Đánh giá hiệu quả phương pháp kết hợp gây tê tủy sống ngoài màng cứng với Bupivacaine đẳng trọng và Sufentanil để mổ thay khớp háng người cao tuổi

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP KẾT HỢP GÂY TÊ TỦY SỐNG  
NGOÀI MÀNG CỨNG VỚI BUPIVACAINE ĐẲNG TRỌNG VÀ  
SUFENTANIL ĐỂ MỔ THAY KHỚP HÁNG NGƯỜI CAO TUỔI  
Lê Văn Chung*, Nguyễn Văn Chừng**  
TÓM TẮT  
Tháng 6 - 2007 đến tháng 5 - 2009 tại khoa Gây mê Hồi sức Bệnh viện SAI GON – ITO đã sử dụng  
Bupivacaine đẳng trọng liều thấp và Sufentanil trong phương pháp kết hợp gây tê tủy sống và ngoài màng cứng  
cho 162 bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng từ 70- 98 tuổi. Thời gian mổ trung bình 82 ± 11,86 phút.  
Mục tiêu: Xác dịnh hiệu quả của phương pháp CSE với Bupivacaine đẳng trọng liều thấp và Sufentanil  
trong và sau mổ thay khớp háng ở người cao tuổi. Đánh giá tác động của phương pháp này trên tuần hoàn, hô  
hấp và biến chứng.  
Phương pháp: Tiền cứu.  
Kết quả: Vô cảm tối ưu trong mổ (99,38%), giảm đau tốt sau mổ (98,76%), nhịp tim, nhịp thở, huyết áp và  
tri giác ít thay đổi. Bệnh tim mạch và hô hấp tiến triển tốt sau mổ: bệnh mạch vành tốt hơn (99,24%), bệnh tăng  
huyết áp tốt hơn (99,2%) và bệnh phổi mạn tốt hơn (98,75%).  
Kết luận: Sử dụng liều thấp Bupivacaine đẳng trọng và Sufenatanil trong kỹ thuật kết hợp gây tê tuỷ sống  
- ngoài màng cứng là phương pháp có hiệu quả vô cảm và giảm đau tốt cho phẫu thuật thay khớp háng ở người  
cao tuổi, tác động tốt trên tuần hoàn, hô hấp sau mổ và ít biến chứng.  
Từ khóa: gây tê tủy sống, ngoài màng cứng kết hợp, bupivacain đẳng trọng, phẫu thuật thay khớp hang.  
ABSTRACT  
THE EFFECT OF METHOD COMBINED SPINAL – EPIDURAL ANESTHESIA WITH ISOTONIC  
BUPIVACAINE AND SUFENTANIL FOR SURGERY OF HIP REPLACEMENT IN ELDERLY  
PATIENTS  
Le Van Chung, Nguyen Van Chung  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 1 - 2011: 284 - 292  
From June 2007 to May 2009, the Anesthesia Department of SAIGON –ITO Hospital applied CSE method  
with low dose isotonic bupivacaine and sufentanil for 162 patients of 70-98 years old undergoing Hip  
Replacement Surgery. Duration of the intervention: 82 ± 11.86 minutes.  
Purposes: To determine the effect of CSE with low dose isotonic bupivacaine and sufentanil for Hip  
Replacement Surgery. To evaluate the effect of CSE on the cardiovascular and respiratory system and  
complications.  
Methods: Prospective study.  
Result: The degree of motorzed and sensory block has been much better after anesthetic technique procedure:  
intraoperative anesthetic reached to 99.38%, postoperative analgesia reached to 98.76%. Heart rate, respiratory  
rate, blood pressure and perception are not significantly changed. Cardiovascular and respiratory diseases have  
* Bệnh viện Quốc tế chấn thương chỉnh hình Sài Gòn  
** Phân môn Gây mê Hồi sức - Bộ môn Ngoại - ĐHYD TP.HCM  
Tác giả liên lạc: TS Lê Văn Chung, ĐT: 0978188179, Email: [email protected]om.vn  
284  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
been much better: coronary arteries disease reached to 99.24%, hypertension reached to 99.2% and COPD  
reached to 98.75%.  
Conclusion: The combined spinal – epidural anesthesia technique with low dose isotonic bupivacaine and  
sufentanil is adequate to intraoperation and postoperation, effects on the cardiovascular and respiratory system in  
postoperative episode and decreases rate of complications in Hip Replacement for elderly patients.  
Keywords: CSE, isotonic bupivacaine, hip replacement surgery.  
mạch vành chưa ổn định, hẹp van hai lá và van  
động mạch chủ nặng.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Đối với người cao tuổi bị gãy cổ xương đùi  
thực sự là một vấn nạn, bởi vì hầu hết trong số  
họ đều có tiền sử bệnh lý nội khoa tiềm tàng,  
hoặc có bệnh lý nội khoa đang điều trị, đặc biệt  
là hệ tim mạch và hô hấp. Về lĩnh vực gây mê  
hồi sức là một thách thức, với những phương  
pháp vô cảm đang có hiện nay như gây mê toàn  
diện, gây tê tủy sống, đều có thể đáp ứng được  
nhu cầu vô cảm cho loại phẫu thuật này, nhưng  
có nhiều biến chứng, rủi ro về tim mạch và hô  
hấp xảy ra trong và sau mổ. Qua tiếp thu y văn  
và nhận thấy rằng “phương pháp kết hợp gây tê  
tủy sống - ngoài màng cứng với Bupivacaine  
Bệnh viêm phổi phế quản cấp  
Những bệnh nhân bị dị ứng thuốc tê.  
Không được sự đồng ý của bệnh nhân.  
Phương pháp nghiên cứu  
Tiền cứu, quan sát, can thiệp.  
Cách tiến hành nghiên cứu  
Chuẩn bị bệnh nhân  
- Ghi nhận các thông số bệnh lý nội khoa  
vốn có của BN trước khi bị chấn thương.  
đẳng trọng và Sufentanil ” có thể đáp ứng được  
những yêu cầu nêu ở trên  
(1,8,13)  
- Kiểm tra các xét nghiệm.  
.
Công trình được tiến hành thực hiện nghiên  
cứu tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình  
Quốc tế Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh từ  
năm 2007-2009, với mục tiêu:  
- Giải thích cho bệnh nhân và làm cam kết  
thực hiện kỹ thuật.  
Chuẩn bị dụng cụ và thuốc nghiên cứu  
Dụng cụ  
Xác định hiệu qủa của phương pháp kết hợp  
gây tê tủy sống - ngoài màng cứng với  
Bupivacain đẳng trọng và Sufentanil trong và  
sau mổ thay khớp háng ở người cao tuổi.  
- Bộ dụng cụ gây tê CSE của hãng B.Braun  
(Espocan CSE set with G27 Spocan).  
- Bộ kim gây tê thần kinh đùi “3 trong 1”  
- Các dụng cụ kèm theo.  
Thuốc  
Đánh giá tác động của phương pháp vô cảm  
này trên tuần hoàn, hô hấp và các biến chứng.  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
- Thuốc tê Bupivacaine 0,5% đẳng trọng ống  
4ml/20mg Lidocaine 2%, ống 10ml, của công ty  
Astra-Zeneca.  
Tất cả bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên có chấn  
thương bị gãy cổ xương đùi được định phẫu  
thuật thay khớp háng tại Bệnh viện SÀI GÒN –  
ITO, Thành phố Hồ Chí Minh.  
- Thuốc Sufentanil: ống 250µ/5ml, không  
có chất bảo quản của Nước Cộng Hòa Liên  
Bang Đức.  
Loại trừ khỏi nghiên cứu  
Bệnh tăng huyết áp chưa ổn định, nhồi máu  
cơ tim trước 6 tháng, suy tim độ III, IV, bệnh  
- Thuốc hồi sức và thuốc khác.  
285  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
Các phương tiện theo dõi: máy Monitor  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Nihokoden  
Tiến hành kỹ thuật  
Tiến hành gây tê thần kinh đùi (gây tê thần kinh “3  
trong 1”).  
Kết quả chung  
Phân bố về tuổi, giới, của bệnh nhân  
Tuổi của BN nhỏ nhất là 70, lớn nhất là 98,  
trong đó từ 70-80 có 45,67%.  
- Bên cổ xương đùi bị gãy, sử dụng  
Lidocaine 1%, thể tích 20 -30ml, gây tê thần kinh  
“3 trong 1” dưới hướng dẫn của máy dò thần  
kinh (Stimuplex) của công ty B/Braun.  
Trong 162 bệnh nhân, nữ có 117/162 chiếm  
tỷ lệ 72,22%.  
Tiền sử bệnh lý trước khi nhập viện và bệnh  
tim mạch, hô hấp kèm theo trước mổ.  
Tiền sử bệnh lý trước khi nhập viện.  
- Sau đó đưa bệnh nhân từ xe đẩy lên bàn  
mổ và đặt tư thế cho thực hiện kỹ thuật CSE.  
Bảng 1: Tiền sử bệnh lý trước khi nhập viện.  
- Tư thế bệnh nhân: nằm nghiêng chi bị gãy  
lên trên.  
Tiền sử  
Số lượng  
Tỷ lệ%  
Tăng huyết áp  
86  
55  
15  
60  
80  
7
53  
Kỹ thuật CSE.  
Thiếu máu cơ tim  
Nhồi máu cơ tim cũ  
Đau thắt ngực  
33,95  
9,25  
37  
Kỹ thuật tiêm một đốt sống: chọc kim tại đốt  
sống thắt lưng 3 - 4 hoặc 2 - 3.  
Bệnh phổi mạn tính  
Suy thận  
49,38  
4,32  
3
Bơm thuốc vào khoang dưới màng nhện:  
Tai biến mạch máu não  
Đái tháo đường  
Không tiền sử  
5
Bupivacaine đẳng trọng: từ 2mg -5mg +  
Sufentanil cho tất cả bệnh nhân là 5 µ.  
25  
39  
15,43  
24  
Sau đó rút kim tủy sống ra và luồn ống  
thông vào khoang ngoài màng cứng.  
Đặc điểm bệnh lý tim mạch và hô hấp kèm  
theo trước mổ.  
Cho bệnh nhân tiếp tục thở ôxy qua mũi  
5l/p, sau đó tiêm 5 ml dung dịch Bupivacaine  
0,1% + Sufentanil 1 µ/ml vào ngoài màng cứng  
và duy trì 2 đến 5ml/giờ.  
Bệnh mạch vành trước mổ: 132/162 BN  
chiếm tỷ lệ 81,4%.  
Bệnh tăng huyết áp trước mổ: 125/162 BN,  
chiếm tỷ lệ 77,16%.  
Bệnh viêm phổi trước mổ: 115/162 BN chiếm  
tỷ lệ 70,98%.  
Các chỉ số theo dõi  
Nhịp tim, huyết áp, nhịp thở, SpO2, tri giác,  
lượng máu mất trong và sau mổ.  
Hiệu quả và tính an toàn của phương pháp  
CSE.  
Theo dõi mức độ đau trong và sau mổ.  
Hiệu qủa và tính an toàn trong mổ.  
Theo dõi phục hồi vận động chi dưới sau  
mổ.  
Mức độ giảm đau sau gây tê thần kinh “3  
trong 1”.  
142/162 BN đạt điểm 0 (87,65%) và 15/162  
BN đat điểm 1 (9,25%) theo thang điểm EVS.  
Theo dõi diễn tiến bệnh lý tim mạch và hô  
hấp kèm theo sau mổ.  
Thời gian thực hiện kỹ thuật CSE và thời gian  
mổ.  
- Thời gian thực hiện kỹ thuật CSE trung  
bình 4,75± 0,46 phút.  
Phương pháp thống kê  
Sử dụng phép kiểm định trung bình và độ  
lệch chuẩn, phép kiểm T-Student’s phép kiểm  
÷2, phép kiểm Fisher.  
286  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
- Thời gian phẫu thuật trung bình 83 ± 11,46  
phút.  
Thay đổi tri giác của BN trong mổ.  
Với 161/162 BN: tốt (tỉnh táo hoàn toàn hoặc  
ngủ nhưng gọi dậy dễ dàng), đạt tỷ lệ 99,38%.  
Mức độ vô cảm trong mổ.  
Hiệu qủa và tính an toàn sau mổ trong vòng  
24 giờ.  
Mức độ giảm đau 24 giờ sau mổ theo thang điểm  
Bảng 2: Mức độ vô cảm trong mổ.  
Mức độ vô cảm  
Không đau  
Đau ít  
Số BN  
161  
1
Tỷ lệ %  
99,38  
0,62  
EVS.  
Bảng 5: Mức độ giảm đau sau mổ theo thang điểm  
EVS.  
Tổng số  
162  
100  
Điểm  
Số BN  
Tỷ lệ %  
98,76  
1,24  
0
Diễn biến mạch và huyết áp trong mổ.  
Bảng 3: Diễn biến về mạch và huyết áp trong mổ.  
0
1
2
3
160  
2
0
Thông Mạch (lần/phút) HATT (mmHg)  
số  
HATTr  
0
0
(mmHg)  
Trị số trung bình Trị số trung  
bình ± ĐLC  
Thời gian phục hồi vận động chi dưới sau  
mổ: trung bình 5 phút chiếm tỷ lệ 96,91%.  
Thời  
điểm  
Trị số trung  
bình ± ĐLC  
± ĐLC  
Diễn biến của bệnh tim mạch và hô hấp  
sau mổ.  
Bệnh mạch vành thay đổi sau mổ  
12 giờ, 24 giờ, 48 giờ và 1 tuần.  
Bảng 6: Bệnh mạch vành thay đổi sau mổ.  
Thời điểm  
T1  
77,86 ± 7,62 146,40 ± 16,13 74,20 ± 7,54  
77,40± 7,54 146,58 ± 16,08 74,59 ± 7,89  
T2  
T3  
T4  
T5  
T6  
T7  
P
77,33 ± 7,29 148,62 ± 15,81 73,34 ± 7,13  
76,92 ± 7,50 146,96 ± 15,83 74,27 ± 7,89  
77,84 ± 7,61 147,11 ± 16,06 73,58 ± 7,60  
78,08 ± 7,58 146,99 ± 16,29 74,04 ± 7,69  
77,06 ± 7,58 147,03 ± 15,78 74,49 ± 7,64  
12 giờ  
24 giờ  
48 giờ  
1 tuần  
Thông số  
> 0,05  
> 0,05  
> 0,05  
82 BN  
82 BN  
0 BN  
(0%)  
0 BN  
(0%)  
Không thay  
T1: BN đến phòng mổ. T2: Trước khi thực hiện kỹ thuật  
CSE. T3: sau khi thực hiện kỹ thuật CSE. T4: Thời điểm  
đặt tư thế BN để phẫu thuật. T5: Lúc rạch da. T6: Lúc  
cắt chỏm xương đùi để tạo khớp giả. T7: Cuối cuộc mổ.  
đổi  
(62,12%) (62,12%)  
50 BN 50 BN  
130 BN  
131 BN  
Tốt hơn  
(37,87%) (37,87%) (98,48%) (99,24%)  
0 BN  
(0%)  
0 BN  
(0%)  
2 BN  
1 BN  
Nặng hơn  
Diễn biến nhịp thở và SpO2 trong mổ  
(1,51%)  
< 0,001  
(0,75%)  
< 0,001  
P
< 0,001  
< 0,001  
Bảng 4: Diễn biến về nhịp thở và SpO2 trong mổ.  
Thông số  
SpO2 (%)  
Trị số trung bình  
± ĐLC  
Nhịp thở (lần/phút)  
Trị số trung bình  
± ĐLC  
Bệnh THA thay đổi sau mổ so với trước mổ  
Bảng 7: Bệnh tăng huyết áp thay đổi sau mổ.  
Thời điểm  
Thời điểm  
T1  
T2  
T3  
T4  
T5  
T6  
T7  
P
98,31 ± 1,33  
98,29 ± 1,35  
97,45 ± 2,23  
97,62 ± 1,90  
98,09 ± 1,39  
98,15 ± 1,27  
97,80 ± 1,66  
> 0,05  
20,09 ± 1,78  
19,45 ± 2,07  
19,06 ± 2,05  
19,38 ± 2,77  
18,87 ± 1,97  
19,19 ± 1,99  
19,32 ± 2,19  
> 0,05  
12giờ  
24 giờ  
48 giờ  
1 tuần  
Thông số  
121 BN 122 BN 124BN 124 BN  
(96,8%) (97,60%) (99,2%) (99,2%)  
Chấp nhân  
3 BN  
1 BN  
1 BN  
Không chấp  
nhận  
4 BN  
(3,2%)  
(2,4%)  
(0,8%)  
(0,8%)  
P
< 0,001 < 0,001 < 0,001 < 0,001  
* Các chữ viết tắt như bảng 3  
287  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
Thông số  
Thời điểm  
SpO2 (%)  
Nhịp thở (lần/phút)  
Những thay đổi bệnh phổi mạn tính sau mổ so  
với trước mổ.  
Bảng 8: Diễn tiến bệnh phổi mạn tính sau mổ.  
H4  
H5  
97,53 ± 1,69  
97,84 ± 0,91  
98,26 ± 1,26  
98,13 ± 1,51  
97,89 ± 1,58  
98,25 ± 1,17  
97,86 ± 0,93  
96,81 ± 0,89  
98,84 ± 1,54  
97,82 ± 0,91  
98,11 ± 1,38  
> 0,05  
20,19 ± 1,98  
19,95 ± 2,40  
20,28 ± 2,27  
19,65 ± 2,42  
20,51 ± 2,04  
20,90 ± 1,91  
20,22 ± 2,35  
19,70 ± 2,01  
20,06 ± 1,95  
19,68 ± 2,14  
20,59 ± 1,97  
> 0,05  
Thời điểm  
H6  
12  
24  
48  
> 1 tuần  
Thông số  
H7  
34 BN  
6 BN  
0 BN  
(0%)  
0 BN  
(0%)  
H8  
Không thay đổi  
(42,5%) (7,5%)  
45 BN 73BN  
H9  
79BN  
79BN  
Tốt hơn  
H10  
H11  
H12  
H13  
H14  
P
(56,25%) (91,25%) (98,75%) (98,75%)  
1 BN  
(1,25%) (1,25%) (1,25%)  
< 0,001 < 0,001 < 0,001 < 0,001  
1 BN  
1BN  
Nặng hơn: suy hô 1 BN  
hấp  
(1,25%)  
P
Diễn biến về huyết động, hô hấp và tri giác  
sau mổ 24 giờ.  
Diễn biến mạch và huyết áp sau mổ 24 giờ.  
Các từ viết tắt như bảng 3.28.  
Diễn biến tri giác sau mổ.  
Bảng 9: Diễn biến mạch và huyết áp sau mổ.  
BN tỉnh táo hoàn toàn hoặc ngủ nhẹ khi gọi  
tỉnh ngay sau mổ chiếm tỷ lệ 96,29%.  
Thông số  
Thời điểm  
Mạch  
(lần/phút)  
HATT (mmH)  
HATTr  
(mmHg)  
Liều lượng thuốc sử dụng trong kỹ thuật CSE.  
Bupivaciane sử dụng tiêm vào khoang dưới  
nhện bao gồm:  
H0  
H1  
76,75 ± 6,66 147,01 ± 19,26 74,68 ± 7,84  
76,55 ± 6,75 147,94 ± 18,57 74,91 ± 7,99  
76,96 ± 6,27 146,36 ± 17,84 73,46 ± 6,92  
77,04 ± 6,50 145,48 ± 19,77 74,22 ± 7,62  
76,78 ± 6,45 143,01 ± 17,23 73,35 ± 6,88  
77,38 ± 6,11 142,80 ± 18,01 73,99 ± 6,92  
77,08 ± 6,08 146,58 ± 20,01 75,65 ± 7,18  
76,92 ± 6,40 142,16 ± 18,01 75,18 ± 7,86  
76,01 ± 5,83 142,08 ± 18,43 73,35 ± 7,00  
75,59 ± 6,11 141,09 ± 17,22 73,13 ± 6,75  
76,98 ± 6,45 142,77 ± 18,01 73,77 ± 5,82  
77,74 ± 6,46 146,57 ± 19,59 75,59 ± 7,13  
76,70 ± 6,02 144,31 ± 18,13 74,38 ± 7,40  
77,59 ± 6,19 145,74 ± 19,16 73,27 ± 6,63  
76,85 ± 5,57 146,17 ± 18,96 74,60 ± 7,55  
H2  
H3  
2mg có 17 BN (10,49%).  
3mg có 120 BN (74,07%).  
4mg có 10 BN (6,17%).  
H4  
H5  
H6  
H7  
5mg có 15 BN (9,25%).  
H8  
H9  
Các tai biến và biến chứng.  
Trong mổ gặp 1 BN (0,61%) tụt huyết áp <  
10% so với huyết áp ban đầu  
H10  
H11  
H12  
H13  
H14  
P
Sau mổ: tụt huyết áp 2 BN (1,23%); suy hô  
hấp 1 BN (0,61%).  
> 0,05  
> 0,05  
> 0,05  
Thời gian nằm hồi sức và nằm viện.  
Thời gian nằm hồi sức trung bình 7,26 ± 1,04  
giờ và nằm viện trung bình 8,25 ± 1,45 ngày  
- Từ H0 đến H3: theo dõi mỗi 20 phút trong một giờ  
đầu sau mổ. - Từ H4 – H9: theo dõi mỗi 30 phút trong 3  
giờ kế tiếp sau mổ. - Từ H10 – H13: Theo dõi mỗi 30  
phút, lấy giá trị trung bình mỗi 4 giờ trong 20 giờ tiếp  
theo sau mổ (H10: sau 8 giờ, H11: sau 12 giờ, H12: sau  
16 giờ, H13: sau 20 giờ, H14: sau 24 giờ)).  
BÀN LUẬN  
Bàn luận chung  
Phân bố tuổi, giới  
Trong nghiên cứu chọn mẫu bệnh nhân có  
độ tuổi từ 70 trở lên. Trong đó tuổi cao nhất mà  
trong nghiên cứu gặp là 98.  
Diễn biến hô hấp sau mổ (nhịp thở và SpO2)  
Bảng 10: Diễn biến nhịp thở và SpO2 sau mổ.  
Thông số  
SpO2 (%)  
Nhịp thở (lần/phút)  
Thời điểm  
H0  
H1  
H2  
H3  
98,93 ± 0,83  
97,66 ± 1,79  
97,80 ± 1,71  
97,98 ± 1,90  
20,77 ± 1,88  
20,07 ± 2,18  
19,81 ± 2,42  
20,14 ± 2,43  
Lứa tuổi từ 70 đến 80 gặp nhiều nhất trong  
nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 45,67%.  
288  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
Trong nghiên cứu có 117/162 là bệnh nhân  
nữ chiếm tỷ lệ 72,22%, cao hơn nam giới. Kết  
quả trên đây cũng phù hợp với nhiều tác giả  
trong và ngoài nước . Tỷ lệ gãy cổ xương đùi  
tăng theo tuổi thọ của cộng đồng, ngày càng trở  
thành mối quan tâm đối với gia đình.  
Hiệu quả đạt được và tính an toàn của phương  
pháp CSE.  
Hiệu quả và tính an toàn trong mổ.  
(13)  
Hiệu quả của phương pháp gây tê thần kinh đùi.  
Trong nghiên cứu được tiến hành kỹ thuật  
gây tê thần kinh “3 trong 1” bằng Lidocaine 1%  
với thể tích từ 20ml đến 30ml, với kết quả giảm  
đau tốt đạt được theo thang điểm EVS có 142  
BN ở mức điểm 0 (87,65%). Sau khi gây tê “3  
trong 1” 5 phút, bệnh nhân giảm đau nhiều vùng  
ổ gãy, nhờ đó vận chuyển bệnh nhân lên bàn mổ  
và đặt tư thế nằm nghiêng, bệnh nhân không  
đau và hợp tác tốt, giúp tác giả thực hiện kỹ  
Tiền sử bệnh lý kèm theo của bệnh nhân trước mổ.  
Tiền sử bệnh lý trước khi bị gãy cổ xương đùi.  
Ở một người cao tuổi (tuổi trên 70), nhiều  
chức năng sinh lý bị rối loạn, tổn thương, nhưng  
nhiều nhất và phổ biến nhất là bệnh lý tim  
mạch, hô hấp.  
(5)  
Trên 162 bệnh nhân đã nghiên cứu (bảng 1),  
có tiền sử bệnh lý tim mạch chiếm đa số: tăng  
huyết áp 86 trường hợp cao nhất chiếm tỷ lệ  
53%. Tiếp theo là bệnh phổi mạn tính có 80  
trường hợp và chiếm tỷ lệ 49,38%.  
thuật CSE được thuận lợi và an toàn .  
Thời gian thực hiện kỹ thuật CSE.  
Theo Coates M và cộng sự, trong nghiên cứu  
cho kết quả: thời gian thực hiên kỹ thuật CSE  
chung cho các bệnh nhân trung bình 4,85 ± 1.02  
phút. Kết quả trong nghiên cứu này, thời gian  
thực hiện kỹ thuật CSE trung bình là 4,75 ± 0,46  
phút, kết quả cũng tương đương với Nguyễn  
Bệnh lý kèm theo và chuẩn bị bệnh nhân trước  
mổ.  
Ổn định về bệnh lý tim mạch.  
(6)  
Thành Vinh .  
Trong số BN bị bệnh mạch vành trước mổ  
được chẩn đoán sớm và hầu hết đáp ứng với  
điều trị bằng nhóm Nitrates (Nitroglycerin,  
Isosorbide).  
Mức độ vô cảm trong mổ.  
Đau không những là một sang chấn tâm lý,  
đau còn gây rối loạn cho nhiều chức năng: tim  
mạch, hô hấp, nội tiết, tiêu hóa, bài tiết thận,  
chuyển hóa, và trong quá trình hình thành hội  
chứng viêm, giải phóng nhiều chất trung gian  
hóa học có độc tính. Trong nghiên cứu này cho  
thấy, mức độ vô cảm trong phẫu thuật hầu như  
tuyệt đối với tỷ lệ 99,43% đạt điểm 0 (theo thang  
Bệnh tăng huyết áp trước mổ được chẩn  
đoán theo tiêu chuẩn của chuyên khoa tim  
mạch, trong số này có đến 53% đã có tiền sử  
THA trước khi bị tổn thương khớp háng và  
được xử trí điều trị ngay sau khi bệnh nhân  
nhập viện bằng nhóm thuốc lợi tiểu  
Thiazid/giống Thiazid, nhóm ức chế Canxi, các  
điểm EVS), kết quả cao hơn Nguyễn Thành  
(1,6)  
Vinh, Coates M  
.
Hiệu quả trên huyết động và hô hấp của bệnh  
nhân trong mổ.  
(4)  
dẫn chất Nitrates .  
Qua kết qủa thu được tại bảng 3 và 4, mạch,  
huyết áp, nhịp thở, SpO2 của bệnh nhân diễn  
biến ổn định ở các thời điểm: bệnh nhân vào  
phòng mổ, khi đặt BN ở tư thế nằm nghiêng,  
trong và sau khi thực hiện kỹ thuật CSE và nhất  
là vào các thời điểm thao tác phẫu thuật gây  
đau, lúc rạch da, trong lúc thao tác cắt chỏm  
xương, và lắp đặt khớp giả. Các thông số không  
Bệnh lý viêm phế quản phổi.  
Viêm phổi là một biến chứng thường gặp, xuất  
hiện sớm nhất sau chấn thương, và càng sớm hơn  
khi bệnh nhân có tiền sử bệnh phổi mạn. Trong 115  
bệnh nhân (70,98%) viêm phổi trước mổ, chiếm  
(10)  
49,38% có tiền sử bệnh phổi mạn .  
289  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
khác biệt nhau có ý nghĩa ở các thời điểm đã nêu  
ở trên. Đồng thời tri giác của BN trong mổ đều  
đạt tiêu chuẩn tốt (tỉnh táo hoàn toàn hoặc ngủ  
êm và thức dậy dễ dàng).  
của gây tê NMC, làm giảm co thắt động mạch  
vành tim thứ phát, dẫn đến hạn chế hoại tử và  
giảm kích thước ổ nhồi máu cơ tim, đoạn S-T  
không thay đổi trên ECG ở bệnh nhân có thiếu  
máu cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim trước mổ.  
Kiểm soát đau sau mổ tốt bằng đường NMC  
có thể là cứu cánh cho sự ổn định huyết áp đối  
với nhóm bệnh nhân có bệnh tăng huyết áp. Ở  
thời điểm 24 giờ sau mổ với tác dụng của điều  
trị nội khoa huyết áp trong giới hạn chấp nhận  
được đạt tỷ lệ từ 97,6% đến 99,2% (bảng 7).  
(11)  
Theo Raymon Wee-Lip Goy và cộng sự ,  
trong nghiên cứu của mình tác giả đã sử dụng  
phương pháp CSE với Bupivacaine đẳng trọng  
và Fentanyl, kết quả ghi nhận huyết áp ổn định  
đạt tỷ lệ 92,5%, ít xảy ra suy hô hấp trong mổ.  
Hiệu quả và tính an toàn sau mổ.  
Mức độ giảm đau của bệnh nhân 24 giờ sau mổ.  
Tác động trên bệnh phổi mạn tính.  
(9)  
Theo Palmer CM , sử dụng kỹ thuật CSE  
Kỹ thuật CSE bằng Bupivacaine đẳng trọng  
liều thấp phối hợp với Sufenatnil thể hiện được  
tính hơn hẳn so với các phương pháp vô cảm  
với Bupivacaine kết hợp với Fentannyl liều 4  
mcg/ml, hoặc Sufentanil liều 3mcg/ml cho vô  
cảm trong mổ và giảm đau sau mổ với nhiều  
thuận lợi vượt trội hơn phương pháp giảm đau  
toàn thân khác: sau mổ bệnh nhân có thể đi lại  
sớm ngay cả khi đang còn ống thông đặt trong  
khoang NMC. Kết quả trong nghiên cứu với  
mức độ giảm đau tốt sau mổ đạt 98,%.  
(8)  
khác . Kết qủa nghiên cứu: sau mổ từ 24 đến  
48giờ, diễn biến về hô hấp trên lâm sàng cũng  
như trên phim phổi và các xét nghiệm khá dần  
lên từ 91,25% đến 98,75% ở nhóm bệnh nhân có  
bệnh phổi mạn tính (bảng 8).  
Diễn biến tình trạng huyết động, hô hấp và tri giác  
24 giờ sau mổ.  
Thời gian phục hồi vận động chi dưới sớm sau mổ.  
Thời gian phục hồi vận động chi dưới  
trong nhóm nghiên cứu chỉ trong vòng 5 phút  
sau mổ là nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 96,91%. Thời  
gian phục hồi vận động chi dưới sớm sẽ tránh  
được nhiều biến chứng sau mổ. Theo Tạ Đức  
Theo kết qủa nghiên cứu của Shir M và cộng  
sự , tê tủy sống có tỷ lệ tụt huyết áp cao hơn  
(12)  
nhiều so với sử dụng kỹ thuật CSE, sau mổ tỷ lệ  
tụt huyết áp từ 0,5-5%, theo Palmer CM, truyền  
Sufentanil vào khoang dưới màng nhện 5ml/giờ  
để giảm đau sau mổ đã ghi nhận, hầu hết bệnh  
nhân bị suy hô hấp, Theo O’Keeffe ST và cộng  
(13)  
Luận : thời gian liệt vận động sau mổ trung  
bình hơn 60 phút.  
(8)  
sự , đánh giá tri giác sau mổ ở người cao tuổi,  
Tác động của phương pháp CSE trên bệnh tim mạch.  
mê sảng sau mổ chiếm tỷ lệ từ 0,5 - 2%.  
Đối với bệnh nhân cao tuổi, hội chứng  
mạch vành cấp thường xảy ra, biểu hiện dưới  
dạng cơn đau thắt ngực không ổn định và nhồi  
máu cơ tim không có biểu hiện đoạn S-T chênh  
trên ECG. Kết quả trong nghiên cứu: từ thời  
điểm 24 giờ đến trong vòng 1 tuần lễ sau mổ,  
hầu hết các bệnh nhân vốn đã bị bệnh mạch  
vành trước mổ đều ổn định và tiến triển tốt,  
biểu hiện trên lâm sàng, ECG, siêu âm tim và  
các xét nghiệm chuyên biệt, chiếm tỷ lệ 98,48%  
đến 99,24% (bảng 6). Theo Eldor J và một số  
Kết quả tại bảng 8 và 9: huyết áp tâm thu,  
huyết áp tâm trương và mạch, nhịp thở, SpO2  
của bệnh nhân trong các thời điểm mỗi 20  
phút trong giờ đầu, và mỗi 30 phút trong  
những giờ kế tiếp theo dõi trong 24 giờ. Gía trị  
nhịp tim và huyết áp ở các thời điểm theo dõi  
không khác biệt nhau có ý nghĩa về mặt thống  
kê, BN tỉnh táo chiếm tỷ lệ 96,29%. Như vậy về  
huyết động, hô hấp, tri giác của BN sau mổ  
diễn biến khá tốt. Nhận định này cũng phù  
hợp với đa số các tác giả.  
(2)  
tác giả khác đã chứng minh: ức chế giao cảm  
290  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
đoạn hậu phẫu sớm với tỷ lệ 1,23%, suy hô hấp  
sau mổ do bội nhiễm phổi chiếm tỷ lệ 0,61%.  
Những biến chứng muộn do gây tê tủy sống  
đều không xảy ra trong nghiên cứu này.  
Thuốc và liều lượng thuốc sử dụng trong kỹ  
thuật CSE.  
Tại sao sử dụng Bupivacaine đẳng trọng trong kỹ  
thuật CSE?  
KẾT LUẬN  
Để ít phải thay đổi tư thế bệnh nhân sau  
khi thực hiện kỹ thuật CSE, nhằm giảm thiểu  
rối loạn về huyết động và hô hấp sau khi gây  
tê, thuốc tê tiêm vào khoang dưới màng nhện  
phải đảm bảo không hoặc ít lan rộng theo  
khoang tủy về phía trên đầu hoặc về phía dưới  
chân của bệnh nhân, mà chỉ lan tỏa trong giới  
hạn vùng khoang tủy nơi tiêm thuốc mà thôi.  
Bupivacaine đẳng trọng có tỷ trọng tương  
đương với tỷ trọng của dịch não tủy đã đáp  
ứng được yêu cầu nêu trên.  
Qua nghiên cứu 162 bệnh nhân mổ thay  
khớp háng ở người cao tuổi bị gãy cổ xương đùi,  
với phương pháp vô cảm bằng kỹ thuật CSE sử  
dụng Bupivacaine đẳng trọng phối hợp  
Sufentanil có các kết luận sau:  
1. Phương pháp CSE đã tạo ra một tình  
trạng vô cảm tốt trong mổ với tỷ lệ 99,38%, và  
kiểm soát đau tốt kéo dài sau mổ với tỷ lệ  
98,76%, đồng thời ổn định về huyết động và tri  
giác trong mổ cũng như sau mổ.  
Tại sao sử dụng liều thấp thuốc tê tiêm vào tuỷ sống  
trong kỹ thuật CSE ?  
2. Với phương pháp vô cảm nêu trên:  
- Có tác động tốt trên hệ thống hô hấp và  
tuần hoàn, chính vì thế đã góp phần tạo diễn  
biến tốt trong điều trị các bệnh lý tim mạch, hô  
hấp kèm theo: bệnh mạch vành tiến triển tốt sau  
mổ chiếm tỷ lệ 99,24%, bệnh tăng huyết áp diễn  
biến tốt (chỉ số huyết áp chấp nhận được) sau  
mổ với tỷ lệ 99,38%, và bệnh phổi mạn tính diễn  
biến tốt sau mổ chiếm tỷ lệ 98,75%.  
Sự gia tăng áp lực trong khoang ngoài màng  
cứng đã làm gia tăng áp lực trong khoang dưới  
màng nhện và tăng mức phong bế của thuốc tê  
tiêm vào khoang dưới màng nhện. Ở người cao  
tuổi, xương bị loãng, các đốt sống bị lún xẹp, các  
dây chằng bị xơ hóa và dính vào nhau, làm cho  
khoang dưới màng nhện bị hẹp hơn so với  
người trẻ tuổi, áp lực trong khoang dưới màng  
nhện gia tăng đáng kể. Mặt khác Sufentanil là  
một trong những thuốc thuộc dòng họ  
Morphine tan trong dầu, có tác dụng và đào thải  
nhanh, cường độ tác dụng mạnh. Kết quả trong  
nghiên cứu: Bupivacaine đẳng trọng được sử  
dụng tiêm vào khoang dưới màng nhện với liều  
lượng từ 2mg đến 5mg, trong đó liều 3mg chiếm  
tỷ lệ cao nhất (74,07%), Sufentanil sử dụng cho  
tất cả các bệnh nhân là 5mcg.  
- Ít xảy ra tai biến, biến chứng do gây tê  
trong và sau mổ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1
Coates M (1982), “Combined subarachnoid and epidural  
techniques. A single technique for surgery of the hip and lower  
limb”, Anaesthesia, (37), pp 89-90.  
2
3
Eldor J (1988), “Combined spinal - epidural needle”, Reg  
Anesth, (15), pp 89-90.  
Fournier R, Van Gessel E, Weber A et al (2000), “A comparison  
of intrathecal analgesia with fentanyl or sufentanil after total  
hip replacement”, Anesth Analg, (90), pp 918-922.  
Khuyến cáo về các bệnh lý tim mạch & chuyển hóa giai đoạn  
2006-2010. (2006). Hội Tim mạch học Việt nam, nhà xuất bản Y  
học chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1-181.  
Nguyễn Hữu Tú, Nguyễn Quang Huệ (2008). “Gây tê TK đùi  
3/1 bằng hỗn hợp Bupivacain-Adrenalin với thể tích lớn cải  
thiện tác dụng giảm đau sau mổ vùng đùi và khớp gối”. Hội  
Gây mê Hồi sức Việt Nam, tr. 1-5.  
4
5
Các tai biến và biến chứng trong và sau mổ.  
Trong nghiên cứu gặp số BN tụt huyết áp  
dưới 10% so với huyết áp ban đầu của bệnh  
nhân trong mổ chiếm tỷ lệ 0,61%, được xử trí  
đơn giản bằng truyền 200ml dung dịch  
Gelafundin 4%, chỉ trong vòng khoảng 5 phút là  
huyết áp ổn định và duy trì hết 500ml dung dịch  
trên. Sau mổ gặp tỷ lệ các biến chứng trong  
nhóm BN nghiên cứu: tụt huyết áp trong giai  
6
7
Nguyễn Hồng Sơn, Trần Thị Phượng (2005). “Gây tê khoang  
xương cùng phối hợp gây mê cho phẫu thuật chỉnh hình chi  
dưới”. Y học TP.HCM, tập 9 (1), tr. 96-199.  
Nguyễn Thanh Vinh, Nguyễn Văn Chừng (2006). “Gây tê tuỷ  
sống và gây tê ngoài màng cứng phối hợp để giảm đau trong  
và sau mổ”. Y học TP.HCM, tập 10 (1), tr. 51-57. Nguyễn Văn  
Chừng,  
291  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011  
Nghiên cứu Y học  
8
9
O’Keeffe ST, Ni Chonchubair  
A
(1994), “Postoperative  
12 Shir M (2004), “Sensorimotor Anesthesia and Hypotension  
after subarachnoid block: Combined Spinal - Epidural versus  
Single -Shot Spinal technique”, Anesth Analg, (98), pp 491-496.  
13 Tạ Đức Luận, Nguyễn Văn Chừng (2008). “Đánh giá hiệu quả  
của gây tê tuỷ sống bằng phối hợp Bupivacain đẳng trọng và  
Fentanyl trong phẫu thuật thay chỏm xương đùi”. Y học  
TP.HCM, tập 12 (1), tr. 14-20.  
14 Vũ Văn Dũng, Nguyễn Văn Chừng (2005). “Gây mê Hồi sức  
trong phẫu thuật ở người cao tuổi”. Y học TP.HCM, tập 9 (1),  
tr. 1-15.  
delirium in the elderly”, Br J Aneasth, (73), pp 673-675.  
Palmer CM (2001), “Continuous Intrathecal sufentanil for  
Postoperative Analgesia”, Anesth Analg, (92), pp 244-5.  
10 Paranjothi S and Schuller D (2001), “Pulmonary Disease”, The  
Washington Manual Medical Therapeutics, 30th Ed, Lippincott  
Williams and Wilkins, Washington University School of  
Medicine USA, (10), pp 216-240.  
11 Raymon Wee - Lip Goy, Alex Tiong – Heng Sia (2004),  
“Sensori-motor  
anesthesia  
and  
hypotension  
after  
subarachnoid block: Combined spinal – epidural versus single  
– shot spinal technique”, Anesth Analg, pp 491-492.  
292  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
pdf 9 trang yennguyen 16280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả phương pháp kết hợp gây tê tủy sống ngoài màng cứng với Bupivacaine đẳng trọng và Sufentanil để mổ thay khớp háng người cao tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_phuong_phap_ket_hop_gay_te_tuy_song_ngoai.pdf