Đặc điểm điều trị Insulin ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cao tuổi điều trị ngoại trú

TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 4-2015  
ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU TRỊ INSULIN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO  
ĐƢỜNG TÝP 2 CAO TUỔI ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ  
Nguyễn Trung Anh*; Vũ Thị Thanh Huyền*; Vũ Xuân Nghĩa**  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: đánh giá việc điều trị insulin ở bệnh nhân (BN) đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 cao tuổi.  
Ðối t ợng và phương pháp: mô tả cắt ngang trên BN ĐTĐ týp 2 ≥ 60 tuổi, được chẩn đoán ĐTĐ  
theo tiêu chuẩn ADA (2012) nhằm tìm hiểu một số đặc điểm điều trị insulin BN ĐTĐ týp 2 cao tuổi  
điều trị ngoại trú. Kết quả: trong 262 đối tượng nghiên cứu, 139 BN (53,1%) sử dụng insulin cao  
hơn nhóm không sử dụng insulin (123 BN = 46,9%). Thời gian sử dụng insulin trung bình 4,2 ±  
4,0 năm. Tỷ lệ BN sử dụng insulin từ 1 - 5 năm cao nhất (50,4%). Tỷ lệ các loại insulin dùng  
như sau: 23,4% insulin tác dụng nhanh; 0,6% insulin tác dụng tương đối nhanh; 1,3% insulin  
tác dụng trung bình; 35,1% insulin tác dụng kéo dài và 39,6% insulin tác dụng hỗn hợp. Tỷ lệ  
kiểm soát đường máu ở mức tốt và chấp nhận được của nhóm tuân thủ điều trị (89,2%) cao  
hơn của nhóm không tuân thủ điều trị (60,7%) (p < 0,05). Hạ đường máu là biến chứng thường  
gặp nhất khi điều trị insulin (64,7%), đa số ở mức độ nhẹ (93,3%), không có trường hợp hạ  
đường máu mức độ nặng. Kết luận: sử dụng insulin ngoại trú chiếm tỷ lệ cao ở BN ĐTĐ cao  
tuổi. Do đó, cần nâng cao hiểu biết của người bệnh về vấn đề tuân thủ điều trị và phòng tránh  
các tác dụng không mong muốn, giúp nâng cao hiệu quả điều trị bệnh ĐTĐ.  
* Từ khóa: Đái tháo đường týp 2; Insulin; Người cao tuổi.  
Insulin Therapy in Outpatients Elderly Type 2 Diabetes  
Summary  
Objective: To determine the characteristics of insulin therapy in elderly patients with type 2  
diabetes. Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study was performed in elderly type 2  
diabetic patients, diagnosed diabetes according to ADA (2012) criteria in order to understand some  
characteristics of insulin treatment in outpatient elderly type 2 diabetic patients. Results: Of the 262  
study participants, there were 139 patients (53.1%) using compared with 123 patients (46.9%)  
without insulin treatment. Average duration of insulin therapy was 4.2 ± 4.0 years. The highest  
proportion of patients using insulin from 1 - 5 years accounted for 50.4%. The rate of different class  
of insulin was used as follow: 23.4% rapid-acting insulin; 0.6% regular insulin; 1.3% intermediate-  
acting insulin; 35.1% long-acting insulin and 39.6% pre-mixed insulin. The rate of good and  
acceptable glycemic management in adherence group was 89.2% higher than those in non-  
adherence group (60.7%) (p < 0.05). Hypoglycemia is the most common complication of insulin  
treatment (64.7%), majority was mild hypoglycemia (93.3%), no cases with severe hypoglycemia.  
Conclusion: Majority of outpatient elderly diabetic patients used insulin, hence, awareness of therapeutic  
effects and treatment compliance should be improved in order to enhance effective treatment.  
* Key words: Type 2 diabetes; Insulin; Elderly.  
* Bệnh viện Lão khoa Trung ương  
** Học viện Quân y  
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Trung Anh ([email protected])  
Ngày nhận bài: 28/02/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 14/03/2015  
Ngày bài báo được đăng: 07/04/2015  
113  
TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 4-2015  
ĐTĐ nói chung và BN ĐTĐ cao tuổi nói riêng  
e ngại khi điều trị insulin. Mặc dù sử dụng  
insulin đóng vai trò quan trọng cải thiện điều  
trị ĐTĐ, đặc biệt ở người cao tuổi, nhưng vấn  
đề này còn ít được nghiên cứu tại Việt Nam.  
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu:  
Đánh giá việc điều trị insulin ở BN ĐTĐ týp 2  
cao tuổi điều trị ngoại trú.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Đái tháo đường là một vấn đề sức khỏe có  
ảnh hưởng lớn đến hơn 150 triệu người lớn  
hay 5,4% dân số trên toàn thế giới; con số  
này sẽ tăng gấp đôi trong 25 năm tới [1]. Việt  
Nam nằm trong số các quốc gia có số người  
mắc bệnh ĐTĐ tăng nhanh, theo số liệu của  
Hội Người Giáo dục bệnh ĐTĐ Việt Nam, tỷ lệ  
mắc ĐTĐ là 2,7% vào năm 2002 đã tăng gấp  
đôi vào năm 2008 (5,7%) [1, 2]. Nhiều nghiên  
cứu về bệnh ĐTĐ trên thế giới cho thấy tỷ lệ  
mắc ĐTĐ gia tăng theo tuổi. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ  
mắc ĐTĐ ở độ tuổi > 65 là 26,9% cao gấp  
hai lần độ tuổi 45 - 64 (13,7%) [2]. Tại Việt  
Nam, Trần Đức Thọ và CS công bố năm 2002  
tại Hà Nội, tỷ lệ ĐTĐ > 15 tuổi là 4%, trong đó  
tỷ lệ này ở người > 65 tuổi tăng lên 5,7% [1].  
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU  
1. Đối tƣợng nghiên cứu.  
BN ĐTĐ đến khám và điều trị ngoại trú tại  
Bệnh viện Lão khoa Trung ương từ tháng 02 -  
2013 đến 05 - 2013.  
* Tiêu chuẩn chọn BN: ≥ 60 tuổi, được  
chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hội Đái tháo  
đường Hoa Kỳ (ADA) (2012) [5].  
* Tiêu chuẩn loại trừ: BN mất máu cấp hay  
mạn, thiếu sắt, xuất huyết tiêu hoá, nhiễm sắc  
tố sắt, tan huyết, một số bệnh huyết sắc tố  
ảnh hưởng tới kết quả HbA1c.  
Nhiều nghiên cứu cho thấy kiểm soát  
đường máu chặt chẽ làm giảm nguy cơ và  
mức độ nặng của biến chứng ĐTĐ như đột  
quỵ, mù lòa, bệnh thận ĐTĐ, bệnh lý tim  
mạch, nhiễm trùng, thậm chí rối loạn chức  
năng nhận thức ở người cao tuổi [1, 2]. Trong  
điều trị ĐTĐ, bên cạnh các biện pháp không  
dùng thuốc như điều chỉnh chế độ ăn và hoạt  
động thể lực, đa số BN đều cần sử dụng  
thuốc điều trị ĐTĐ trong đó có insulin. Tỷ lệ  
sử dụng insulin gia tăng theo thời gian mắc  
ĐTĐ, đặc biệt ở đối tượng người cao tuổi [3,  
4]. Cùng với vai trò kiểm soát đường máu của  
insulin, trong quá trình điều trị có thể gặp một  
số biến chứng như hạ đường máu, tăng cân,  
dị ứng, phản ứng tại chỗ tiêm. Các biến  
chứng nói chung thấp và sẽ xử trí tốt nếu BN  
được trang bị kiến thức về vấn đề này [4, 5].  
2. Phƣơng pháp nghiên cứu.  
- Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả.  
- Công thức chọn cỡ mẫu:  
p * (1 - p)  
(p * )2  
n = Z2  
(1 – α/2
Trong đó: n: cỡ mẫu nghiên cứu, Z: hệ số  
tin cậy, p: tần suất xuất hiện hiện tượng,  
nghiên cứu, ℰ: khoảng sai lệch. Chọn α =  
0,05; ℰ = 0,2 và p = 0,278 là tỷ lệ sử dụng  
insulin theo nghiên cứu của Trung tâm các  
bệnh phổ biến CDC (2008) [6], áp dụng vào  
công thức ta có n xấp xỉ 250 người. Số BN  
trong nghiên cứu của chúng tôi 262 người.  
Tuy nhiên, những biến chứng này làm cho BN  
114  
TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 4-2015  
* Nội dung nghiên cứu:  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN  
1. Đặc điểm chung.  
BN được tìm hiểu thông tin theo mẫu bệnh  
án thống nhất gồm:  
Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng  
nghiên cứu.  
- Thông tin chung: họ tên, tuổi, giới, chỉ số  
nhân trắc học (BMI), thời gian mắc ĐTĐ và  
các bệnh phối hợp với bệnh ĐTĐ.  
n
%
Bi n s nghi n c  
u
60 - 69  
131  
104  
27  
50,0  
39,7  
10,3  
38,5  
61,5  
3,0  
- Thông tin về tình hình điều trị: phác đồ  
điều trị của BN, phác đồ sử dụng insulin: các  
loại insulin, kết hợp insulin và thuốc viên hạ  
đường máu, số mũi tiêm insulin trong một  
ngày.  
70 - 79  
≥ 80  
Tuổi  
Giới  
Nam  
101  
161  
8
Nữ  
< 1 năm  
1 - 5 năm  
5 - 10 năm  
≥ 10 năm  
Có  
61  
23,3  
27,5  
46,2  
53,1  
46,9  
Thời gian  
mắc ĐTĐ  
72  
- Thông tin về vấn đề sử dụng insulin theo  
giới, tuổi, thời gian mắc bệnh, thời gian sử  
dụng insulin.  
121  
139  
123  
Sử dụng  
insulin  
Không  
- Sự tuân thủ điều trị insulin (tuân thủ đúng  
số mũi tiêm trong một ngày theo chỉ định) theo  
giới, tuổi.  
Trong 262 BN ĐTĐ điều trị ngoại trú, 161 nữ  
và 101 nam, tỷ lệ nam/nữ là 0,63, tuổi trung  
bình 70,1 ± 6,7 tuổi. Nhóm tuổi 60 - 69 gồm 131  
BN (50%), nhóm tuổi ≥ 80 gồm 27 BN có tỷ lệ  
thấp nhất (10,3%). Tỷ lệ mắc ĐTĐ > 10 năm  
chiếm tỷ lệ cao nhất (46,2%) (121 người). Nhóm  
sử dụng insulin gồm 139 BN (53,1%) cao hơn  
nhóm không sử dụng insulin (123 BN = 46,9%).  
Kết quả này khác với nghiên cứu A1chieve  
(2012) [10] chỉ có 32,8% BN sử dụng insulin và  
67,8% BN không sử dụng insulin. Sự khác biệt  
trên là do nghiên cứu A1chieve thực hiện trên  
quần thể BN có người không điều trị thuốc, mặc  
dù có bệnh ĐTĐ, còn mẫu nghiên cứu của  
chúng tôi tại phòng khám ĐTĐ ngoại trú gồm  
những BN đã phải sử dụng thuốc viên hay kết  
hợp cùng insulin [10]. Tuổi có liên quan tới tỷ lệ  
sử dụng insulin, nghiên cứu này cho thấy nhóm  
tuổi 70 - 79 có tỷ lệ sử dụng insulin cao hơn ở  
nhóm 60 - 69 tuæi (p < 0,05). Sự khác biệt giữa  
nhóm > 80 tuổi và nhóm 60 - 69 tuæi không có ý  
nghĩa thống kê.  
- Các biến chứng khi điều trị insulin: hạ  
đường máu, tăng cân, dị ứng, phản ứng tại  
chỗ tiêm. Triệu chứng lâm sàng hạ đường  
máu:  
+ Mức độ nhẹ: vã mồ hôi, run tay chân và  
đói.  
+ Mức độ trung bình: đau đầu, thay đổi  
hành vi, dễ bị kích thích, giảm khả năng chú ý,  
ngủ gà.  
+ Mức độ nặng: hôn mê, mất cảm giác hay  
những cơn co giật.  
Đánh giá hiệu quả kiểm soát glucose máu:  
mức không và chấp nhận được ≤ 10 mmol/l  
(cho người cao tuổi)  
* Xử lý số liệu: bộ câu hỏi được nhập bằng  
phần mềm Epi Data 3.1 và xử lý số liệu bằng  
phần mềm Stata 10. Sử dụng các thuật toán:  
tính tỷ lệ phần trăm, tính giá trị trung bình. Sử  
dụng test χ2 để phân tích mối liên quan giữa  
các biến. Tính tỷ suất chênh (OR), 95%CI. Sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.  
115  
TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 4-2015  
2. Đặc điểm về điều trị insulin.  
Tỷ lệ các loại insulin được dùng như sau:  
23,4% insulin tác dụng nhanh; 0,6% insulin  
tác dụng tương đối nhanh; 1,3% insulin tác  
dụng trung bình; 35,1% insulin tác dụng kéo  
dài và 39,6% insulin tác dụng hỗn hợp. Kết  
quả này khác với nghiên cứu A1chieve:  
5,9% sử dụng insulin tác dụng nhanh, 3,2%  
sử dụng insulin khác (insulin tác dụng tương  
đối nhanh và trung bình); 23,3% sử dụng  
insulin tác dụng kéo dài và 67,6% sử dụng  
insulin tác dụng hỗn hợp [10]. Tỷ lệ sử dụng  
phác đồ 2 mũi tiêm/ngày được sử dụng  
nhiều nhất (48,9%), sau đó là phác đồ sử  
dụng 1 mũi insulin/ngày, phác đồ sử dụng 3  
và 4 mũi được sử dụng ít nhất với tổng  
tỷ lệ 10%. Kết quả này có điểm không tương  
đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan  
(2012) [2]: tỷ lệ sử dụng phác đồ 1 mũi thấp  
nhất (6%), phác đồ sử dụng 3 và 4 mũi cao  
* Đặc điểm về thời gian sử dụng insulin  
trong điều trị:  
Biểu đồ 1: Tỷ lệ sử dụng insulin  
thời gian.  
theo  
Tỷ lệ BN không sử dụng insulin chiếm  
46,9% trong tổng số 262 BN. Trong số 139  
BN điều trị insulin, thời gian sử dụng insulin  
trung bình 4,2 ± 4,0 năm. Tỷ lệ BN sử dụng  
insulin từ 1 - 5 năm cao nhất (70 người =  
50,4%), tỷ lệ sử dụng insulin > 10 năm thấp  
nhất (6 người = 4,3%). Tỷ lệ sử dụng insulin <  
1 năm và 5 - 10 năm là 30,2% (42 người) và  
15,1% (21 người). Kết quả này tương tự với  
nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương và CS:  
tỷ lệ BN không sử dụng insulin là 49% [1] và  
của Nguyễn Thị Loan và CS (2012): 33% BN  
điều trị insulin < 1 năm, 43% điều trị trong thời  
gian từ 1 - 5 năm và 24% BN sử dụng insulin  
> 5 năm [2].  
hơn chiếm 32%,  
sử dụng nhiều nhất  
vẫn là 2 mũi tiêm/ngày (62%). Kết quả  
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với  
khuyến nghị của các tổ chức y học trên thế  
giới, nên sử dụng insulin tác dụng hỗn hợp  
và chậm để điều trị và hạn chế insulin tác  
dụng tương đối nhanh và trung bình. Sự  
khác biệt còn do BN trong nghiên cứu của  
chúng tôi điều trị ngoại trú trong Chương  
trình kiểm soát ĐTĐ của Bệnh viện Lão Khoa  
Trung ương, được lĩnh thuốc theo bảo hiểm  
y tế nên nguồn cung cấp thuốc phụ thuộc  
vào bảo hiểm y tế, trong đó nguồn cung cấp  
insulin hỗn hợp nhiều nhất [3].  
* Đặc điểm sử dụng các loại insulin trong  
điều trị:  
Biểu đồ 2: Tỷ lệ các loại insulin  
điều trị.  
trong  
116  
TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 4-2015  
chỗ tiêm  
Bảng 2: Liên quan giữa kết quả kiểm soát  
glucose máu với tình trạng tuân thủ điều trị  
insulin.  
Từ kết quả nghiên cứu thấy hạ đường máu  
là biến chứng thường gặp nhất của insulin  
(64,7%), sau đó tới tăng cân (18,0%), dị  
ứng (1,4%), không thấy xuất hiện tình trạng  
phản ứng tại chỗ tiêm của insulin. Tỷ lệ dị ứng  
của thuốc (4,2%) cao hơn của insulin (1,4%),  
MỨC ĐỘ  
TUÂN THỦ  
ĐIỀU TRỊ  
INSULIN  
TỐT, CHẤP  
NHẬN ĐƯỢC  
≤ 10 mmol/l  
n (%)  
KÉM > 10  
mmol/l  
OR, p  
n (%)  
Tuân thủ  
điều trị  
OR = 5,34  
p < 0,05  
sự khác biệt có  
ý nghĩa thống kê (p <  
12  
99 (89,2)  
17 (60,7)  
(10,8)  
0,05). Tỷ lệ biến chứng tăng cân và hạ đường  
máu của insulin (18,0% và 64,7%) cao hơn  
của thuốc (1,1% và 30,9%), sự khác biệt  
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết quả  
này cho thấy bệnh viện đã thực hiện tốt quá  
trình tư vấn về cách tiêm và vị trí tiêm insulin  
nên không thấy xuất hiện trường hợp phản  
ứng tại chỗ tiêm. Bên cạnh đó BN vẫn cần  
được kiểm soát tốt về chế độ tiêm cũng như  
thái độ sinh hoạt nhằm tránh hạ đường máu  
sau tiêm [3].  
(n = 116)  
Không tuân  
thủ điều trị  
(n = 23)  
11  
(39,3)  
Tỷ lệ kiểm soát đường máu kém của BN  
không tuân thủ điều trị cao (39,3%) trong tổng  
số người không tuân thủ điều trị. Tỷ lệ kiểm  
soát đường máu ở mức tốt và chấp nhận  
được của nhóm tuân thủ điều trị (89,2%) cao  
hơn của nhóm không tuân thủ điều trị  
(60,7%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <  
0,05). Kết quả này tốt hơn so với nghiên cứu  
của Phạm Thị Hồng Hoa (2010) trên 245 BN  
điều trị ngoại trú với mức kiểm soát tốt và  
chấp nhận được 54,3%, kém 45,7%. Khi so  
sánh kết quả kiểm soát đường máu giữa 2  
nhóm sử dụng insulin và không sử dụng  
insulin thấy nhóm sử dụng insulin có đường  
máu trung bình cao hơn nhóm không sử dụng  
insulin với p < 0,0001.  
Bảng 4: Tỷ lệ BN theo mức độ hạ đường  
máu ở nhóm BN sử dụng insulin và thuốc.  
THUỐC  
INSULIN  
TRIỆU CHỨNG HẠ  
ĐƯỜNG MÁU  
TRÊN LÂM SÀNG  
n
n
80  
1
%
%
93,3  
6,7  
0
Mức độ nhẹ  
Mức độ vừa  
Mức độ nặng  
Tổng  
84  
6
98,8  
1,2  
0
0
0
90  
100  
81  
100  
3. Biến chứng khi sử dụng insulin trong  
điều trị.  
Biến chứng hạ đường máu ở BN sử dụng  
insulin trong điều trị ở mức độ nhẹ là chủ yếu  
(93,3%), không có trường hợp hạ đường máu  
mức độ nặng. Sự khác biệt giữa các mức độ  
hạ đường máu (mức độ nhẹ và mức độ vừa)  
của nhóm sử dụng insulin có ý nghĩa thống  
Bảng 3: So sánh tỷ lệ biến chứng do sử  
dụng insulin với nhóm uống thuốc.  
INSULIN  
THUỐC  
BIẾN CHỨNG  
p
n
2
%
n
%
Dị ứng  
1,4  
11  
3
4,2  
1,1  
0,026  
0,054  
kê  
(p < 0,0001). Với biến chứng hạ  
Tăng cân  
25  
18,0  
đường máu, không có trường hợp nào dẫn tới  
hôn mê, 93,3% trường hợp hạ đường máu ở  
mức độ nhẹ, chỉ có 6,7% ở mức độ cao hơn.  
Hạ đường  
90  
0
64,7  
0
81  
-
30,9  
-
0,823  
-
máu  
Phản ứng tại  
117  
TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 4-2015  
của chúng. Tần suất xuất hiện hạ đường  
máu cao nhất là insulin tác dụng nhanh (75%  
trên tổng số người sử dụng insulin tác dụng  
nhanh), sau đó tới insulin hỗn hợp (57,4%) và  
insulin tác dụng kéo dài (46,3%). Điều này  
hoàn toàn phù hợp với dược động học của  
từng loại insulin [6, 7].  
Tại Bệnh viện Lão khoa trung ¬ng, nơi  
thường xuyên tổ chức các đợt tư vấn giáo dục  
về kiến thức quản lý ĐTĐ ngoại trú và đặc biệt  
kiến thức về hạ đường máu, xử trí khi điều trị  
nên BN đã biết cách nhận biết và xử trí cơn  
hạ đường máu nhanh nhất khi xuất hiện  
những triệu chứng lâm sàng ở mức độ nhẹ,  
điều này đã kiểm soát được biến chứng hạ  
đường máu ở BN sử dụng insulin trong điều  
trị [3]. Tuy nhiên, chỉ có 31,1% BN có thử  
đường máu ngay khi xuất hiện các triệu  
chứng hạ đường máu trên lâm sàng, còn lại  
68,9% BN không thử đường máu nên khó  
đánh giá chính xác tỷ lệ BN bị hạ đường máu  
thật sự do tiêm insulin.  
Bảng 6: Tỷ lệ tăng cân theo phác đồ tiêm  
insulin.  
TĂNG CÂN  
PHÁC ĐỒ TIÊM  
Có  
Không  
(mũi tiờm/ngày)  
n
5
%
n
52  
53  
4
%
1
2
8,8  
91,2  
77,9  
57,1  
71,4  
82,0  
15  
3
22,1  
42,9  
28,6  
18,0  
Bảng 5: Tỷ lệ hạ đường máu theo loại  
3
insulin.  
4
2
5
HẠ ĐƯỜNG MÁU  
Tổng  
25  
114  
LOẠI INSULIN  
SỐ LẦN SỬ DỤNG  
n
%
Insulin tác dụng  
36  
27  
75  
Số cân nặng tăng trung bình 3,6 ± 1,8 kg. Tỷ  
lệ tăng cân do tiêm 3 mũi insulin/ngày cao  
nhất (42,9%). Thấp nhất là phác đồ 1 mũi  
tiêm/ngày. Khả năng tăng cân của BN sử  
dụng phác đồ 3 mũi tiêm cao hơn BN sử dụng  
1 mũi tiêm (p < 0,05). Khả năng tăng cân của  
nhóm sử dụng 2 và 3 mũi tiêm cao hơn nhóm  
sử dụng 1 mũi tiêm, sự khác biệt không có ý  
nghĩa thống kê (p > 0,05). Tuy nhiên, chỉ so  
sánh nhóm sử dụng 3 mũi với nhóm sử dụng  
4 mũi tiêm thì sự khác biệt lại không có ý  
nghĩa thống kê (p > 0,05). Tỷ lệ tăng cân do  
tiêm 3 mũi insulin cao nhất và sự khác biệt có  
ý nghĩa thống kê với nhóm sử dụng 1 mũi  
tiêm, nhưng không có ý nghĩa thống kê với  
nhóm sử dụng 4 mũi tiêm. Tuy nhiên, tỷ lệ BN  
được sử dụng phác đồ 3 và 4 mũi tiêm còn ít  
(14/139). Tỷ lệ tăng cân của BN trong nghiên  
nhanh  
Insulin tác dụng  
tương đối nhanh  
1
2
1
2
100  
100  
46,3  
Insulin tác dụng  
trung bình  
Insulin tác dụng  
54  
25  
kéo dài  
Insulin hỗn hợp  
Tổng  
61  
35  
90  
57,4  
-
154  
Insulin có tác dụng nhanh gây hạ đường  
máu nhiều (75%) những lần sử dụng. Insulin  
có tác dụng kéo dài có số lần gây hạ đường máu  
ít nhất 46,3%. Insulin hỗn hợp có tỷ lệ gây hạ  
đường máu 57,4%. Mặc dù tỷ lệ hạ đường  
máu của nhóm insulin tác dụng tương đối  
nhanh và tác dụng trung bình là 100%, nhưng  
do tần suất sử dụng 2 loại insulin này khá  
thấp (1/139 và 2/139) nên khó có thể đánh  
giá chính xác khả năng gây hạ đường máu  
118  
TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 4-2015  
4. Tạ Văn Bình. Dich tễ học bệnh ĐTĐ, các yếu  
tố nguy cơ và vấn đề liên quan đến quản lý bệnh  
cứu phần nào phản ánh ưu và nhược điểm  
của từng loại phác đồ điều trị [6, 10].  
KẾT LUẬN  
ĐTĐ tại khu vực nội thành  
Nhà xuất bản Y học. 2003.  
4 thành phố lớn.  
5. Centers for Disease Control and  
Prevention. National diabetes fact sheet:  
national estimates and general information on  
diabetes and prediabetes in the United States,  
2011. Atlanta, GA: U.S. Department of Health and  
Human Services, Centers for Disease Control  
and Prevention. 2011.  
Qua nghiên cứu đặc điểm điều trị insulin  
ở 139 BN ĐTĐ týp 2 cao tuổi điều trị ngoại trú,  
chúng tôi có những nhận xét sau:  
- Tỷ lệ BN sử dụng insulin điều trị ngoại trú  
chiếm 53,1%.  
- 85,3% BN kiểm soát glucose máu ở mức  
chấp nhận được, trong đó nhóm tuân thủ  
điều trị (89,2%) cao hơn nhóm không tuân thủ  
điều trị (66,7%), p < 0,05; OR = 5,34.  
6. Marwan Hamaty. Insulin treatment for type 2  
diabetes: when to start, which to use. Cleveland  
Clinic Journal of Medicine. 2011, Vol 78, No 5.  
7. Kyung Soo Kim and colleagues.  
Management of type 2 diabetes mellitus in order  
adults. Diabetes & Metabolism. 2012, 36, pp.336-  
344.  
- Hạ đường máu là biến chứng hay gặp,  
chiếm 64,7%. Trong đó hạ đường máu mức  
độ nhẹ là phổ biến (93,3%).  
8.  
Standards  
of  
Medical  
Care  
in  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Diabetes. Diabetes Care. 2012, Vol 35, Supplement  
1, S21.  
1. Vũ Thị Thanh Hương, Vũ Thị Thanh Huyền.  
Nghiên cứu các rào cản khi bắt đầu sử dụng insulin  
ở BN cao tuổi, §T§ týp 2. Tạp chí Nghiên cứu Y  
học. 2013, Phụ trương số 5, tr.67-72.  
9. Centers for Disease Control and  
Prevention (CDC). National Center for Health  
Statistics, Division of Health Interview Statistics, data  
from the National Health Interview Survey. CDC's  
Division of Diabetes Translation, National Center for  
Chronic Disease Prevention and Health Promotion.  
2012.  
2. Nguyễn Thị Loan. Đánh giá kỹ thuật tiêm  
insulin tại nhà của BN ĐTĐ týp 2 vào điều trị tại  
Bệnh viện Bạch Mai. Khóa luận Tốt nghiệp Cử  
nhân Y khoa. Trường §ại học Y Hà Nội. 2012, tr.25-  
28.  
10. Siddharth Shah A, Alexey Zilov, Rachid  
Malek et al. Improvements in quality of life  
associated with insulin analogue therapies in  
people with type 2 diabetes: Results from the  
A1chieve observational study. Diabetes Research and  
Clinical Practice. 2011, 94, pp.364-370.  
3. Vũ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Trung Anh. Các  
yếu tố liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực  
hành theo dõi điều trị ngoại trú §T§ ở người cao  
tuổi. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2013, Phụ trương  
số 5, tr.140-145.  
119  
pdf 7 trang yennguyen 14520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm điều trị Insulin ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cao tuổi điều trị ngoại trú", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_dieu_tri_insulin_o_benh_nhan_dai_thao_duong_typ_2_c.pdf