Đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh nhân ung thư đại - trực tràng di căn có đột biến RAS, BRAF

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG NHÓM BỆNH NHÂN  
UNG THƯ ĐẠI - TRỰC TRÀNG DI CĂN CÓ ĐỘT BIẾN RAS, BRAF  
3
1
2
PHẠM HÙNG CƯỜNG , THÁI ANH TÚ , NGUYỄN THỊ THANH MAI  
TÓM TẮT  
Mục đích: Khảo sát đặc điểm nhóm bệnh nhân ung thư đại - trực tràng di căn có đột biến RAS/BRAF  
tại bệnh viện Ung Bướu TP. HCM.  
Bệnh nhân và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca 63 bệnh nhân UT đại - trực tràng di căn  
được làm xét nghiệm đột biến gen KRAS; NRAS; BRAF tại bệnh viện Ung Bướu TP.HCM. Thời gian sống  
còn toàn bộ của các bệnh nhân được ước tính bằng phương pháp Kaplan-Meier.  
Kết quả:  
+ Tỉ lệ đột biến gen KRAS; NRAS; BRAF lần lượt là 36,5%; 4,8%; 1,6%.  
+ Các bệnh nhân có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF không khác so với các bệnh nhân không có  
đột biến về tuổi, giới, vị trí bướu nguyên phát, grad mô học, loại giải phẫu bệnh và cơ quan di căn xa.  
+ Các bệnh nhân UTĐTT di căn không có đột biến gen RAS/BRAF có thời gian sống còn toàn bộ 21-  
33 tháng, lâu hơn đáng kể so với 2 - 17 tháng của các bệnh nhân có đột biến (p < 0,001).  
Kết luận: Các bướu có đột biến RAS/BRAF không có sự khác biệt về lâm sàng so với bướu không có  
đột biến. Tiên lượng của nhóm bệnh nhân UT đại - trực tràng di căn có đột biến gen RAS/BRAF xấu hơn  
so với nhóm bệnh nhân không có đột biến gen, không phụ thuộc vào việc có điều trị cetuximab hay  
không.  
Từ khóa: Ung thư đại trực tràng di căn; đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF.  
như bevacizumab luôn giúp cải thiện trung vị sống  
còn toàn bộ; tuy nhiên, hiệu quả của các thuốc ức  
chế thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) như  
cetuximab lại chỉ ghi nhận được ở các bệnh nhân  
không có đột biến gen RAS hoặc BRAF[5].  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ung thư đại - trực tràng (UTĐTT) là một trong  
những ung thư (UT) thường gặp nhất ở cả hai giới  
trên toàn cầu và tại Việt Nam. Khoảng 20% bệnh  
nhân UTĐTT có di căn xa ở thời điểm chẩn đoán và  
khoảng 20% bệnh nhân còn lại sẽ xuất hiện di căn  
xa trong thời gian theo dõi[2,5]. Các bệnh nhân  
UTĐTT di căn có thời gian sống còn toàn bộ 5 năm  
chỉ < 10%. Trong vài thập niên gần đây, các thuốc  
nhắm trúng đích kết hợp với hóa trị đã được dùng  
điều trị các bệnh nhân UTĐTT di căn ngay từ bước  
một vì đã giúp cải thiện khả năng sống còn rõ rệt.  
Các nghiên cứu cho thấy việc dùng thêm thuốc ức  
chế thụ thể yếu tố tăng trưởng nội mạch (VEGF)  
Tại bệnh viện Ung Bướu TPHCM, xét nghiệm  
bộ gen KRAS, NRAS, BRAF đã được thực hiện  
trước khi điều trị các bệnh nhân UTĐTT di căn từ  
cuối năm 2016. Từ thời điểm đó, chưa có nghiên  
cứu nào khảo sát đặc điểm lâm sàng, cũng như  
đánh giá sống còn toàn bộ nhóm bệnh nhân UTĐTT  
di căn có đột biến gen RAS/BRAF tại bệnh viện Ung  
Bướu TPHCM. Do vậy, chúng tôi thực hiện công  
trình này nhằm mục tiêu: Khảo sát đặc điểm nhóm  
Ngày nhận bài: 07/10/2020  
Ngày phản biện: 03/11/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020  
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Thị Thanh Mai  
1 PGS.TS.BSCKII. Phó Trưởng Bộ môn Ung thư - ĐHYD TP. HCM  
Trưởng Khoa Ngoại ngực, bụng - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
2 ThS.BS. Phó Trưởng Khoa Giải phẫu bệnh, Điều hành Khoa - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
3 ThS.BS. Trung tâm Ung Bướu Chợ Rẫy - Bệnh viện Chợ Rẫy  
249  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
bệnh nhân ung thư đại - trực tràng di căn có đột biến  
RAS/BRAF tại bệnh viện Ung Bướu TP. HCM.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Mẫu bệnh phẩm không đủ số lượng DNA.  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Có ung thư khác đi kèm.  
Phương pháp nghiên cứu  
Hồi cứu mô tả loạt ca.  
Các bệnh nhân UTĐTT di căn có kết quả giải  
phẫu bệnh carcinôm tuyến, carcinôm tiết nhầy hoặc  
carcinôm tế bào nhẫn có làm xét nghiệm đột biến  
gen KRAS, NRAS, BRAF tại khoa Giải phẫu bệnh và  
điều trị tại khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TPHCM  
từ 01/01/2017 đến 31/12/2018.  
Số liệu được ghi nhận vào phiếu thu thập số liệu.  
Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0.  
Giá trị p < 0,05 được chọn là có ý nghĩa thống  
kê, với độ tin cậy 95%.  
Tiêu chuẩn nhận bệnh  
Mối tương quan giữa hai biến số định tính được  
kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương (2).  
Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.  
Ung thư đại trực tràng di căn.  
Thời gian sống còn toàn bộ được tính bằng  
phương pháp Kaplan - Meier. Dùng phép kiểm  
Log - rank để so sánh các kiểu phân bố thời gian  
sống còn theo các biến số.  
Có kết quả xét nghiệm gen KRAS, NRAS,  
BRAF.  
KẾT QUẢ  
Đặc điểm nhóm bệnh nhân khảo sát  
Mẫu nghiên cứu gồm 63 bệnh nhân. Đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân khảo sát được trình bày  
trong Bảng 1.  
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh nhân khảo sát  
Tổng (63)  
KRAS 12/13  
(22)  
KRAS 61/146 hoặc NRAS  
(4)  
BRAF  
(1)  
Không đột biến  
(36)  
p
Tuổi  
< 50  
≥ 50  
Giới  
0,466  
23  
40  
9
2
2
1
0
11  
25  
13  
0,778  
0,616  
Nam  
33  
30  
13  
9
2
2
1
0
17  
19  
Nữ  
Bướu nguyên phát  
Đại tràng bên P  
Đại tràng bên T  
Trực tràng  
13  
25  
25  
5 (23%)  
1 (25%)  
0
1
0
7
6
1
2
17  
12  
11  
Grad mô học  
Grad 1-2  
0,317  
1,000  
52  
11  
18  
4
2
2
1
0
31  
5
Grad 3  
Giải phẫu bệnh  
Carcinôm tuyến  
Carcinôm tuyến nhày  
Carcinôm tế bào nhẫn  
Di căn xa (*)  
Gan  
59  
2
20  
1
4
0
0
1
0
0
34  
1
2
1
1
0,687  
36  
17  
13 (59%)  
6 (27%)  
3 (75%)  
2 (50%)  
0
0
20  
9
Phổi  
250  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Phúc mạc  
Hạch  
16  
31  
12  
8 (36%)  
7 (32%)  
2
0
2 (50%)  
1
1 (100%)  
1 (100%)  
0
7
21  
9
Khác  
(*): Một bệnh nhân có thể di căn xa nhiều cơ quan.  
Đột biến gen KRAS xảy ra với tỉ lệ là 36,5%. Trong đó, vị trí đột biến chủ yếu xảy ra ở codon 12/13  
(95,6%) và 1 trường hợp đột biến tại codon 61 (4,4%). Tỉ lệ đột biến gen NRAS là 4,8%, với 2 trường hợp đột  
biến gen tại Q61X và 1 trường hợp đột biến gen ở G12X. Một trường hợp có đột biến gen BRAF tại  
V600E/E2D chiếm tỉ lệ 1,6%.  
Các bệnh nhân UTĐTT di căn có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF không khác so với các bệnh nhân  
không có đột biến về tuổi, giới, vị trí bướu nguyên phát, grad mô học, loại giải phẫu bệnh và cơ quan di căn xa  
(p > 0,05).  
Sống còn của nhóm bệnh nhân liên quan đến tình trạng đột biến gen  
Trong 63 trường hợp khảo sát có 27 trường hợp có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF. Trong thời gian  
theo dõi trung bình 11 (± 6) tháng, có 12 trường hợp tử vong và 15 trường hợp còn sống, không có trường hợp  
mất dấu nào.  
Các bệnh nhân UTĐTT di căn không có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF có thời gian sống còn toàn bộ  
21-33 tháng, lâu hơn đáng kể so với 2-17 tháng của các bệnh nhân có đột biến (p < 0,001) (Biểu đồ 1).  
Các bệnh nhân có đột biến KRAS 12/13 và KRAS 61/146 hoặc NRAS có thời gian sống còn toàn bộ không  
khác biệt, 11 - 17 tháng và 15 tháng. Bệnh nhân có đột biến BRAF có thời gian sống còn toàn bộ thấp nhất  
(2 tháng).  
Biểu đồ 1. Sống còn toàn bộ của nhóm nghiên cứu  
Do các bệnh nhân UTĐTT di căn không có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF đáp ứng tốt với điều trị bằng  
các thuốc ức chế thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) như cetuximab, nên chúng tôi chỉ khảo sát các  
bệnh nhân không điều trị với thuốc cetuximab nhằm đánh giá xem đột biến gen RAS/BRAF có phải là yếu tố  
tiên lượng sống còn của các bệnh nhân UTĐTT di căn hay không. Kết quả được trình bày trong Biểu đồ 2, các  
bệnh nhân UTĐTT di căn không có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF (không điều trị cetuximab) có thời gian  
sống còn toàn bộ 19 - 28 tháng, lâu hơn đáng kể so với 2 - 17 tháng của các bệnh nhân có đột biến (p < 0,001)  
251  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Biểu đồ 2. Sống còn toàn bộ của nhóm nghiên cứu (các bệnh nhân không điều trị cetuximab)  
BÀN LUẬN  
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ đột biến gen KRAS,  
NRAS và BRAF trên các bệnh nhân UTĐTT di căn  
lần lượt là 36,5%, 4,8% và 1,6%. Kết quả này không  
khác biệt đáng kể so với y văn. Sự thay đổi về tỉ lệ  
đột biến gen KRAS, NRAS và BRAF trên các bệnh  
nhân UTĐTT thay đổi tuỳ theo dân tộc và tiêu chí  
Tỉ lệ đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF  
KRAS và NRAS (và cả HRAS) là các protein  
thuộc họ RAS, BRAF (và cả ARAF và CRAF) là các  
protein thuộc họ RAF. RAS và RAF là các protein  
trong đường dẫn truyền tín hiệu của thụ thể yếu tố  
tăng trưởng EGFR. Kích hoạt các đường dẫn truyền  
chọn lựa mẫu[3,6]  
.
Tình trạng đột biến gen RAS/BRAF trên bệnh  
nhân UTĐTT theo các nghiên cứu tại Việt Nam được  
trình bày trong Bảng 3.  
tín  
hiệu  
từ  
EGFR  
theo  
đường  
RAS/RAF/MAP/MEK/ERK hoặc PTEN/PI3K/AKT có  
vai trò quan trọng trong quá trình sinh ung và tiến  
triển bệnh của UTĐTT. Các đột biến gen KRAS,  
NRAS và BRAF làm rối loạn đường dẫn truyền tín  
hiệu từ EGFR do vậy có vai trò quan trọng trong quá  
trình hình thành, di căn của UTĐTT; cũng như cả  
trong việc điều trị loại UT này[5,11]. Trong các đột biến  
RAS, đột biến KRAS thường gặp nhất (85%), đột  
biến NRAS có trong 15% trường hợp. Đột biến gen  
KRAS xảy ra trên 44% bệnh nhân UTĐTT di căn với  
đa số ở các codons 12 và 13, hiếm gặp hơn ở các  
codon 61 và 146. Tỉ lệ đột biến gen BRAF khoảng  
10%, chủ yếu là đột biến V600E (85%)[5].  
Bảng 3. Tình trạng đột biến gen RAS/BRAF trên  
bệnh nhân UTĐTT theo các nghiên cứu tại Việt Nam  
Tác giả  
KRAS  
12/13  
KRAS hiếm  
NRAS  
BRAF  
LTN  
67 (31,9%)  
Sương[4]  
NTT Minh[7]  
16 (33,3%)  
1 KRAS 10  
(2,1%)  
0%  
VD Linh[9]  
NC này  
15 (32,6%)  
22 (36,5%)  
1 KRAS 61  
(1,6%)  
3
1
Theo Morris[8], khảo sát trên 484 bệnh nhân  
UTĐTT di căn tại Hoa Kỳ, tỉ lệ đột biến gen KRAS  
thường xảy ra ở các codons 12 và 13 là 47,7%; tỉ lệ  
đột biến gen KRAS ở codons 61/146, đột biến gen  
NRAS và BRAF lần lượt là 3%, 4,1% và 7,4%.  
(4,8%)  
(1,6%)  
Đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân có đột  
biến KRAS, NRAS, BRAF  
Theo Morris[8], không có sự khác biệt về giới và  
tuổi giữa các bệnh nhân UTĐTT di căn có đột biến  
gen KRAS và không đột biến. Các bệnh nhân có đột  
biến gen KRAS và NRAS không có sự khác biệt về  
vị trí bướu nguyên phát, grad mô học và loại giải  
phẫu bệnh so với các bệnh nhân không đột biến; tuy  
Theo Yokota[11], tại Nhật, tỉ lệ đột biến gen  
KRAS trên bệnh nhân UTĐTT là 30 - 42%, đột biến  
gen BRAF là 4,7%. Tác giả ghi nhận tỉ lệ đột biến  
gen BRAF tại các nước phương tây có cao hơn,  
10 - 20%.  
252  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
nhiên có di căn phổi nhiều hơn. Các bệnh nhân có  
đột biến gen BRAF thường gặp ở đại tràng bên phải  
và thường có loại giải phẫu bệnh là carcinôm tuyến  
nhày hơn.  
nhận có sự khác biệt về DFS và OS so với các bệnh  
nhân không có đột biến ở mọi giai đoạn bệnh.  
Theo Abubaker[1], nghiên cứu trên 285 trường  
hợp UTĐTT ở Malaysia năm 2009, ghi nhận đột biến  
gen KRAS ở codon 12 có tỉ lệ OS 5 năm thấp nhất  
(64,4%) so với nhóm có đột biến ở codon 13  
(75,8%) và nhóm không đột biến (78,2%) với  
p = 0,0025.  
Theo Bylsma[2], phân tích tổng hợp 44 nghiên  
cứu trên 15.981 bệnh nhân UTĐTT di căn, các bướu  
có đột biến KRAS và BRAF thường gặp ở đại tràng  
bên phải hơn so với các bướu không có đột biến, lần  
lượt là 46,3% và 16,3% so với 15,8% và 3,4%. Các  
bướu có đột biến NRAS không ghi nhận có sự khác  
biệt về vị trí bướu nguyên phát.  
Theo Yokota[11], giá trị tiên lượng của đột biến  
gen KRAS ở bệnh nhân UTĐTT vẫn là vấn đề còn  
tranh cãi. Nghiên cứu trên 229 bệnh nhân UTĐTT  
tiến triển và tái phát được hóa trị, tác giả ghi nhận  
OS của các bệnh nhân có đột biến KRAS 13 thấp  
hơn so với các bệnh nhân không có đột biến, nhưng  
lại không ghi nhận với các bệnh nhân có đột biến  
KRAS 12. Tuy nhiên, giá trị tiên lượng của đột biến  
gen BRAF ở bệnh nhân UTĐTT lại được xác nhận  
trong nhiều nghiên cứu. Theo các nghiên cứu  
CAIRO-2, CRYSTAL và OPUS các bệnh nhân  
UTĐTT di căn mang đột biến BRAF có DFS và OS  
thấp hơn các bệnh nhân không đột biến, cho dù có  
điều trị cetuximab hay không.  
Theo Yokota[11], đột biến BRAF thường xảy ra ở  
các bướu ở đại tràng bên phải, thường có giải phẫu  
bệnh là carcinôm tuyến nhày (60%) và thường hay  
di căn phúc mạc (60%). Các bướu có đột biến KRAS  
lại không ghi nhận có sự khác biệt về lâm sàng so  
với bướu không có đột biến.  
Trong nghiên cứu này, ghi nhận các bệnh nhân  
UTĐTT di căn có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF  
không khác so với các bệnh nhân không có đột biến  
về tuổi, giới, vị trí bướu nguyên phát, grad mô học,  
loại giải phẫu bệnh và cơ quan di căn xa.  
Trong nghiên cứu này, các bệnh nhân UTĐTT  
di căn có đột biến gen KRAS, NRAS có tiên lượng  
sống còn thấp hơn các bệnh nhân không có đột  
biến, các bệnh nhân có đột biến BRAF có tiên lượng  
sống còn thấp nhất, không phụ thuộc vào việc có  
điều trị cetuximab hay không.  
Theo các nghiên cứu tại Việt Nam, LTN  
Sương[4] cũng ghi nhận các bướu có đột biến KRAS  
không có sự khác biệt về lâm sàng so với bướu  
không có đột biến; nhưng NTT Minh[7] lại ghi nhận  
UTĐTT có đột biến KRAS thường gặp ở trực tràng  
hơn so với đại tràng (50% so với 18,2%, p = 0,022);  
VD Linh[9] ghi nhận bướu có đột biến KRAS thường  
gặp ở bệnh nhân trẻ ≤ 50 tuổi hơn bệnh nhân > 50  
tuổi (58,3% so với 23,5%, p = 0,038).  
Chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam ghi nhận  
giá trị tiên lượng của đột biến gen RAS/BRAF trên  
bệnh nhân UTĐTT.  
Tiên lượng của các bệnh nhân có đột biến  
KẾT LUẬN  
KRAS, NRAS, BRAF  
Các bướu có đột biến RAS/BRAF không có sự  
khác biệt về lâm sàng so với bướu không có đột  
biến. Tiên lượng của các bệnh nhân UTĐTT di căn  
có đột biến gen RAS/BRAF xấu hơn so với các bệnh  
nhân không có đột biến, không phụ thuộc vào việc  
có điều trị cetuximab hay không.  
Theo Morris[8], các bệnh nhân UTĐTT di căn có  
đột biến gen KRAS 12/13 có sống còn toàn bộ thấp  
hơn đáng kể so với các bệnh nhân không có đột  
biến (trung bình 38,7 tháng so với 57,6 tháng,  
p = 0,006). Các bệnh nhân có đột biến gen KRAS  
hiếm và NRAS có tỉ lệ sống còn trung bình là 47,4  
tháng, không khác so với các bệnh nhân có đột biến  
gen KRAS 12/13 (p = 0,08). Các bệnh nhân có đột  
biến gen BRAF có thời gian sống còn thấp nhất,  
trung bình 24,3 tháng với p < 0,001.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Abubaker J., Bavi P., Al-Haqawi W., Sultana M.  
et al (2009). "Prognostic significance of  
alterations in KRAS isoforms KRAS‐4A/4B and  
KRAS mutations in colorectal carcinoma". J  
Pathol; 219 (4), 435 - 445.  
Theo Won[10], khảo sát trên 1.096 bệnh nhân  
UTĐTT tại Hàn Quốc với 14,3% bệnh nhân ở  
giai đoạn IV, các bệnh nhân có đột biến gen BRAF  
có thời gian sống còn không bệnh (DFS) và thời gian  
sống còn toàn bộ (OS) thấp hơn rõ rệt so với  
các bệnh nhân không có đột biến (p = 0,0252 và  
p < 0,001). Tuy nhiên ở các bệnh nhân UTĐTT giai  
đoạn IV lại không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống  
kê. Các bệnh nhân có đột biến gen KRAS không ghi  
2. Bylsma L.C., Gillezeau C., Garawin T.A., Kelsh  
M.A.. et al (2020). "Prevalence of RAS and  
BRAF mutations in metastatic colorectal cancer  
patients by tumor sidedness: A systematic  
review and meta-analysis". Cancer Med; 9(3):  
1044 - 1057.  
253  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
3. Guedes J. G. et al (2013). "High resolution  
melting analysis of KRAS, BRAF and PIK3CA in  
KRAS exon 2 wild-type metastatic colorectal  
cancer". BMC cancer; 13 (1), 169.  
đại trực tràng tại bệnh viện Ung Bướu cần Thơ".  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam; 1: 440 - 445.  
8. Morris V.K., San Lucas F.A., Overman M.J., Eng  
C. et al (2014). "Clinicopathologic characteristics  
and gene expression analyses of non-KRAS  
12/13, RAS-mutated metastatic colorectal  
cancer". Ann Oncol, 25: 2008 - 2014.  
4. Lê Thị Ngọc Sương, Trần Minh Thông, Ngô  
Quốc Đạt, Hoàng Anh Vũ (2014)." Khảo sát đột  
bến gen KRAS và mối liên quan giữa đột biến  
gen KRAS và đặc điểm giải phẫu bệnh ở  
carcinôm tuyến đại trực tràng". Tạp chí Ung thư  
học Việt Nam; 5: 111 - 116.  
9. Vương Diệu Linh, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn  
Phi Hùng (2014)." Phân tích đột biến gen K-RAS  
trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng bằng kỹ  
thuật giải trình tự tự động". Tạp chí Ung thư học  
Việt Nam; 4: 138 - 143.  
5. Li Z-N., Zhao L., Yu L-F., Wei M-J. (2020)  
"BRAF and KRAS mutations in metastatic  
colorectal cancer: future perspectives for  
personalized therapy". Gastroenterol Rep (Oxf),  
8(3): 192 - 205.  
10. Won D.D., Lee J.I., Lee I.K. et al (2017). "The  
prognostic significance of KRAS and BRAF  
mutation status in Korean colorectal cancer  
patients". BMC Cancer; 17, 403.  
6. Lurkin I. et al (2010). "Two multiplex assays that  
simultaneously identify 22 possible mutation  
sites in the KRAS, BRAF, NRAS and PIK3CA  
genes". PloS one; 5(1), e8802.  
11. Yokota T. (2012)." Are KRAS/BRAF mutations  
potent prognostic and/or predictive biomarkers in  
colorectal cancers?". Anticancer Agents Med  
Chem; 12(2): 163 - 171.  
7. Nguyễn Thanh Tuấn Minh, Nguyễn Hồng Phong,  
Võ Văn Kha, Cao Minh Chu và cs (2015)." Đột  
biến gen KRAS và BRAF trên carcinôm tuyến  
254  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
SUMMARY  
Clinicopathologic features and gene expression analyses  
of RAS, BRAF-mutated metastatic colorectal cancer  
Purpose: To identify clinicopathologic features of metastatic colorectal cancer (CRC) patients with  
RAS/BRAF mutations at HCMC Oncology Hospital.  
Patients and methods: Medical records of 63 patients with metastatic CRC tested for KRAS, NRAS,  
BRAF mutations at HCMC Oncology Hospital were studied retrospectively. Overall survival was estimated by  
Kaplan-Meier method.  
Results:  
+ The proportion of KRAS; NRAS and BRAF mutations was 36,5%; 4,8% and 1,6%, respectively.  
+ No differences was noted in the age of diagnosis, gender, primary tumor, pathological finding and  
metastatic sites with the development of a RAS/BRAF mutated tumors compared to those who have  
RAS/BRAF wild-type disease.  
+ Mean survival of patients with metastatic CRC having RAS/BRAF mutations was significantly shorter than  
that of RAS/BRAF wild-type patients (2 - 17 months vs 21 - 33 months, p <0,001).  
Conclusion: No significant differences have been observed in clinicopathological parameters  
based on the RAS/BRAF genotype. Overall survival of patients with metastatic CRC having RAS/BRAF  
mutations was worse than that of RAS/BRAF wild-type patients, independently of treatment with cetuximab.  
Keywords: Matastatic colorectal cancer; KRAS, NRAS, BRAF mutations.  
255  
pdf 7 trang yennguyen 16480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh nhân ung thư đại - trực tràng di căn có đột biến RAS, BRAF", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_nhom_benh_nhan_ung_thu_dai_truc_trang_di_c.pdf