm  
- Trữ lƣợng rừng  
- Diện tích rừng trồng mới tập trung*  
- Diện tích rừng đƣợc trồng lại sau khai thác  
- Diện tích rừng đƣợc khoanh nuôi  
- Diện tích khoanh nuôi đã thành rừng  
- Diện tích rừng đƣợc bảo vệ, chăm sóc  
- Diện tích rừng trồng bị khai thác trắng  
- Giá trị thực hiện vốn đầu tƣ lâm sinh.  
Bảo vệ thực vật  
- Số lƣợng cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật  
- Khối lƣợng và giá trị thuốc BVTV nhập khẩu hàng năm.  
Thuỷ lợi  
- Tổng diện tích đất đƣợc tƣới  
- Tổng diện tích cây trồng đƣợc tiêu  
- Diện tích cây trồng bị hạn  
- Diện tích cây trồng bị úng, ngập.  
410  
Quản lý đê điều và phòng chống lụt bão  
- Số vụ thiên tai*  
- Mức độ thiệt hại (lƣợng và giá trị)*.  
Thu nhập và đời sống  
- Số hộ và nhân khẩu trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng.  
Cơ sở hạ tầng  
- Tỷ lệ xã có công trình cấp nƣớc sinh hoạt tập trung  
- Tỷ lệ xã có tổ chức xử lý rác thải  
- Tỷ lệ số hộ/ngƣời dân nông thôn đƣợc sử dụng nƣớc sạch*  
- Tình hình sử dụng hố xí của các hộ nông thôn*.  
Trong số 28 chỉ số trong 7 nhóm chỉ tiêu có liên quan đến môi trƣờng có  
11 chỉ số thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.  
2.2.3. Khả năng đáp ứng của các hệ thống chỉ tiêu thống kê môi trường  
cho việc cảnh báo sớm  
Các Hệ thống chỉ tiêu môi trƣờng kể trên, đƣợc xây dựng dƣới các hình  
thức thử nghiệm, nghiên cứu, hệ thống chính thức của Bộ/ngành đã cho thấy  
bƣớc tiến mới trong việc xây dựng hệ thống thông tin môi trƣờng giúp cho  
việc hoạch định chính sách và lập kế hoạch bảo vệ môi trƣờng quốc gia trong  
tƣơng lai. Tuy vậy, các hệ thống này còn có hạn chế lớn trong việc chuẩn hoá  
hệ thống chỉ tiêu và chế độ báo cáo, đặc biệt thiếu cơ chế phối hợp giữa các  
Bộ/ngành, các cơ quan trong việc cung cấp và chia sẻ số liệu, do vậy tính bền  
vững trong việc thu thập số liệu môi trƣờng chƣa đƣợc xác lập.  
Ngoài ra, các hệ thống chỉ tiêu môi trƣờng nhƣ đã kể trên khá chi tiết  
cho việc đánh giá tình trạng môi trƣờng quốc gia nói chung nếu hệ thống này  
đƣợc chuẩn hoá và số liệu đƣợc thu thập định kỳ, các hệ thống chỉ tiêu này đã  
bao gồm một số chỉ tiêu phục vụ cảnh báo sớm. Tuy nhiên, chính vì các hệ  
thống này nhằm mục đích đánh giá môi trƣờng nói chung nên không phù hợp  
cho việc áp dụng hoàn toàn một hệ thống chỉ tiêu môi trƣờng cho mục đích  
cảnh báo sớm vì các chỉ tiêu đƣa ra quá nhiều (thừa thông tin) và yêu cầu thu  
thập các số liệu trong những hệ thống này tốn rất nhiều thời gian; số lƣợng  
chỉ tiêu nhiều, các chỉ tiêu mang nặng tính kỹ thuật, các chỉ tiêu đƣợc nêu ra  
là những chỉ tiêu kép (bao gồm nhiều chỉ tiêu đơn trong một chỉ tiêu đã nêu).  
Mặt khác nếu xem xét từng lĩnh vực môi trƣờng trong từng hệ thống chỉ tiêu  
nêu trên thì các chỉ tiêu nêu ra chƣa đủ (còn thiếu) để có thể cảnh báo tình  
hình môi trƣờng đối với từng lĩnh vực môi trƣờng. Cụ thể các chỉ tiêu trong 3  
411  
nhóm môi trƣờng không khí đô thị, môi trƣờng nƣớc mặt và môi trƣờng nƣớc  
ven biển trong các hệ thống chỉ tiêu thống kê hiện tại đƣợc tổng hợp trong  
Bảng 1.  
Do vậy, mặc dù đã có rất nhiều hệ thống chỉ tiêu thống kê môi trƣờng  
tồn tại ở Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ; Bộ Tài nguyên Môi  
trƣờng; Bộ Nông nghiệp, các hệ thống chỉ tiêu này có thể rất hữu ích cho việc  
đánh giá hiện trạng môi trƣờng nói chung hoặc giúp giám sát tình hình thực  
hiện các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc nhƣng các hệ  
thống này lại không đáp ứng đƣợc các yêu cầu về cảnh báo sớm môi trƣờng  
với những yêu cầu mang tính “báo động” về tình hình suy giảm môi trƣờng  
hơn là đánh giá thực trạng chung về môi trƣờng, cụ thể nhƣ:  
- Cần ít chỉ tiêu cảnh báo với độ bao quát cao: số lƣợng chỉ tiêu hạn chế  
nhằm đảm bảo thời gian cung cấp thông tin và độ chính xác của các  
thông tin đƣa ra.  
- Thời gian thực hiện nhanh: đảm bảo tính thời sự trong việc cảnh báo  
môi trƣờng.  
- Dễ thực hiện.  
- Thông tin đƣa ra không mang nặng tính kỹ thuật giúp ngƣời sử dụng  
tin (bao gồm các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và  
công đồng dân cƣ) nắm rõ đƣợc những cảnh báo môi trƣờng.  
412  
Bảng 1  
STT  
1
Bộ/ngành  
Tổng cục Thống kê (NSIS)  
Không khí đô thị  
Nƣớc mặt  
Nƣớc ven biển  
- Hàm lƣợng một số chất độc - Hàm lƣợng một số chất độc Số vụ, số lƣợng dầu tràn và  
hại trong không khí (NO2, SO2, hại trong nƣớc mặt BOD5, chất hoá chất rò rỉ trên biển, diện  
CO, PM10, chì)  
rắn lơ lửng, Kim loại nặng (Hg, tích bị ảnh hƣởng  
- Cƣờng độ tiếng ồn và độ rung As, Pb), coliform  
tại khu công nghiệp và khu tập - Tỷ lệ nƣớc thải đã xử lý  
trung dân cƣ  
- Tỷ lệ chất thải khí đã xử lý  
2
Bộ kế hoạch và Đầu tƣ - Số đƣờng phố có cây xanh  
(Chƣơng trình nghị sự 21 và  
- Tỷ lệ dân số khu vực nông  
thôn đƣợc cấp nƣớc sạch  
Khung giám sát kế hoạch phát  
triển kinh tế xã hội)  
- Tỷ lệ khu vực thành thị có hệ  
thống xử lý nƣớc thải tập trung  
đạt tiêu chuẩn qui định  
- Tỷ lệ khu công nghiệp, khu  
chế xuất có hệ thống xử lý nƣớc  
thải tập trung đạt tiêu chuẩn qui  
định về môi trƣờng.  
3
4
Bộ Tài nguyên Môi trƣờng (hệ - Hàm lƣợng một số chất độc - Hàm lƣợng một số chất độc - Số vụ, số lƣợng dầu tràn và  
thống chỉ tiêu ngành tài hại trong không khí: NO2, SO2, hại trong nƣớc mặt: BOD5, hoá chất rò rỉ trên biển, diện  
nguyên môi trƣờng)  
PM10, Pb  
NO2, chất rắn lơ lửng, coliorm, tích bị ảnh hƣởng  
- Cƣờng độ tiếng ồn và độ rung kim loại nặng  
tại khu công nghiệp, khu tập - Độ đục một số con sông  
trung dân cƣ  
- Chất lƣợng nƣớc biển,  
trầm tích và sinh vật  
Bộ Nông nghịêp và phát triển  
nông thôn (Hệ thống chỉ tiêu  
thống kê ngành nông nghiệp  
và phát triển nông thôn đƣợc  
ban hành theo quyết định số  
71/2006/QĐ-BNN,  
ngày  
14/9/2006)  
413  
Có thể dễ nhận thấy rằng các hệ thống chỉ tiêu môi trƣờng ở các  
Bộ/ngành bao phủ nhiều lĩnh vực môi trƣờng (nhƣ môi trƣờng đất, nƣớc,  
không khí....), bao gồm nhiều chỉ tiêu, tuy nhiên đối với từng lĩnh vực môi  
trƣờng trong 3 lĩnh vực không khí đô thị, nƣớc mặt và nƣớc ven biển ở từng  
hệ thống chỉ tiêu thì số lƣợng chỉ tiêu chƣa đầy đủ cho việc cảnh báo sớm  
tình trạng môi trƣờng.  
Vì những lý do nhƣ vậy, nên việc sử dụng một trong những hệ thống chỉ  
tiêu môi trƣờng sẵn có hiện nay cho mục đích cảnh báo sớm môi trƣờng sẽ  
không phù hợp và hiệu quả mà cần phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu  
chuyên dùng cho cảnh báo sớm môi trƣờng, các chỉ tiêu trong hệ thống cảnh  
báo sớm môi trƣờng có thể đã có trong các hệ thống chỉ tiêu môi trƣờng hiện  
tại hoặc chƣa có trong các hệ thống này.  
III. Đề xuất hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng theo ba nhóm chỉ  
tiêu: môi trƣờng không khí ở thành thị, nƣớc mặt và nƣớc ven biển  
3.1. Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm môi trƣờng không khí đô thị  
Ô nhiễm môi trƣờng không khí là khi trong không khí có chất lạ hoặc có  
sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí theo chiều hƣớng tiêu cực,  
bất lợi đối với sinh vật và con ngƣời. Có 2 nguồn gây ra ô nhiễm không khí  
đó là nguồn tự nhiên và nhân tạo. Hiện nay nguồn nhân tạo là nguồn gây ô  
nhiễm chính đối với môi trƣờng không khí và chúng ta có thể chủ động để  
khắc phục tình trạng này.  
Ô nhiễm không khí ở thành thị chủ yếu bởi bụi lơ lửng PM10, tiếng ồn,  
SO2, NO2, CO, O3, bụi, chì.  
Khí SO2: là chất khí hình thành do ôxy hóa lƣu huỳnh khi đốt cháy các  
nhiên liệu nhƣ than, dầu, sản phẩm của dầu, quặng sulfur. Khi hít phải SO2  
ảnh hƣởng tới chức năng phổi, gây viêm phổi, viêm phế quản mãn tính, gây  
bệnh tim mạch,..  
Khí CO: đƣợc hình thành do sự đốt cháy không hoàn toàn của các chất  
hữu cơ nhƣ than, xăng, dầu, gỗ và một số chất hữu cơ khác. Khi bị nhiễm khí  
CO sẽ ảnh hƣởng tới nhiều hệ thống nhƣ hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp,  
đặc biệt là các cơ quan, tổ chức tiêu thụ lƣợng ôxy cao nhƣ não, tim,..  
Khí NO2: là chất khí mầu nâu, đƣợc tạo ra bởi sự ôxy hóa Nitơ ở nhiệt  
độ cao, NO2 là một chất khí nguy hiểm tác động mạnh đến cơ quan hô hấp.  
Khi tiếp xúc với NO2 sẽ tổn thƣơng đến niêm mạc phổi, tăng nguy cơ nhiễm  
trùng, mắc các bệnh hô hấp,..  
Bụi: bụi PM10 có đƣờng kính khí động học dƣới 10µm là loại bụi nhỏ  
rất dễ dàng thâm nhập vào đƣờng hô hấp của con ngƣời. Ảnh hƣởng của bụi  
414  
vào sức khỏe phụ thuộc vào tính chất, nồng độ và kích thƣớc hạt bụi, bụi có  
thể gây ra các bệnh về đƣờng hô hấp, tim mạch,..  
Chì: sinh ra từ khói xả từ động cơ của các phƣơng tiện tham gia giao  
thông có chứa một hàm lƣợng chì nhất định, chì còn đƣợc sản sinh ra từ các  
mỏ quặng, từ nhà máy sản xuất pin, chất dẻo tổng hợp, sơn...Chì xâm nhập vào  
cơ thể qua đƣờng hô hấp, thức ăn, nƣớc uống, qua da, qua sữa mẹ, Chì sẽ tích  
tụy trong xƣơng và hồng cầu gây rối loạn tủy xƣơng, đau khớp, viêm thận,...  
Tiếng ồn: sản sinh ra từ các hoạt động của máy móc, động cơ xe, tiếng  
còi xe,..  
Để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trƣờng không khí, tiêu chuẩn chất  
lƣợng không khí đƣợc áp dụng là: TCVN 5937-2005, TCVN 5949-1998,  
TCVN 5938-2005, TCVN 5939-2005, TCVN 5940-2005 (các TCVN này do  
Tổng cục đo lƣờng chất lƣợng Việt Nam xây dựng).  
Phạm vi áp dụng: Tiêu chuẩn này qui định giới hạn thông số cho phép  
cơ bản, gồm lƣu huỳnh đioxit (S02), Cacbon oxit (C02), nito oxit(N0x), Ozon  
(O3), bụi lơ lửng và bụi PM10 (bụi nhỏ hơn <=10µm) và chì trong không khí  
xung quanh.  
Tiêu chuẩn này để đánh giá chất lƣợng không khí xung quanh và giám  
sát tình trạng ô nhiễm không khí.  
Tiêu chuẩn này không áp dụng để đánh giá chất lƣợng không khí trong  
phạm vi cơ sở sản xuất hoặc không khí trong nhà.  
Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh qui  
định trong bảng 1:  
Bảng 1: Tiêu chuẩn chất lƣợng không khí xung quanh  
Đơn vị tính: Microgam trên mét khối  
Thông số  
SO2  
Trung  
bình 1 giờ bình 8 giờ  
Trung  
Trung bình 24  
Trung bình  
giờ  
năm  
350  
-
125  
50  
CO  
NO2  
O3  
Bụi ≤10µm  
Chì Pb  
Chú thích  
30000  
10000  
5000*  
100*  
80  
-
40  
-
50  
0.5  
200  
180  
-
-
120  
-
150  
1.5  
-
-
PM10: bụi lơ lửng có khích thƣớc khí động học nhỏ hơn hoặc  
bằng 10µm ;  
(-): Không qui định  
(*): Áp dụng theo TCVN 5937-1995  
415  
TCVN 5949-1998: Giới hạn tối đa cho phép tiếng ồn khu vực công cộng  
và dân cƣ (theo mức âm tƣơng đƣơng)  
Đơn vị: dBA  
Khu vực (*)  
Thời gian  
Từ 18h  
Từ 6h  
Từ 22h  
đến 18h đến 22h đến 6h  
1. Khu vực cần đặc biệt yên tĩnh: Bệnh viện, thƣ  
viện, nhà điều dƣỡng, nhà trẻ, trƣờng học, nhà  
thờ, chùa chiền  
50  
45  
40  
2. Khu dân cƣ, khách sạn, nhà nghỉ  
3. Khu dân cƣ xen kẽ trong khu vực thƣơng mại,  
dịch vụ, sản xuất  
60  
75  
55  
70  
50  
50  
Đề xuất một số chỉ tiêu về thống kê môi trƣờng không khí vào hệ  
thống chỉ tiêu cảnh báo sớm về môi trƣờng:  
Chỉ tiêu 1: Nồng độ PM10 trong môi trƣờng không khí đô thị  
* Khái niệm, định nghĩa: Nồng độ PM10 trong môi trƣờng không khí đô  
thị chính là hàm lƣợng bụi có trong môi trƣờng không khí đô thị mà các trạm  
quan trắc môi trƣờng không khí đo đƣợc. Bụi PM10 có đƣờng kính khí động  
học dƣới 10µm là loại bụi nhỏ rất dễ dàng thâm nhập vào đƣờng hô hấp của  
con ngƣời.  
* Phƣơng pháp tính: đo nồng độ PM10 trong môi trƣờng không khí đô  
thị đƣợc thực hiện bởi các trạm quan trắc môi trƣờng không khí.  
Đơn vị tính: mg/m3  
* Phân tổ: Tỉnh/thành phố, trạm đo  
* Nguồn số liệu: Bộ Tài nguyên Môi trƣờng  
* Tần suất công bố: Hàng tháng  
Chỉ tiêu 2: Nồng độ SO2 trong môi trƣờng không khí đô thị  
* Khái niệm, định nghĩa: Nồng độ SO2 trong môi trƣờng không khí đô  
thị chính là hàm lƣợng khí SO2 có trong môi trƣờng không khí đô thị mà các  
trạm quan trắc môi trƣờng không khí đo đƣợc. Khí SO2 là chất khí hình  
thành do ôxy hóa lƣu huỳnh khi đốt cháy các nhiên liệu nhƣ than, dầu, sản  
phẩm của dầu, quặng sulfur.  
* Phƣơng pháp tính: đo nồng độ SO2 trong môi trƣờng không khí đô thị  
đƣợc thực hiện bởi các trạm quan trắc môi trƣờng không khí.  
Đơn vị tính: mg/m3  
416  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 40 trang yennguyen 20900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sớm về môi trường không khí đô thị, nước mặt và nước ven biển ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_tai_nghien_cuu_xay_dung_he_thong_chi_tieu_canh_bao_som_ve.pdf