Đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh nhân ung thư đại - trực tràng di căn có đột biến RAS, BRAF
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG NHÓM BỆNH NHÂN
UNG THƯ ĐẠI - TRỰC TRÀNG DI CĂN CÓ ĐỘT BIẾN RAS, BRAF
3
1
2
PHẠM HÙNG CƯỜNG , THÁI ANH TÚ , NGUYỄN THỊ THANH MAI
TÓM TẮT
Mục đích: Khảo sát đặc điểm nhóm bệnh nhân ung thư đại - trực tràng di căn có đột biến RAS/BRAF
tại bệnh viện Ung Bướu TP. HCM.
Bệnh nhân và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca 63 bệnh nhân UT đại - trực tràng di căn
được làm xét nghiệm đột biến gen KRAS; NRAS; BRAF tại bệnh viện Ung Bướu TP.HCM. Thời gian sống
còn toàn bộ của các bệnh nhân được ước tính bằng phương pháp Kaplan-Meier.
Kết quả:
+ Tỉ lệ đột biến gen KRAS; NRAS; BRAF lần lượt là 36,5%; 4,8%; 1,6%.
+ Các bệnh nhân có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF không khác so với các bệnh nhân không có
đột biến về tuổi, giới, vị trí bướu nguyên phát, grad mô học, loại giải phẫu bệnh và cơ quan di căn xa.
+ Các bệnh nhân UTĐTT di căn không có đột biến gen RAS/BRAF có thời gian sống còn toàn bộ 21-
33 tháng, lâu hơn đáng kể so với 2 - 17 tháng của các bệnh nhân có đột biến (p < 0,001).
Kết luận: Các bướu có đột biến RAS/BRAF không có sự khác biệt về lâm sàng so với bướu không có
đột biến. Tiên lượng của nhóm bệnh nhân UT đại - trực tràng di căn có đột biến gen RAS/BRAF xấu hơn
so với nhóm bệnh nhân không có đột biến gen, không phụ thuộc vào việc có điều trị cetuximab hay
không.
Từ khóa: Ung thư đại trực tràng di căn; đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF.
như bevacizumab luôn giúp cải thiện trung vị sống
còn toàn bộ; tuy nhiên, hiệu quả của các thuốc ức
chế thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) như
cetuximab lại chỉ ghi nhận được ở các bệnh nhân
không có đột biến gen RAS hoặc BRAF[5].
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đại - trực tràng (UTĐTT) là một trong
những ung thư (UT) thường gặp nhất ở cả hai giới
trên toàn cầu và tại Việt Nam. Khoảng 20% bệnh
nhân UTĐTT có di căn xa ở thời điểm chẩn đoán và
khoảng 20% bệnh nhân còn lại sẽ xuất hiện di căn
xa trong thời gian theo dõi[2,5]. Các bệnh nhân
UTĐTT di căn có thời gian sống còn toàn bộ 5 năm
chỉ < 10%. Trong vài thập niên gần đây, các thuốc
nhắm trúng đích kết hợp với hóa trị đã được dùng
điều trị các bệnh nhân UTĐTT di căn ngay từ bước
một vì đã giúp cải thiện khả năng sống còn rõ rệt.
Các nghiên cứu cho thấy việc dùng thêm thuốc ức
chế thụ thể yếu tố tăng trưởng nội mạch (VEGF)
Tại bệnh viện Ung Bướu TPHCM, xét nghiệm
bộ gen KRAS, NRAS, BRAF đã được thực hiện
trước khi điều trị các bệnh nhân UTĐTT di căn từ
cuối năm 2016. Từ thời điểm đó, chưa có nghiên
cứu nào khảo sát đặc điểm lâm sàng, cũng như
đánh giá sống còn toàn bộ nhóm bệnh nhân UTĐTT
di căn có đột biến gen RAS/BRAF tại bệnh viện Ung
Bướu TPHCM. Do vậy, chúng tôi thực hiện công
trình này nhằm mục tiêu: Khảo sát đặc điểm nhóm
Ngày nhận bài: 07/10/2020
Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Thị Thanh Mai
Email: [email protected]
1 PGS.TS.BSCKII. Phó Trưởng Bộ môn Ung thư - ĐHYD TP. HCM
Trưởng Khoa Ngoại ngực, bụng - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
2 ThS.BS. Phó Trưởng Khoa Giải phẫu bệnh, Điều hành Khoa - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
3 ThS.BS. Trung tâm Ung Bướu Chợ Rẫy - Bệnh viện Chợ Rẫy
249
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
bệnh nhân ung thư đại - trực tràng di căn có đột biến
RAS/BRAF tại bệnh viện Ung Bướu TP. HCM.
Tiêu chuẩn loại trừ
Mẫu bệnh phẩm không đủ số lượng DNA.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Có ung thư khác đi kèm.
Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu mô tả loạt ca.
Các bệnh nhân UTĐTT di căn có kết quả giải
phẫu bệnh carcinôm tuyến, carcinôm tiết nhầy hoặc
carcinôm tế bào nhẫn có làm xét nghiệm đột biến
gen KRAS, NRAS, BRAF tại khoa Giải phẫu bệnh và
điều trị tại khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TPHCM
từ 01/01/2017 đến 31/12/2018.
Số liệu được ghi nhận vào phiếu thu thập số liệu.
Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0.
Giá trị p < 0,05 được chọn là có ý nghĩa thống
kê, với độ tin cậy 95%.
Tiêu chuẩn nhận bệnh
Mối tương quan giữa hai biến số định tính được
kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương (2).
Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.
Ung thư đại trực tràng di căn.
Thời gian sống còn toàn bộ được tính bằng
phương pháp Kaplan - Meier. Dùng phép kiểm
Log - rank để so sánh các kiểu phân bố thời gian
sống còn theo các biến số.
Có kết quả xét nghiệm gen KRAS, NRAS,
BRAF.
KẾT QUẢ
Đặc điểm nhóm bệnh nhân khảo sát
Mẫu nghiên cứu gồm 63 bệnh nhân. Đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân khảo sát được trình bày
trong Bảng 1.
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh nhân khảo sát
Tổng (63)
KRAS 12/13
(22)
KRAS 61/146 hoặc NRAS
(4)
BRAF
(1)
Không đột biến
(36)
p
Tuổi
< 50
≥ 50
Giới
0,466
23
40
9
2
2
1
0
11
25
13
0,778
0,616
Nam
33
30
13
9
2
2
1
0
17
19
Nữ
Bướu nguyên phát
Đại tràng bên P
Đại tràng bên T
Trực tràng
13
25
25
5 (23%)
1 (25%)
0
1
0
7
6
1
2
17
12
11
Grad mô học
Grad 1-2
0,317
1,000
52
11
18
4
2
2
1
0
31
5
Grad 3
Giải phẫu bệnh
Carcinôm tuyến
Carcinôm tuyến nhày
Carcinôm tế bào nhẫn
Di căn xa (*)
Gan
59
2
20
1
4
0
0
1
0
0
34
1
2
1
1
0,687
36
17
13 (59%)
6 (27%)
3 (75%)
2 (50%)
0
0
20
9
Phổi
250
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Phúc mạc
Hạch
16
31
12
8 (36%)
7 (32%)
2
0
2 (50%)
1
1 (100%)
1 (100%)
0
7
21
9
Khác
(*): Một bệnh nhân có thể di căn xa nhiều cơ quan.
Đột biến gen KRAS xảy ra với tỉ lệ là 36,5%. Trong đó, vị trí đột biến chủ yếu xảy ra ở codon 12/13
(95,6%) và 1 trường hợp đột biến tại codon 61 (4,4%). Tỉ lệ đột biến gen NRAS là 4,8%, với 2 trường hợp đột
biến gen tại Q61X và 1 trường hợp đột biến gen ở G12X. Một trường hợp có đột biến gen BRAF tại
V600E/E2D chiếm tỉ lệ 1,6%.
Các bệnh nhân UTĐTT di căn có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF không khác so với các bệnh nhân
không có đột biến về tuổi, giới, vị trí bướu nguyên phát, grad mô học, loại giải phẫu bệnh và cơ quan di căn xa
(p > 0,05).
Sống còn của nhóm bệnh nhân liên quan đến tình trạng đột biến gen
Trong 63 trường hợp khảo sát có 27 trường hợp có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF. Trong thời gian
theo dõi trung bình 11 (± 6) tháng, có 12 trường hợp tử vong và 15 trường hợp còn sống, không có trường hợp
mất dấu nào.
Các bệnh nhân UTĐTT di căn không có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF có thời gian sống còn toàn bộ
21-33 tháng, lâu hơn đáng kể so với 2-17 tháng của các bệnh nhân có đột biến (p < 0,001) (Biểu đồ 1).
Các bệnh nhân có đột biến KRAS 12/13 và KRAS 61/146 hoặc NRAS có thời gian sống còn toàn bộ không
khác biệt, 11 - 17 tháng và 15 tháng. Bệnh nhân có đột biến BRAF có thời gian sống còn toàn bộ thấp nhất
(2 tháng).
Biểu đồ 1. Sống còn toàn bộ của nhóm nghiên cứu
Do các bệnh nhân UTĐTT di căn không có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF đáp ứng tốt với điều trị bằng
các thuốc ức chế thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) như cetuximab, nên chúng tôi chỉ khảo sát các
bệnh nhân không điều trị với thuốc cetuximab nhằm đánh giá xem đột biến gen RAS/BRAF có phải là yếu tố
tiên lượng sống còn của các bệnh nhân UTĐTT di căn hay không. Kết quả được trình bày trong Biểu đồ 2, các
bệnh nhân UTĐTT di căn không có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF (không điều trị cetuximab) có thời gian
sống còn toàn bộ 19 - 28 tháng, lâu hơn đáng kể so với 2 - 17 tháng của các bệnh nhân có đột biến (p < 0,001)
251
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Biểu đồ 2. Sống còn toàn bộ của nhóm nghiên cứu (các bệnh nhân không điều trị cetuximab)
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ đột biến gen KRAS,
NRAS và BRAF trên các bệnh nhân UTĐTT di căn
lần lượt là 36,5%, 4,8% và 1,6%. Kết quả này không
khác biệt đáng kể so với y văn. Sự thay đổi về tỉ lệ
đột biến gen KRAS, NRAS và BRAF trên các bệnh
nhân UTĐTT thay đổi tuỳ theo dân tộc và tiêu chí
Tỉ lệ đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF
KRAS và NRAS (và cả HRAS) là các protein
thuộc họ RAS, BRAF (và cả ARAF và CRAF) là các
protein thuộc họ RAF. RAS và RAF là các protein
trong đường dẫn truyền tín hiệu của thụ thể yếu tố
tăng trưởng EGFR. Kích hoạt các đường dẫn truyền
chọn lựa mẫu[3,6]
.
Tình trạng đột biến gen RAS/BRAF trên bệnh
nhân UTĐTT theo các nghiên cứu tại Việt Nam được
trình bày trong Bảng 3.
tín
hiệu
từ
EGFR
theo
đường
RAS/RAF/MAP/MEK/ERK hoặc PTEN/PI3K/AKT có
vai trò quan trọng trong quá trình sinh ung và tiến
triển bệnh của UTĐTT. Các đột biến gen KRAS,
NRAS và BRAF làm rối loạn đường dẫn truyền tín
hiệu từ EGFR do vậy có vai trò quan trọng trong quá
trình hình thành, di căn của UTĐTT; cũng như cả
trong việc điều trị loại UT này[5,11]. Trong các đột biến
RAS, đột biến KRAS thường gặp nhất (85%), đột
biến NRAS có trong 15% trường hợp. Đột biến gen
KRAS xảy ra trên 44% bệnh nhân UTĐTT di căn với
đa số ở các codons 12 và 13, hiếm gặp hơn ở các
codon 61 và 146. Tỉ lệ đột biến gen BRAF khoảng
10%, chủ yếu là đột biến V600E (85%)[5].
Bảng 3. Tình trạng đột biến gen RAS/BRAF trên
bệnh nhân UTĐTT theo các nghiên cứu tại Việt Nam
Tác giả
KRAS
12/13
KRAS hiếm
NRAS
BRAF
LTN
67 (31,9%)
Sương[4]
NTT Minh[7]
16 (33,3%)
1 KRAS 10
(2,1%)
0%
VD Linh[9]
NC này
15 (32,6%)
22 (36,5%)
1 KRAS 61
(1,6%)
3
1
Theo Morris[8], khảo sát trên 484 bệnh nhân
UTĐTT di căn tại Hoa Kỳ, tỉ lệ đột biến gen KRAS
thường xảy ra ở các codons 12 và 13 là 47,7%; tỉ lệ
đột biến gen KRAS ở codons 61/146, đột biến gen
NRAS và BRAF lần lượt là 3%, 4,1% và 7,4%.
(4,8%)
(1,6%)
Đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân có đột
biến KRAS, NRAS, BRAF
Theo Morris[8], không có sự khác biệt về giới và
tuổi giữa các bệnh nhân UTĐTT di căn có đột biến
gen KRAS và không đột biến. Các bệnh nhân có đột
biến gen KRAS và NRAS không có sự khác biệt về
vị trí bướu nguyên phát, grad mô học và loại giải
phẫu bệnh so với các bệnh nhân không đột biến; tuy
Theo Yokota[11], tại Nhật, tỉ lệ đột biến gen
KRAS trên bệnh nhân UTĐTT là 30 - 42%, đột biến
gen BRAF là 4,7%. Tác giả ghi nhận tỉ lệ đột biến
gen BRAF tại các nước phương tây có cao hơn,
10 - 20%.
252
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
nhiên có di căn phổi nhiều hơn. Các bệnh nhân có
đột biến gen BRAF thường gặp ở đại tràng bên phải
và thường có loại giải phẫu bệnh là carcinôm tuyến
nhày hơn.
nhận có sự khác biệt về DFS và OS so với các bệnh
nhân không có đột biến ở mọi giai đoạn bệnh.
Theo Abubaker[1], nghiên cứu trên 285 trường
hợp UTĐTT ở Malaysia năm 2009, ghi nhận đột biến
gen KRAS ở codon 12 có tỉ lệ OS 5 năm thấp nhất
(64,4%) so với nhóm có đột biến ở codon 13
(75,8%) và nhóm không đột biến (78,2%) với
p = 0,0025.
Theo Bylsma[2], phân tích tổng hợp 44 nghiên
cứu trên 15.981 bệnh nhân UTĐTT di căn, các bướu
có đột biến KRAS và BRAF thường gặp ở đại tràng
bên phải hơn so với các bướu không có đột biến, lần
lượt là 46,3% và 16,3% so với 15,8% và 3,4%. Các
bướu có đột biến NRAS không ghi nhận có sự khác
biệt về vị trí bướu nguyên phát.
Theo Yokota[11], giá trị tiên lượng của đột biến
gen KRAS ở bệnh nhân UTĐTT vẫn là vấn đề còn
tranh cãi. Nghiên cứu trên 229 bệnh nhân UTĐTT
tiến triển và tái phát được hóa trị, tác giả ghi nhận
OS của các bệnh nhân có đột biến KRAS 13 thấp
hơn so với các bệnh nhân không có đột biến, nhưng
lại không ghi nhận với các bệnh nhân có đột biến
KRAS 12. Tuy nhiên, giá trị tiên lượng của đột biến
gen BRAF ở bệnh nhân UTĐTT lại được xác nhận
trong nhiều nghiên cứu. Theo các nghiên cứu
CAIRO-2, CRYSTAL và OPUS các bệnh nhân
UTĐTT di căn mang đột biến BRAF có DFS và OS
thấp hơn các bệnh nhân không đột biến, cho dù có
điều trị cetuximab hay không.
Theo Yokota[11], đột biến BRAF thường xảy ra ở
các bướu ở đại tràng bên phải, thường có giải phẫu
bệnh là carcinôm tuyến nhày (60%) và thường hay
di căn phúc mạc (60%). Các bướu có đột biến KRAS
lại không ghi nhận có sự khác biệt về lâm sàng so
với bướu không có đột biến.
Trong nghiên cứu này, ghi nhận các bệnh nhân
UTĐTT di căn có đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF
không khác so với các bệnh nhân không có đột biến
về tuổi, giới, vị trí bướu nguyên phát, grad mô học,
loại giải phẫu bệnh và cơ quan di căn xa.
Trong nghiên cứu này, các bệnh nhân UTĐTT
di căn có đột biến gen KRAS, NRAS có tiên lượng
sống còn thấp hơn các bệnh nhân không có đột
biến, các bệnh nhân có đột biến BRAF có tiên lượng
sống còn thấp nhất, không phụ thuộc vào việc có
điều trị cetuximab hay không.
Theo các nghiên cứu tại Việt Nam, LTN
Sương[4] cũng ghi nhận các bướu có đột biến KRAS
không có sự khác biệt về lâm sàng so với bướu
không có đột biến; nhưng NTT Minh[7] lại ghi nhận
UTĐTT có đột biến KRAS thường gặp ở trực tràng
hơn so với đại tràng (50% so với 18,2%, p = 0,022);
VD Linh[9] ghi nhận bướu có đột biến KRAS thường
gặp ở bệnh nhân trẻ ≤ 50 tuổi hơn bệnh nhân > 50
tuổi (58,3% so với 23,5%, p = 0,038).
Chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam ghi nhận
giá trị tiên lượng của đột biến gen RAS/BRAF trên
bệnh nhân UTĐTT.
Tiên lượng của các bệnh nhân có đột biến
KẾT LUẬN
KRAS, NRAS, BRAF
Các bướu có đột biến RAS/BRAF không có sự
khác biệt về lâm sàng so với bướu không có đột
biến. Tiên lượng của các bệnh nhân UTĐTT di căn
có đột biến gen RAS/BRAF xấu hơn so với các bệnh
nhân không có đột biến, không phụ thuộc vào việc
có điều trị cetuximab hay không.
Theo Morris[8], các bệnh nhân UTĐTT di căn có
đột biến gen KRAS 12/13 có sống còn toàn bộ thấp
hơn đáng kể so với các bệnh nhân không có đột
biến (trung bình 38,7 tháng so với 57,6 tháng,
p = 0,006). Các bệnh nhân có đột biến gen KRAS
hiếm và NRAS có tỉ lệ sống còn trung bình là 47,4
tháng, không khác so với các bệnh nhân có đột biến
gen KRAS 12/13 (p = 0,08). Các bệnh nhân có đột
biến gen BRAF có thời gian sống còn thấp nhất,
trung bình 24,3 tháng với p < 0,001.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Abubaker J., Bavi P., Al-Haqawi W., Sultana M.
et al (2009). "Prognostic significance of
alterations in KRAS isoforms KRAS‐4A/4B and
KRAS mutations in colorectal carcinoma". J
Pathol; 219 (4), 435 - 445.
Theo Won[10], khảo sát trên 1.096 bệnh nhân
UTĐTT tại Hàn Quốc với 14,3% bệnh nhân ở
giai đoạn IV, các bệnh nhân có đột biến gen BRAF
có thời gian sống còn không bệnh (DFS) và thời gian
sống còn toàn bộ (OS) thấp hơn rõ rệt so với
các bệnh nhân không có đột biến (p = 0,0252 và
p < 0,001). Tuy nhiên ở các bệnh nhân UTĐTT giai
đoạn IV lại không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê. Các bệnh nhân có đột biến gen KRAS không ghi
2. Bylsma L.C., Gillezeau C., Garawin T.A., Kelsh
M.A.. et al (2020). "Prevalence of RAS and
BRAF mutations in metastatic colorectal cancer
patients by tumor sidedness: A systematic
review and meta-analysis". Cancer Med; 9(3):
1044 - 1057.
253
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
3. Guedes J. G. et al (2013). "High resolution
melting analysis of KRAS, BRAF and PIK3CA in
KRAS exon 2 wild-type metastatic colorectal
cancer". BMC cancer; 13 (1), 169.
đại trực tràng tại bệnh viện Ung Bướu cần Thơ".
Tạp chí Ung thư học Việt Nam; 1: 440 - 445.
8. Morris V.K., San Lucas F.A., Overman M.J., Eng
C. et al (2014). "Clinicopathologic characteristics
and gene expression analyses of non-KRAS
12/13, RAS-mutated metastatic colorectal
cancer". Ann Oncol, 25: 2008 - 2014.
4. Lê Thị Ngọc Sương, Trần Minh Thông, Ngô
Quốc Đạt, Hoàng Anh Vũ (2014)." Khảo sát đột
bến gen KRAS và mối liên quan giữa đột biến
gen KRAS và đặc điểm giải phẫu bệnh ở
carcinôm tuyến đại trực tràng". Tạp chí Ung thư
học Việt Nam; 5: 111 - 116.
9. Vương Diệu Linh, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn
Phi Hùng (2014)." Phân tích đột biến gen K-RAS
trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng bằng kỹ
thuật giải trình tự tự động". Tạp chí Ung thư học
Việt Nam; 4: 138 - 143.
5. Li Z-N., Zhao L., Yu L-F., Wei M-J. (2020)
"BRAF and KRAS mutations in metastatic
colorectal cancer: future perspectives for
personalized therapy". Gastroenterol Rep (Oxf),
8(3): 192 - 205.
10. Won D.D., Lee J.I., Lee I.K. et al (2017). "The
prognostic significance of KRAS and BRAF
mutation status in Korean colorectal cancer
patients". BMC Cancer; 17, 403.
6. Lurkin I. et al (2010). "Two multiplex assays that
simultaneously identify 22 possible mutation
sites in the KRAS, BRAF, NRAS and PIK3CA
genes". PloS one; 5(1), e8802.
11. Yokota T. (2012)." Are KRAS/BRAF mutations
potent prognostic and/or predictive biomarkers in
colorectal cancers?". Anticancer Agents Med
Chem; 12(2): 163 - 171.
7. Nguyễn Thanh Tuấn Minh, Nguyễn Hồng Phong,
Võ Văn Kha, Cao Minh Chu và cs (2015)." Đột
biến gen KRAS và BRAF trên carcinôm tuyến
254
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
SUMMARY
Clinicopathologic features and gene expression analyses
of RAS, BRAF-mutated metastatic colorectal cancer
Purpose: To identify clinicopathologic features of metastatic colorectal cancer (CRC) patients with
RAS/BRAF mutations at HCMC Oncology Hospital.
Patients and methods: Medical records of 63 patients with metastatic CRC tested for KRAS, NRAS,
BRAF mutations at HCMC Oncology Hospital were studied retrospectively. Overall survival was estimated by
Kaplan-Meier method.
Results:
+ The proportion of KRAS; NRAS and BRAF mutations was 36,5%; 4,8% and 1,6%, respectively.
+ No differences was noted in the age of diagnosis, gender, primary tumor, pathological finding and
metastatic sites with the development of a RAS/BRAF mutated tumors compared to those who have
RAS/BRAF wild-type disease.
+ Mean survival of patients with metastatic CRC having RAS/BRAF mutations was significantly shorter than
that of RAS/BRAF wild-type patients (2 - 17 months vs 21 - 33 months, p <0,001).
Conclusion: No significant differences have been observed in clinicopathological parameters
based on the RAS/BRAF genotype. Overall survival of patients with metastatic CRC having RAS/BRAF
mutations was worse than that of RAS/BRAF wild-type patients, independently of treatment with cetuximab.
Keywords: Matastatic colorectal cancer; KRAS, NRAS, BRAF mutations.
255
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh nhân ung thư đại - trực tràng di căn có đột biến RAS, BRAF", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dac_diem_lam_sang_nhom_benh_nhan_ung_thu_dai_truc_trang_di_c.pdf

