Chuyên đề Sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
HỮU CƠ Ở VIỆT NAM
1
LỜI NÓI ĐẦU
Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện vẫn còn là mối lo ngại lớn của
nhiều người, nhất là người tiêu dùng bởi tình trạng lạm dụng hóa chất trong phân
bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp an toàn vẫn còn, mặc dù từ
nhiều năm qua Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành các quy trình sản xuất theo
thực hành nông nghiệp tốt như VietGAP, GlobalGAP, song sự tin tưởng về sản phẩm
an toàn theo GAP vẫn chưa thuyết phục…Vì sao vậy? Phải chăng trong tiêu chuẩn
sản xuất vẫn còn được dùng phân vô cơ và hóa chất bảo vệ thực vật khi cần thiết, nên
nông dân thực hiện chưa tốt hoặc thiếu chuỗi giám sát chất lượng sản phẩm.
Để giải quyết vấn đề sản xuất nông nghiệp an toàn và tạo niềm tin cho mọi người
thì sản xuất nông nghiệp cần phải theo hướng hữu cơ, bởi vì nông nghiệp hữu cơ là
hệ thống sản xuất không dùng hóa chất, mục tiêu là duy trì sức khỏe cho đất, hệ sinh
thái và sức khỏe cho người sản xuất. Nông nghiệp hữu cơ dựa vào quá trình sinh thái,
đa dạng sinh học và quá trình phát triển tự nhiên phù hợp với từng điều kiện của địa
phương. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ chính là sản xuất truyền thống kết hợp đổi mới
các tiến bộ kỹ thuật mới có lợi cho các sinh vật, con người và môi trường trên cơ sở
chia sẻ và thúc đẩy các mối quan hệ công bằng nhằm hướng tới cuộc sống tốt, đảm
bảo chất lượng cho tất cả các bên có liên quan (người sản xuất, nhà bán lẻ, người
tiêu dùng…).
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong trồng trọt bao gồm rau, quả, chè… hữu cơ,
là cách lựa chọn tốt nhất của người tiêu dùng hiện nay. Ở các nước đang phát triển,
sản phẩm trồng trọt hữu cơ mới chỉ chiếm một phần nhỏ trong nông nghiệp sạch, an
toàn, nhưng sản xuất nông nghiệp hữu cơ đã và đang hứa hẹn sự tăng trưởng nhanh
trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Để giúp cho các cán bộ lãnh đạo, cán bộ kỹ
thuật, nhà nông sản xuất và người tiêu dùng hiểu biết rõ khái niệm về sản xuất nông
nghiệp hữu cơ ở nước ta, chúng tôi biên soạn chuyên đề “Sản xuất nông nghiệp hữu
cơ ở Việt Nam”. Nhóm tác giả gồm:
1- GS. TS Phạm Thị Thùy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam,
Giám đốc Trung tâm Khoa học và Hợp tác là Chủ biên.
2- Th.s Phạm Kim Oanh, Trung tâm Khoa học và Hợp tác, Hiệp hội Nông
nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Với mong muốn và tâm huyết để có một nền nông nghiệp hữu cơ thực sự cho đất
nước, các tác giả đã tập hợp các tài liệu về VietGap và nông nghiệp hữu cơ để biên
soạn chuyên đề này, tập trung chủ yếu về trồng trọt. Hy vọng rằng chuyên đề này sẽ
giúp cho các cán bộ lãnh đạo trong ngành nông nghiệp, cán bộ kỹ thuật về khuyến
nông và bảo vệ thực vật hiểu biết để hướng chỉ đạo, giúp nông dân và doanh nghiệp
áp dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Đây là tài liệu mới nên chắc chắn
sẽ không tránh khỏi thiếu sót, rất mong bạn đọc góp ý để lần tái bản tới được hoàn
thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn.
Ban biên tập
2
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ Ở VIỆT NAM
GS. TS Phạm Thị Thùy
Th.s Phạm Kim Oanh
Chƣơng 1
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THEO TIÊU CHUẨN THỰC HÀNH NÔNG
NGHIỆP TỐT (GOOD AGRICUTURAL PRACTICE - GAP)
1.1. Các loại thực hành nông nghiệp tốt - GAP
Cho đến nay vấn đề an toàn thực phẩm vẫn còn là mối lo chung của toàn xã hội
nhất là ngƣời tiêu dùng vì sự tồn dƣ hoá chất bảo vệ thực vật trong thực phẩm còn
cao. Thực tế tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều quá mức cần thiết liên
tục xảy ra ở một số địa phƣơng, điều này đã ảnh hƣởng lâu dài tới môi trƣờng sống
của con ngƣời, vật nuôi, nguồn nƣớc ngầm và đất đai. Phân tích về thức ăn chăn nuôi
công nghiệp, kết quả cho thấy hàm lƣợng độc tố và thức ăn nhiễm các vi sinh vật gây
bệnh cũng nhƣ hàm lƣợng kim loại nặng nhƣ chì, đồng, kẽm trong thức ăn chăn nuôi
cao hơn mức quy định từ 1,8 đến 5,6 lần. Điều này đã gây tồn dƣ hóa chất và làm ảnh
hƣởng đến tính an toàn của vật nuôi. Chính vì vậy mà từ năm 2000 đến nay nền nông
nghiệp nƣớc ta đã tiếp cận và thực hiện các kiểu thực hành nông nghiệp tốt Good
Agricultural Practice nhƣ EuropGAP, GlobalGAP, AseanGAP, VietGAP, ThaiGAP,
MalayGAP...
Vậy GAP là gì và sự khác biệt của các GAP với khái niệm NÔNG NGHIỆP HỮU
CƠ nhƣ thế nào? Để nhận biết đƣợc những điểm khác biệt giữa sản xuất nông nghiệp
theo tiêu chuẩn GAP và tiêu chuẩn hữu cơ, trƣớc hết chúng ta phải tìm hiểu khái niệm
sơ bộ về sự ra đời của GAP, các tiêu chuẩn để sản xuất nông nghiệp theo EuropGAP,
GlobalGAP, AseanGAP, VietGAP.
1.1.1. EuropGAP (Europ. Good Agricultural Practice)
EuropGAP là thực hành nông nghiệp tốt ở Châu Âu, xuất hiện đầu tiên vào
năm 1997 và đƣợc áp dụng cho các nhóm cây thực phẩm nhƣ rau, quả, thịt, cá, trứng,
sữa… Đây là các loại thực phẩm dễ bị vi khuẩn tấn công gây hại. Châu Âu bao gồm
các nƣớc có nền công, nông nghiệp phát triển, do vậy các tiêu chuẩn về vệ sinh an
toàn thực phẩm (VSATTP) đƣợc đặt ra khá chặt chẽ và nghiêm khắc. Các chỉ tiêu về
VSATTP đã đƣợc kiểm soát và đƣợc đánh giá rất cẩn thận. Cho nên sự ra đời của
EuropGAP là nhu cầu tất yếu để sản xuất nông nghiệp của khu vực châu Âu.
Ngày 7 tháng 9 năm 2007, EuropGAP đã đƣợc đổi tên thành GlobalGAP áp
dụng cho tất cả các nƣớc trên toàn thế giới, điều đó phản ánh rõ phạm vi ảnh hƣởng
của EuropGAP trên toàn cầu.
1.1.2. GlobalGAP (Global Good Agricultural Practice )
GlobalGAP là thực hành nông nghiệp tốt trên toàn cầu do một tổ chức tƣ nhân,
một nhóm các siêu thị ở Châu Âu xây dựng. Mục đích của GlobalGAP là làm tăng sự
tin tƣởng của khách hàng đối với thực phẩm an toàn, thông qua ngƣời sản xuất đã
thực hành nông nghiệp tốt. Trọng tâm của GlobalGAP là an toàn thực phẩm và truy
3
xuất nguồn gốc, bên cạnh đó cũng đề cập đến các vấn đề khác nhƣ an toàn về sức
khỏe, phúc lợi cho ngƣời lao động và bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ thiên địch có ích.
GlobalGAP là một tiêu chuẩn về việc cấp chứng nhận cho các quá trình sản
xuất từ khi hạt giống đƣợc gieo trồng đến khi sản phẩm đƣợc xuất khỏi trang trại. Đây
là một bộ tiêu chuẩn đƣợc xây dựng để áp dụng tự nguyện cho sản xuất nông nghiệp
(trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản) trên toàn cầu. Bộ tiêu chuẩn GlobalGAP là công cụ
kết nối giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa nhà sản xuất với ngƣời cung ứng
nông sản thực phẩm, vì thế nó không hƣớng tới việc gắn nhãn trên sản phẩm dành cho
ngƣời tiêu dùng, mà quan tâm tới sản lƣợng và địa điểm sản xuất.
Cho đến nay GlobalGAP đã xây dựng đƣợc các tiêu chuẩn cho rau và trái cây,
cây trồng xen, hoa và cây cảnh, cà phê, chè, thịt lợn, gia cầm, gia súc và cừu, bơ sữa
và thủy sản (Cá Hồi). Các sản phẩm khác đang đƣợc nghiên cứu, điều đó có thể hiểu
rằng EuropGAP khi đƣợc nhiều châu lục áp dụng thì trở thành GlobalGAP. Nhƣ vậy
nếu sản phẩm đƣợc công nhận theo tiêu chuẩn của EuropGAP thì rất dễ dàng lƣu hành
ở mọi thị trƣờng trên thế giới.
Về cơ bản EuropGAP và GlobalGAP không có gì khác nhau, tuy nhiên cũng
có một số ngoại lệ khi áp dụng trong phạm vi GlobalGAP. Vì có thể nƣớc Nhật hay
nƣớc Mỹ có một vài qui định khắt khe nhƣ về dƣ lƣợng thuốc hóa học, hoặc về khía
cạnh tôn giáo, tập quán hay thói quen của một số tộc ngƣời hay quốc gia nào đó
không phù hợp với tiêu chuẩn của EuropGAP, nhƣng đó chỉ là những tiêu chuẩn thứ
yếu mà thôi.
1.1.3. AseanGAP (Asean Good Agricultural Practice)
AseanGAP là một bộ tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt trong cả quá trình
sản xuất, thu hoạch và xử lý sau thu hoạch đối với rau quả tƣơi ở các nƣớc trong khu
vực ASEAN. AseanGAP đƣợc ra đời từ năm 2006 do Ban thƣ ký của tổ chức ASEAN
xây dựng với đại diện các nƣớc thành viên. Theo các chuyên gia nhận định thì thị
trƣờng xuất, nhập khẩu nông sản trên thế giới đang đƣợc kiểm soát từ những đại siêu
thị, những tập đoàn đa quốc gia với các tiêu chuẩn rất cao về chất lƣợng sản phẩm,
cũng nhƣ vệ sinh an toàn thực phẩm. ASEAN đã công bố các tiêu chuẩn trong bản
quy trình GAP chung cho các nƣớc thành viên.
Mục tiêu của AseanGAP là tăng cƣờng hài hòa các chƣơng trình GAP quốc gia
cho các nƣớc thành viên trong khu vực ASEAN, đề cao sản phẩm rau, quả an toàn cho
ngƣời tiêu dùng, duy trì các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy thƣơng mại rau,
quả trong khu vực và quốc tế.
Nội dung của AseanGAP gồm 4 phần chính:
- An toàn thực phẩm
- Quản lý môi trƣờng
- Sức khỏe, an toàn lao động và phúc lợi cho ngƣời sản xuất
- Chất lƣợng sản phẩm
Hạn chế lớn nhất của AseanGAP là mới chỉ đƣa ra các tiêu chuẩn cho các rau quả
tƣơi, nó không bao gồm các sản phẩm có độ rủi ro cao trong thực phẩm an toàn nhƣ
sản phẩm đƣợc cắt lát, đây là tiêu chuẩn mới trong khu vực và quốc tế. AseanGAP
không phải là tiêu chuẩn để chứng nhận cho các sản phẩm hữu cơ và sản phẩm biến
đổi gen…
1.1.4. VietGAP (Vietnamese Good Agricultural Practice)
4
VietGAP là thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam đƣợc xây dựng dựa
trên 4 tiêu chuẩn: Kỹ thuật sản xuất, an toàn thực phẩm, môi trƣờng làm việc và truy
tìm nguồn gốc của sản phẩm. Bốn tiêu chuẩn này là tập hợp dựa trên những nguyên
tắc, trình tự, thủ tục hƣớng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế bảo đảm
an toàn, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khoẻ ngƣời sản
xuất và ngƣời tiêu dùng, bảo vệ môi trƣờng và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm.
VietGAP chính là áp dụng các biện pháp kỹ thuật để sản xuất, nhằm tạo ra sản phẩm
sạch và an toàn, đặc biệt là các sản phẩm về rau, quả tƣơi.
Trƣớc khi VietGAP ra đời, nƣớc ta đã có rất nhiều chƣơng trình sản xuất nông
sản an toàn đối với rau, quả, cây trồng làm đồ uống. Nhiều địa phƣơng, các quy định
đó đã đƣợc xây dựng thành quy trình để phổ biến cho nông dân thực hiện. Trên thực
tế vẫn chƣa có đơn vị nào theo dõi kiểm tra và có trách nhiệm cấp chứng nhận kịp
thời, hoặc đƣa ra chính sách khuyến khích cho ngƣời sản xuất, nên phong trào sản
xuất nông sản sạch, an toàn thực chất vẫn chƣa đƣợc phát triển rộng rãi và quan tâm
thích đáng.
Năm 2004, Hiệp hội Trái cây Việt Nam tham gia vào một dự án có tên “Tăng
cƣờng năng lực cạnh tranh” (VNCI) do Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp VN -
VCCI chủ trì và đã tổ chức một chuyến thăm chƣơng trình liên kết Mỹ – Thái đang
thực hiện EuropGAP, thăm “Liên kết GAP miền Tây Thái Lan”. Cũng năm đó, Hiệp
hội Trái cây VN cùng với Hội Làm vƣờn và VCCI tổ chức hội thảo giới thiệu về GAP
(EuropGAP) tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau hội thảo này, liên kết GAP sông Tiền
bao gồm 6 tỉnh có trái cây đã đƣợc thành lập, hoạt động rất gắn bó và đã đem lại
những kết quả đáng khích lệ năm 2005. Cũng năm đó, Tổ chức Thị trƣờng quốc tế
(IMO) đã tổ chức chứng nhận GAP cho một số cơ sở sản xuất rau, cà phê ở Đà Lạt.
Tiếp theo đó là các đơn vị sản xuất quả Thanh Long ở Bình Thuận, ngƣ trƣờng tôm ở
miền Tây cũng lần lƣợt đƣợc công nhận sản xuất đạt tiêu chuẩn GAP.
Do nắm bắt đƣợc tầm quan trọng và tính bức xúc để có “GAP” cho Việt Nam
nên chi nhánh Hội Làm vƣờn Việt Nam đã đệ trình 1 bản tƣờng trình với lãnh đạo Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) về việc ra đời VietGAP. Ngày
28-1-2008 Bộ NN & PTNT đã phê chuẩn văn bản và VietGAP đã ra đời. Dù ra đời
muộn, nhƣng VietGAP đã thừa hƣởng đƣợc kinh nghiệm của nhiều GAP trƣớc, nên
đã nhanh chóng phát huy tác dụng. Việc quy định những tiêu chuẩn chính trong sản
xuất nông nghiệp của VietGAP là gì? Đó là 26 tiêu chuẩn và hiện đang tập trung vào
12 nội dung chính quy định để sản xuất nông nghiệp tốt nhƣ sau:
1. Đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất
2. Giống và gốc ghép
3. Quản lý đất và giá thể
4. Phân bón và chất phụ gia
5. Nƣớc tƣới
6. Hóa chất (gồm phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật)
7. Thu hoạch và xử lý sau thu hoạch
8. Quản lý và xử lý chất thải
9. An toàn lao động
10. Ghi chép, lƣu trử hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm
11. Kiểm tra nội bộ
5
12. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
VietGAP là chƣơng trình kiểm tra an toàn thực phẩm xuyên suốt từ A đến Z của
dây chuyền sản xuất, đƣợc bắt đầu từ khâu chuẩn bị trang trại, canh tác đến khâu thu
hoạch, sau thu hoạch, tồn trữ, kể cả các yếu tố liên quan nhƣ môi trƣờng, các chất hóa
học bảo vệ thực vật, bao bì và ngay cả điều kiện làm việc, phúc lợi của ngƣời lao
động trong nông trại.
Dƣới đây là tóm tắt sơ bộ một số điều kiện về đất đai, cơ sở vật chất yêu cầu để sản
xuất và nhân lực:
a- Đất canh tác và giá thể (Phụ lục 1: Giá trị giới hạn tối đa cho phép của một số
kim loại nặng trong đất, giá thể)
- Không bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố gây ô nhiễm sản phẩm nhƣ: mùi, khói, bụi, chất
thải, hóa chất độc hại từ hoạt động giao thông vận tải, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và làng nghề, sinh hoạt khu dân cƣ, bệnh viện, khu chăn nuôi, cơ sở giết mổ,
nghĩa trang.
- Đất cao, thoát nƣớc thích hợp với sự sinh trƣởng của rau.
- Cách ly với khu vực có chất thải công nghiệp và bệnh viện ít nhất là 2 km, với chất
thải sinh hoạt thành phố ít nhất là 200 m.
- Đất không bị tồn dƣ hóa chất độc hại.
- Sử dụng nguồn nƣớc tƣới sạch từ sông, hồ không bị ô nhiễm hoặc phải qua xử lý.
- Sử dụng nƣớc giếng khoan (đối với rau xà lách và các loại rau gia vị).
- Dùng nƣớc sạch để pha phân bón lá và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV).
- Hàm lƣợng các kim loại nặng trong đất, giá thể không vƣợt quá quy định
- Trƣờng hợp đất có chứa kim loại nặng vƣợt giá trị tối đa cho phép thì phải có biện
pháp cải tạo đất hoặc lựa chọn loài cây trồng, biện pháp canh tác phù hợp.
b- Nƣớc tƣới (Phụ lục 2: Giá trị giới hạn tối đa cho phép của một số kim loại nặng, vi
sinh vật gây hại trong nƣớc tƣới đối với sản xuất rau, quả tƣơi)
- Sử dụng nguồn nƣớc tƣới từ sông không bị ô nhiễm hoặc phải qua xử lý.
- Sử dụng nƣớc giếng khoan (đối với rau xà lách và các loại rau gia vị).
- Dùng nƣớc sạch để pha phân bón lá và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV).
c- Điều kiện trong quá trình sản xuất (giống, phân bón..)
- Sử dụng giống có trong Danh mục giống cây trồng đƣợc phép sản xuất, kinh doanh,
giống cây trồng bản địa đã đƣợc sản xuất, tiêu dùng, không gây độc cho ngƣời.
- Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất giống. Giống nhập nội phải qua kiểm dịch.
- Chỉ gieo trồng các loại giống tốt và trồng cây con khỏe mạnh, không mang nguồn
sâu, mầm bệnh.
- Hạt giống trƣớc khi gieo cần đƣợc xử lý hóa chất hoặc nhiệt để diệt nguồn sâu bệnh.
- Sử dụng phân bón có tên trong danh mục phân bón đƣợc phép sản xuất, kinh doanh
và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, đang có
hiệu lực.
- Không đƣợc sử dụng trực tiếp phân tƣơi (chất thải của ngƣời, động vât). Trƣờng hợp
sử dụng các loại phân này phải đƣợc xử lý hoai mục và đảm bảo vệ sinh môi trƣờng.
- Có bể hoặc dụng cụ chứa vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật. Bể hoặc dụng cụ chứa
phải có đáy, mái che, đảm bảo không cho thuốc hóa học bảo vệ thực vật còn tồn dƣ
phát tán ra bên ngoài.
d- Phân bón
6
- Tăng cƣờng sử dụng phân hữu cơ hoai mục bón cho rau.
- Tuyệt đối không bón các loại phân chuồng chƣa ủ hoai, không dùng phân tƣơi pha
loãng nƣớc để tƣới.
- Sử dụng phân hoá học bón thúc vừa đủ theo yêu cầu của từng loại rau. Cần kết thúc
bón trƣớc khi thu hoạch ít nhất 15 ngày.
đ- Phòng trừ sâu bệnh.
Áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp Intergrated Pest Management -
IPM
- Luân canh cây trồng hợp lý.
- Sử dụng giống tốt, chống chịu sâu bệnh và sạch bệnh.
- Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây (tạo cây khỏe).
- Thƣờng xuyên vệ sinh đồng ruộng.
- Sử dụng nhân lực bắt giết sâu.
- Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh hợp lý.
- Kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với
sâu, bệnh.
- Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học khi thật cần thiết và theo các yêu cầu sau:
+ Không sử dụng các loại thuốc cấm sử dụng cho rau.
+ Chọn các thuốc có hàm lƣợng hoạt chất thấp, ít độc hại với thiên địch, các động
vật khác và con ngƣời.
+ Ƣu tiên sử dụng các thuốc sinh học (thuốc có nguồn gốc từ vi sinh vật và thảo
mộc).
+ Tùy loại thuốc mà nông dân thực hiện theo hƣớng dẫn sử dụng và thời gian thu
hoạch.
e- Sử dụng một số biện pháp khác
- Sử dụng nhà lƣới, nhà kính để che chắn: nhà lƣới, nhà kính có tác dụng hạn chế sâu,
bệnh, cỏ dại, sƣơng giá, nắng hạn, rút ngắn thời gian sinh trƣởng của rau, ít dùng
thuốc hóa học bảo vệ thực vật.
- Sử dụng màng nilon để phủ đất sẽ hạn chế sâu, bệnh, cỏ dại, tiết kiệm nƣớc tƣới, hạn
chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
g- Thu hoạch
- Thu hoạch rau đúng độ chín, đúng theo yêu cầu của từng loại rau, loại bỏ lá già héo,
trái bị sâu bệnh và dị dạng.
- Rửa kỹ rau bằng nƣớc sạch, dùng bao túi sạch để chứa đựng.
- Nơi bảo quản, xử lý phân bón, tàn dƣ thực vật và nơi chứa thuốc bảo vệ thực vật,
dụng cụ pha, bình bơm đƣợc che nắng mƣa, cách ly với khu vực chứa sản phẩm,
nguồn nƣớc tƣới.
f- Sơ chế và kiểm tra: Sau khi thu hoạch, rau sẽ đƣợc chuyển vào phòng sơ chế. Ở
đây rau sẽ đƣợc phân loại, làm sạch. Rửa kỹ rau bằng nƣớc sạch, dùng bao túi sạch để
chứa đựng.
h- Vận chuyển:
- Sau khi đóng gói, rau sẽ đƣợc niêm phong và vận chuyển đến cửa hàng hoặc trực
tiếp cho ngƣời sử dụng trong vòng 2 giờ để đảm bảo điều kiện vệ sinh và an toàn.
7
i- Bảo quản và sử dụng: Rau đƣợc bảo quản ở cửa hàng ở nhiệt độ 200 C và thời gian
lƣu trữ không quá 2 ngày. Rau an toàn có thể sử dụng ngay không cần phải ngâm
nƣớc muối hay các chất làm sạch khác.
Để rau đƣợc ngon và tƣơi, khách hang nên mua vừa đủ và sử dụng ngay trong
ngày.
k- Hồ sơ lƣu trữ: (Phụ lục 3:quy định mức giới hạn tối đa cho phép của một số vi
sinh vật và hoá chất gây hại trong sản phẩm rau, quả, chè...) (Ban hành kèm theo
Quyết định số 99 /2008/QĐ-BNN ngày 15 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn)
- Thông tin cần ghi chép và lƣu giữ từ ngày sản xuất đến thu hoạch để truy xuất nguồn
gốc gồm: Giống, gốc ghép: tên giống, nơi sản xuất, hoá chất xử lý và mục đích xử lý
(nếu có). Phân bón: tên phân bón, nơi sản xuất, thời gian sử dụng, liều lƣợng, phƣơng
pháp bón, thời gian cách ly. Thuốc bảo vệ thực vật: tên dịch hại, tên thuốc, nơi mua,
thời gian sử dụng, nồng độ, liều lƣợng, dụng cụ phun, ngƣời phun thuốc, thời gian
cách ly. Sản phẩm: tên sản phẩm, ngày thu hoạch, mã số lô, khối lƣợng, tên và địa chỉ
khách hàng.
l- Kiểm soát, đánh giá và yêu cầu về lao động:
- Ngƣời lao động phải có chứng chỉ tập huấn về an toàn thực phẩm trong sản xuất rau,
quả.
- Cơ sở sản xuất phải có quy định nội bộ, trong đó sản xuất, thực hiện đánh giá và lập
báo cáo đánh giá nội bộ ít nhất mỗi năm phân công rõ trách nhiệm duy trì các điều
kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong quá trình.
1.2. Lợi ích của VietGAP
Hiện nay ở Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm nông sản sạch và an toàn
là rất lớn, vì vậy cần thiết phải áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP vào sản xuất nông
nghiệp để mang lại lợi ích lớn nhất cho nông dân và các doanh nghiệp sản xuất, chế
biến và phân phối sản phẩm nhƣ:
- Tạo ra khối lƣợng sản phẩm lớn, chất lƣợng cao hơn, sản phẩm đƣợc công nhận theo
tiêu chuẩn VietGAP đƣợc đánh giá cao, dễ dàng lƣu thông trên thị trƣờng Việt Nam
và một số nƣớc nhập khẩu. Làm tăng sự tin tƣởng của khách hàng đối với thực phẩm,
an toàn hơn, bảo vệ ngƣời tiêu dùng trƣớc nguy cơ thực phẩm không tốt tới sức khỏe.
- Tạo lợi thế cạnh tranh, nâng cao thƣơng hiệu của nhà sản xuất, chế biến và phân
phối.
- Giúp tăng cƣờng cho ngành chăn nuôi, trồng trọt bền vững, giảm thiểu tác động tiêu
cực tới môi trƣờng và đảm bảo lợi ích cho toàn xã hội.
- Tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa 4 nhà: nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và
nhà quản lý...
- Khách hàng đã góp phần thay đổi thói quen sản xuất, cách suy nghĩ của nông dân
cũng nhƣ doanh nghiệp về sản xuất nông nghiệp bền vững theo VietGAP.
Nhƣ vậy là ngoài hiệu quả kinh tế lâu dài thì sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP
đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức, tƣ tƣởng và hành động của
ngƣời nông dân, giúp họ hiểu đƣợc là trong sản xuất, kinh doanh, chất lƣợng sản
phẩm mới là điều kiện tiên quyết và sống còn để duy trì sự phát triển. Không những
thế, sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn VietGAP còn thúc đẩy sự kết nối giữa sản
xuất với thị trƣờng, từ đó mang lại lợi ích, thu nhập cao hơn cho ngƣời sản xuất, từng
8
bƣớc xây dựng thƣơng hiệu cho ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản an toàn, góp
phần bảo vệ sức khỏe ngƣời tiêu dùng ở nƣớc ta. Qua 6 năm triển khai đến ngƣời
nông dân, VietGAP đã phát huy đƣợc những ƣu thế của mình, góp phần không nhỏ
vào nâng cao nhận thức của ngƣời dân về sản xuất thực phẩm an toàn, vệ sinh an toàn
thực phẩm.
Sau khi gia nhập Tổ chức thƣơng mại quốc tế WTO, ngành thƣơng mại Việt
Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực, trong đó đáng chú ý là lƣợng đầu tƣ trực tiếp
và gián tiếp đều tăng mạnh so với trƣớc. Tuy nhiên, lƣợng xuất khẩu hàng hóa của
Việt Nam ra nƣớc ngoài chƣa đƣợc nhƣ kỳ vọng. Một phần nguyên nhân chính là
hàng hóa của chúng ta vấp phải các quy định về tiêu chuẩn hàng hóa rất khắt khe của
các nƣớc nhập khẩu. Theo nhận định của các chuyên gia thì thị trƣờng xuất, nhập
khẩu nông sản trên thế giới đang đƣợc kiểm soát bởi những đại siêu thị, những tập
đoàn đa quốc gia với các tiêu chuẩn rất cao về chất lƣợng sản phẩm cũng nhƣ vệ sinh
an toàn thực phẩm.
Đến nay, hàng trăm tổ chức, đơn vị, cá nhân đã có sản phẩm đƣợc công nhận
đạt tiêu chuẩn VietGAP và đang tham gia vào các dịch vụ buôn bán các sản phẩm
nông sản ngang hàng với các nƣớc trong khu vực và thế giới. Nhiều hộ nông dân, đặc
biệt ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã thu đƣợc nhiều kết quả khả quan, nhƣ
Thanh Long sạch, Xoài sạch, Quýt sạch đảm bảo đúng tiêu chuẩn Viet GAP, dần
chiếm đƣợc lòng tin của ngƣời tiêu dùng. Năm 2015, sự kiện Vải thiều Việt Nam đã
đƣợc chấp nhận vào thị trƣờng của 6 nƣớc phát triển trong đó có Mỹ, Nhật, Úc..., điều
này đã giúp cho nông dân trồng vải phấn khởi, yên tâm và chuyên tâm vào sản xuất
sản phẩm của mình.
Để xuất khẩu đƣợc Vải thiều vào 2 thị trƣờng Mỹ và Úc thì vải Việt Nam phải
trải qua nhiều quy định bắt buộc theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Phía Mỹ đã
đƣa ra danh sách một số loại sâu bệnh cụ thể, một số loại thuốc bảo vệ thực vật không
đƣợc phép sử dụng trên vải. Ngƣợc lại, Việt Nam cũng xây dựng xong bản đồ chiếu
xạ (quy trình diệt khuẩn, làm sạch sản phẩm, nâng cao chất lƣợng và kéo dài thời gian
bảo quản), với chi phí 0,6 đến 1 USD cho mỗi kg sản phẩm. Ngoài nƣớc Mỹ và Úc ra
thì Trung Quốc vẫn là thị trƣờng truyền thống của dƣa hấu, vải thiều, rau quả khác
của Việt Nam, việc kiểm định ở các cửa khẩu cũng ngày một chặt chẽ hơn đối với các
mặt hàng rau quả Việt Nam. Điều đó cho thấy VietGAP, GlobalGAP... rất quan trọng
đối với sự tồn tại, phát triển thị trƣờng nông sản trong nƣớc và quốc tế của nông
nghiệp Việt Nam.
Mặc dù vậy nhƣng VietGAP vẫn chƣa tạo sự tin tƣởng cho ngƣời tiêu dùng?
Vì sao vậy? Phải chăng là do nhận thức của nông dân chƣa đến nơi đến chốn, ý thức
chƣa cao và kiến thức chƣa đƣợc trang bị đầy đủ về sử dụng phân vô cơ và hóa chất
bảo vệ thực vật hợp lý. Mặt khác trong sản xuất còn thiếu chuỗi liên kết để kiểm tra
và giám sát chất lƣợng, cho nên cho dù sản xuất nông nghiệp đƣợc tiến hành theo
VietGAP từ nhiều năm nay, nhƣng sản phẩm vẫn bị lẫn với sản xuất thông thƣờng
không VietGAP. Để khắc phục, nhà nƣớc phải hỗ trợ cho nông dân thực hiện chuỗi
liên kết trong sản xuất VietGAP hoặc thay đổi hƣớng mới theo sản xuất nông nghiệp
hữu cơ, chúng tôi tin tƣởng rằng trong tƣơng lai sẽ tạo ra các sản phẩm hữu cơ thật sự,
đảm bảo chất lƣợng và an toàn vệ sinh thực phẩm.
1.3. Sự khác nhau giữa sản xuất nông nghiệp theo VietGAP và hữu cơ:
9
1.3.1. Sự giống nhau:
Sản xuất nông nghiệp theo VietGAP và hữu cơ có điểm giống nhau cơ bản là
đều hƣớng để tạo ra các loại nông sản tốt và an toàn cho ngƣời tiêu dùng, đồng thời
phải an toàn cho ngƣời sản xuất, vật nuôi và bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ nguồn thiên
địch có ích trong tự nhiên.
Phần lớn các nguyên tắc cơ bản, yêu cầu về đất đai, nguồn nƣớc… và các tiêu
chuẩn trong quy trình sản xuất cũng tƣơng tự giống nhƣ nhau.
1.3.2. Sự khác nhau:
a- Sản xuất nông nghiệp hữu cơ khác biệt lớn nhất với VietGAP là hệ thống canh tác
và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, giúp
giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho con ngƣời và vật nuôi. Mục tiêu hàng đầu
của sản xuất nông nghiệp hữu cơ là tối đa hóa sức khỏe và năng suất của các cộng
đồng độc lập về đời sống đất đai, cây trồng, vật nuôi và con ngƣời. Nhƣ vậy sự khác
biệt rõ nhất giữa sản phẩm hữu cơ với sản phẩm VietGAP là tiêu chuẩn chính trong
quy trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngƣời nông dân không đƣợc sử dụng phân bón
vô cơ và các chất kích thích để tăng trƣởng, không sử dụng các hóa chất bảo vệ thực
vật, thuốc trừ sâu, bệnh hoặc diệt cỏ... Sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng từ chối việc
sử dụng các sinh vật biến đổi gen GMO.
Còn trong quy trình sản xuất rau quả và sản phẩm nông nghiệp theo VietGAP vẫn
sử dụng một số lƣợng nhất định thuốc trừ sâu và phân bón vô cơ, thức ăn tăng trọng
và các chất kích thích trong chăn nuôi một cách hợp lý, ở đây khái niệm hợp lý là thế
nào? Ai là ngƣời kiểm tra giám sát việc sử dụng này? Thực tế đến nay VietGAP vẫn
chƣa đảm bảo độ tin cậy cho ngƣời tiêu dùng bởi chính lí do này.
Nông dân canh tác theo mô hình nông nghiệp hữu cơ là dựa tối đa vào việc quay
vòng mùa vụ, các phần thừa sau thu hoạch, phân động vật và việc canh tác cơ giới để
duy trì năng suất đất nhằm cung cấp các chất dinh dƣỡng cho cây trồng và kiểm soát
cỏ dại, côn trùng hại cũng nhƣ các loại bệnh mới khác. Mục đích hàng đầu của sản
xuất nông nghiệp hữu cơ là dù trong canh tác, chế biến, phân phối hay tiêu dùng đều
nhằm duy trì sức khỏe cho các sinh vật trong hệ sinh thái, từ những sinh vật có kích
thƣớc nhỏ nhất sống trong đất đến con ngƣời, làm giảm tối thiểu các loại ô nhiễm do
sản xuất gây ra. Duy trì sự đa dạng hóa gen trong hệ thống nông nghiệp hữu cơ và khu
vực xung quanh nó, bao gồm việc bảo vệ thực vật và nơi cƣ ngụ của các thiên địch
sống trong thiên nhiên tự nhiên hoang dã.
Nhìn chung sản xuất Nông nghiệp hữu cơ đã và sẽ cải thiện, duy trì cảnh quan tự
nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp, tránh việc khai thác quá mức gây ô nhiễm cho các
nguồn lực tự nhiên, giảm thiểu việc sử dụng năng lƣợng và các nguồn lực không thể
tái sinh, sản xuất đủ lƣơng thực có dinh dƣỡng, không độc hại, và có chất lƣợng cao…
Ngoài ra, nông nghiệp hữu cơ còn đảm bảo, duy trì và gia tăng độ màu mỡ lâu dài cho
đất, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại, đặc biệt là các chu trình dinh dƣỡng,
bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, đa dạng các vụ mùa và
các loại vật nuôi, phù hợp với điều kiện địa phƣơng. Nông nghiệp hữu cơ không phải
là phƣơng thức mới mà là phƣơng thức sản xuất cổ truyền từ xa xƣa của cha ông ta,
nay đƣợc cải tiến và vận dụng khoa học kỹ thuật mới để tạo ra sản phẩm có chất
lƣợng, bảo đảm cho sức khỏe con ngƣời. Hiện nay, Nông nghiệp hữu cơ đang đƣợc
10
ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng toàn thế giới hƣớng tới và quan tâm, đây cũng
chính là xu thế tất yếu của nông nghiệp hữu cơ bền vững trên toàn cầu.
b- Sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn khác với sản xuất VietGAP ở chỗ sản xuất hữu
cơ theo hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS (Participatory Guarantee System),
nghĩa là các bên liên quan cùng tham gia vào trong hệ thống để cùng nhau giám sát
nhằm đảm bảo chất lƣợng đến tay ngƣời tiêu dùng. Còn trong sản xuất VietGAP vẫn
chƣa có chuỗi liên kết giám sát chất lƣợng sản phẩm, mặc dù mới đây tổ chức Jica
Nhật Bản đã giúp nông dân các tỉnh Hƣng Yên, Hải Phòng, Thái Bình…sản xuất rau
an toàn theo GAP đã có hỗ trợ nông dân chuỗi liên kết giám sát, tuy chỉ là ban đầu.
Khó khăn trong sản xuất rau an toàn theo VietGAP là quy mô sản xuất nhỏ lẻ và hiện
nay nông dân nhiều vùng vẫn chƣa có thói quen ghi chép nhật kí trồng trọt hoặc dán
nhãn sản phẩm…
1.4. Vì sao nông dân và ngƣời tiêu dùng lại chọn sản xuất và sản phẩm nông
nghiệp hữu cơ?
Đã có một số cuộc điều tra đƣợc thực hiện trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam
để nông dân trả lời câu hỏi này và tất cả nông dân toàn thế giới đều có chung câu trả
lời đó là: Vì sức khoẻ của cả gia đình họ, vì có thu nhập cao hơn, vì có môi trƣờng
sống tốt hơn và vì thực phẩm an toàn hơn.
Theo ngƣời tiêu dùng thì sản phẩm hữu cơ không có dƣ lƣợng thuốc trừ sâu và
chất kích thích tăng trƣởng. Rau quả hữu cơ có vị ngon hơn, nhiều dinh dƣỡng hơn và
bảo quản đƣợc lâu hơn. Rau quả hữu cơ có chứa nhiều chất chống ôxy hoá có tác
dụng chống các bệnh ung thƣ hơn các loại thực phẩm canh tác theo phƣơng thức
thông thƣờng.
1.5. Phụ lục
1.5.1. Giá trị giới hạn tối đa cho phép của một số kim loại nặng trong đất, giá thể
(sản xuất theo VietGAP)
-
Giá trị giới hạn
(mg/kg đất khô)
TT
Thông số(1)
1
Arsen (As)
Cadimi (Cd)
Chì (Pb)
Đồng (Cu)
Kẽm (Zn)
12
2
70
50
200
2
3
4
5
1.5.2. Giá trị giới hạn tối đa cho phép của một số kim loại nặng, vi sinh vật gây
hại trong nƣớc tƣới đối với sản xuất rau, quả tƣơi
TT
Thông số(2)
Giá trị giới hạn
Đơn vị
Ghi chú
0,001
1
Thuỷ ngân (Hg)
mg/l
2
3
Cadimi (Cd)
Arsen (As)
mg/l
mg/l
0,01
0,05
11
4
5
Chì (Pb)
mg/l
0,05
200
Đối với rau ăn tƣơi
sống
Fecal. Coli
Sốvi khuẩn/
100 ml
1.5.3. Quy định mức giới hạn tối đa cho phép của một số vi sinh vật và hoá chất
gây hại trong sản phẩm rau, quả, chè... (Ban hành kèm theo Quyết định số 99
/2008/QĐ-BNN ngày 15 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn)
STT
Chỉ tiêu
Mức giới hạn tối
đa cho phép
mg/kg
Phƣơng pháp thử (*)
I
Hàmlƣợng nitrat (NO3)
quy định cho rau
Xà lách
Rau gia vị
Bắp cải, Su hào, Suplơ, Củ
cải, tỏi
TCVN 5247:1990
1
2
3
1.500
600
500
4
Hành lá, Bầu bí, Ớt cây,
Cà tím
400
5
6
7
Ngô rau
300
250
200
Khoai tây, Cà rốt
Đậu ăn quả, Măng tây, Ớt
ngọt
8
9
Cà chua, Dƣa chuột
Dƣa bở
150
90
9
Dƣa bở
90
11
II
Dƣa hấu
60
VSV gây hại (quy định
cho rau, quả)
Salmonella
CFU/g **
1
2
0
200
TCVN 4829:2005
TCVN4883:1993;
6848:2007
Coliforms
3
Escherichia coli
10
TCVN 6846:2007
III
Hàm lƣợng kim loại
nặng ( cho rau, quả, chè)
Arsen (As)
mg/kg
1
2
1,0
TCVN 7601:2007;
5367:1991
TCVN 7602:2007
Chì (Pb)
Cải bắp, rau ăn lá
Quả, rau khác
Chè
0,3
0,1
2,0
3
4
Thủy Ngân (Hg)
Cadimi (Cd)
0,05
TCVN 7604:2007
TCVN 7603:2007 Cadimi (Cd)
12
- Rau ăn lá,
0,1
0,2
- Rau thơm, nấm
Rau ăn thân, rau ăn củ,
khoai tây
Rau khác và quả
Chè
0,05
1,0
IV
Dƣ lƣợng thuốc BVTV
(quy định cho rau, quả,
chè)
1
Những hóa chất có trong Theo QĐ46/2007/
Theo TCVN hoặc ISO,
CODEX tƣơng ứng
QĐ46/2007
/QĐ-BYT
QĐ-BYT ngày
ngày 19/12/2007 của Bộ
19/12/2007 của Bộ Y tế
Những hóa chất không có Theo CODEX hoặc
trong QĐ46/2007/QĐ- ASEAN
Y tế
2
BYT ngày19/12 của Bộ Y
tế
Chƣơng 2
KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CÁC TIÊU CHUẨN
ĐỂ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ
2.1. Sơ lƣợc về quá trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Trên thế giới khó có thể nói nông nghiệp hữu cơ đƣợc xuất hiện vào lúc nào,
nhƣng canh tác hữu cơ chính là cách lựa chọn đƣợc phát triển trƣớc khi các nhà khoa
học phát minh ra các hóa chất nông nghiệp tổng hợp. Nông nghiệp hữu cơ đƣợc thực
hiện từ năm 1920 đến năm 1940 bằng sáng kiến của một số ngƣời tiên phong đang cố
gắng cải tiến canh tác truyền thống cùng với các phƣơng pháp đặc trƣng. Vào thời
điểm đó, các phƣơng pháp mới chỉ tập trung vào độ phì của đất, lấy mùn đất làm căn
cứ và cân bằng sinh thái là trọng tâm trong phạm vi trang trại.
Những năm 1950, việc áp dụng các giống cây trồng mới có năng suất cao, kết
hợp với cơ giới hóa và sử dụng hóa chất trong nông nghiệp tƣơng đối phổ biến, lúc ấy
ngƣời ta gọi là nền nông nghiệp "Cách mạng xanh”. Thời gian đó có một số nhà khoa
học đã phản đối hƣớng phát triển mới này và họ đã đƣa ra phƣơng thức canh tác hữu
cơ nhƣ làm phân ủ, cải tiến luân canh cây trồng hoặc trồng cây phân xanh..., chính vì
vậy mà khoảng cách giữa canh tác hữu cơ và canh tác bằng hóa chất ngày càng lớn.
Từ năm 1970 đến năm 1980, do tác động tiêu cực của “Cách mạng xanh” ảnh hƣởng
tới sức khỏe của ngƣời sản xuất và môi trƣờng sinh thái ngày càng trở nên trầm trọng
và rõ ràng, nên nhận thức của cả nông dân và ngƣời tiêu dùng về vấn đề “hữu cơ”
cũng dần đƣợc tăng lên. Hệ thống canh tác tƣơng tự nhƣ “Nông nghiệp vĩnh cửu”
hoặc “Nông nghiệp có đầu vào từ bên ngoài thấp” đã không ngừng đƣợc mở rộng.
Năm 1990, canh tác hữu cơ trên thế giới tăng lên khá mạnh, do vậy số vụ bê bối
về thực phẩm và thảm họa môi trƣờng đã giảm xuống, điều đó làm tăng nhận thức cho
13
ngƣời tiêu dùng, cùng với các chính sách hỗ trợ của một số nƣớc phát triển tạo cơ hội
để phát triển nông nghiệp hữu cơ ngày càng gia tăng. Thời gian này cũng xuất hiện
hàng loạt cải tiến mới về kỹ thuật hữu cơ, đặc biệt là quản lý dịch sâu, bệnh hại theo
hƣớng sinh học và phân bố hệ thống canh tác có hiệu quả hơn đã đƣợc phát triển rộng
rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Từ năm 2004 đến nay, canh tác hữu cơ đang hứa hẹn tốc độ tăng trƣởng nhanh
trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
2.2. Khái niệm cơ bản về sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là sản xuất theo nguyên tắc đƣợc quy định trong
tiêu chuẩn của Liên đoàn các Phong trào canh tác nông nghiệp hữu cơ quốc tế
(IFOAM), với mục tiêu đảm bảo hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, tạo ra những sản
phẩm có chất lƣợng an toàn với ngƣời sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế, duy trì và
nâng cao độ màu mỡ của đất. Đây là phƣơng pháp trồng rau, quả… không đƣợc sử
dụng hoá chất độc hại trong bảo vệ thực vật để trừ sâu, bệnh, cỏ dại, cũng nhƣ các loại
phân hoá học, sản xuất chú trọng đến cân bằng hệ sinh thái trong tự nhiên.
Theo IFOAM thì vai trò của nông nghiệp hữu cơ trong canh tác, chế biến, phân
phối hay tiêu dùng đều nhằm mục đích duy trì sức khỏe hệ sinh thái và các sinh vật kể
cả các sinh vật có kích thƣớc nhỏ nhất sống trong đất đến con ngƣời. Canh tác hữu cơ
sẽ cải thiện và duy trì cảnh quan tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp, tránh khai thác
quá mức gây ô nhiễm môi trƣờng trong tự nhiên, giảm thiểu sử dụng năng lƣợng và
các nguồn không tái sinh để sản xuất ra lƣơng thực mà không gây độc hại, có chất
lƣợng cao, đồng thời đảm bảo, duy trì và làm tăng độ màu mỡ cho đất trong thời gian
dài, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại, đặc biệt là chu trình dinh dƣỡng, bảo
vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, làm đa dạng mùa vụ và các
loại vật nuôi sao cho phù hợp với điều kiện của địa phƣơng.
2.3. Những nguyên tắc cơ bản để sản xuất nông nghiệp hữu cơ
- Hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ phải gắn liền với hệ sinh thái.
- Nông dân canh tác theo nông nghiệp hữu cơ phải dựa tối đa vào việc quay vòng mùa
vụ, tận dụng các phần thừa sau thu hoạch, phân động vật vào canh tác thủ công và cơ
giới để duy trì độ phì cho đất, cung cấp chất dinh dƣỡng cho cây trồng, đồng thời có
thể kiểm soát đƣợc các loại sâu, bệnh hại và cỏ dại.
- Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là không sử dụng các hóa chất tổng hợp nhƣ thuốc trừ
sâu, phân vô cơ, các chất điều tiết sinh trƣởng của cây trồng và các phụ gia trong thức
ăn gia súc.
- Hạn chế tối đa ô nhiễm và mất an toàn của cơ sở sản xuất, khu vực thu hái tự nhiên
và môi trƣờng xung quanh.
- Đảm bảo chất lƣợng của sản phẩm hữu cơ trong suốt quá trình sản xuất, chế biến và
trong chuỗi cung ứng sản phẩm.
- Mục đích đầu tiên của nông nghiệp hữu cơ là tối đa hóa sức khỏe và năng suất của
cộng đồng, độc lập về đất đai, cây trồng, vật nuôi và con ngƣời.
2.4. Các tiêu chuẩn trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Muốn trở thành nhà sản xuất nông nghiệp hữu cơ thì nông dân, doanh nghiệp
phải thực hiện theo tiêu chuẩn đảm bảo cùng tham gia (Participatory Guarantee
System - PGS) trong sản xuất hữu cơ nhƣ các tiêu chuẩn trong Hệ thống đảm bảo
cùng tham gia PGS đƣợc Tổ chức Phát triển nông nghiệp châu Á - Đan Mạch
14
(ADDA) sử dụng, các tiêu chuẩn đó đã nêu những gì làm đƣợc và không đƣợc làm
trong canh tác hữu cơ, ví dụ nhƣ các tiêu chuẩn không đƣợc sử dụng hóa chất.
Các tiêu chuẩn trong sản xuất hữu cơ theo PGS đƣợc xây dựng dựa trên Bộ tiêu
chuẩn về sản xuất và chế biến các sản phẩm hữu cơ (10TCN 602-2006) đã đƣợc Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 30/12/2006 và Bộ tiêu chuẩn
PGS của IFOAM. Hiện nay, tiêu chuẩn PGS hữu cơ là bộ tiêu chuẩn nội địa đầu tiên
ở Việt Nam đã đƣợc IFOAM công nhận năm 2013 và đƣợc trình bày tóm tắt trong 24
tiêu chuẩn cơ bản nhƣ sau:
1- Nguồn nƣớc đƣợc sử dụng trong canh tác hữu cơ phải là nguồn nƣớc sạch,
không bị ô nhiễm (theo quy định trong sản xuất rau an toàn TCVN 5942-1995);
2- Khu vực sản xuất hữu cơ phải đƣợc cách ly tốt khỏi các nguồn ô nhiễm nhƣ
các nhà máy, khu sản xuất công nghiệp, khu vực đang xây dựng, các trục đƣờng giao
thông chính…;
3- Cấm sử dụng tất cả các loại phân bón hóa học;
4- Cấm sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học;
5- Cấm sử dụng các chất tổng hợp kích thích sinh trƣởng;
6- Các thiết bị phun thuốc đã đƣợc sử dụng trong canh tác thông thƣờng thì
không đƣợc sử dụng trong canh tác hữu cơ;
7- Các dụng cụ đã dùng trong canh tác thông thƣờng phải đƣợc làm sạch trƣớc
khi đƣa vào sử dụng trong canh tác hữu cơ;
8- Nông dân phải duy trì việc ghi chép vào sổ tất cả vật tƣ đầu vào dùng trong
canh tác hữu cơ;
9- Không đƣợc sản xuất song song: Các cây trồng trong ruộng hữu cơ phải khác
với các cây đƣợc trồng trong ruộng thông thƣờng;
10- Nếu ruộng gần kề có sử dụng các chất bị cấm trong canh tác hữu cơ thì
ruộng hữu cơ phải có một vùng đệm để ngăn cản sự xâm nhiễm của các hóa chất từ
ruộng bên cạnh. Cây trồng hữu cơ phải trồng cách vùng đệm ít nhất là một mét. Nếu
sự xâm nhiễm xảy ra qua đƣờng không khí thì cần phải có một loại cây đƣợc trồng
trong vùng đệm để ngăn chặn bụi xâm nhiễm. Loại cây trồng trong vùng đệm phải là
loại cây khác với loại cây trồng hữu cơ. Nếu việc lây nhiễm xảy ra qua đƣờng nƣớc
thì phải có một bờ đất hoặc rãnh thoát nƣớc để tránh sự lây nhiễm do nƣớc bẩn tràn
qua;
11- Các loại cây trồng hàng năm phải qua giai đoạn chuyển đổi 6 tháng nếu khu
vực sản xuất đƣợc chứng nhận là “đủ điều kiện sản xuất an toàn” hoặc 12 tháng trong
trƣờng hợp không có chứng nhận an toàn. Sản phẩm trong thời kỳ chuyển đổi không
đƣợc bán là hữu cơ;
12- Các loại cây trồng lâu năm đƣợc sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ trọn một
vòng đời từ khi kết thúc thu hoạch vụ trƣớc cho đến khi ra hoa và thu vụ tiếp theo.
Sản phẩm sau thời gian chuyển đổi có thể đƣợc bán nhƣ sản phẩm hữu cơ sau khi đã
đƣợc cấp chứng nhận PGS;
13- Cấm sử dụng các vật tƣ đầu vào có chứa sản phẩm biến đổi gen (GMOs);
14- Nên sử dụng hạt giống và vật liệu trồng trọt hữu cơ, nếu không có thì có thể
sử dụng các nguyên liệu gieo trồng thƣờng, nhƣng cấm không đƣợc xử lý bằng hóa
chất trƣớc khi gieo trồng. Không tìm đƣợc hạt giống chƣa xử lý hóa chất thì rửa hạt
giống bằng nƣớc ấm để loại bỏ tạp chất trƣớc khi sử dụng;
15
15- Cấm đốt cành cây, rơm rạ, cấm phá rừng và hủy hoại môi trƣờng sinh thái;
16- Cấm sử dụng phân ngƣời;
17- Phân động vật lấy vào từ bên ngoài trang trại phải đƣợc ủ nóng trƣớc khi
dùng trong canh tác hữu cơ;
18- Cấm sử dụng phân ủ đƣợc làm từ rác thải đô thị;
19- Các sản phẩm từ khí sinh học (biogas) gồm nƣớc và chất lắng không đƣợc
sử dụng trực tiếp mà phải đƣa vào ủ một thời gian trƣớc khi đƣa ra sử dụng;
20- Nông dân phải có các biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn xói mòn và hiện
trạng nhiễm mặn đất;
21- Một loại cây phân xanh cần đƣợc đƣa vào cơ cấu luân canh cây trồng trong
một năm;
22- Túi và các vật đựng để vận chuyển và cất giữ sản phẩm hữu cơ phải mới
hoặc đƣợc làm sạch. Tuyệt đối không đƣợc sử dụng các túi và vật đựng các chất bị
cấm trong canh tác hữu cơ;
23- Hóa chất bảo vệ thực vật bị cấm trong canh tác hữu cơ không đƣợc sử dụng
trong kho tàng trữ các sản phẩm hữu cơ;
24- Chỉ phân bón, chất dƣỡng đất và các đầu vào đƣợc liệt kê trong danh mục
PGS đã phê duyệt thì mới đƣợc sử dụng;
Bảng 1. Danh sách đầu vào đƣợc sử dụng để sản xuất rau, quả hữu cơ
PHẦN 1: CÁC VẬT LIỆU ĐẦU VÀO CẢI THIỆN ĐỘ PHÌ ĐẤT
Đƣợc phép
Vật tƣ
(A)/ Có giới
hạn (R)
Chi tiết và điều kiện sử dụng
Phân động
- Tất cả các loại phân động vật phải đƣợc ủ nóng hoặc
vật bao gồm: Có giới hạn để một thời gian dài đến khi phân hoai mục mới đƣợc
phân gà, vịt, (R)
lợn, bò và
trâu, dơi ...
bón vào ruộng sản xuất hữu cơ
- Không đƣợc sử dụng phân gà hoặc các phân động
vật khác lấy từ các trại nuôi công nghiệp
- Nông dân trồng hữu cơ phải thu gom phân từ các vật
nuôi gia đình để ủ sử dụng cho sản xuất hữu cơ
- Có thể dùng phân động vật chăn thả tự do lấy ngoài
hộ sản xuất, nhƣng phải đƣợc ủ nóng hoặc để hoai
mục
Tro củi (đốt Đƣợc phép - Chỉ dùng tro đốt từ củi (không dùng than củi) mới
từ củi gỗ)
(A)
đƣợc sử dụng nhƣ nguồn kali (K) cung cấp cho cây
- Cách sử dụng tốt nhất là thƣờng xuyên cung cấp một
lƣợng tro nhỏ vì kali róc rất nhanh qua đất ẩm. Nếu
cất trữ tro, cần phải đậy kín, nếu bị mƣa ƣớt có thể
làm kali tan rất nhanh
Phân ủ
Đƣợc phép - Các vật liệu đầu vào để làm phân ủ phải đƣợc lấy từ
(A)
trong trang trại/nơi sản xuất
- Các vật liệu đƣợc lấy từ ngoài nông hộ gồm rơm rạ,
trấu, cây xanh, phân động vật, vỏ cà phê
16
- Ủ phân cần từ 10 đến 20% phân động vật, còn lại là
vật liệu thực vật và rơm rạ. Phân ủ phải ủ nóng trên
60oC từ 8 đến 15 ngày, nếu bắt đầu nguội thì phải đảo
và che phủ lại. Khi thấy giun xuất hiện trong đống ủ
là có thể sử dụng phân đƣợc
- Sử dụng chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (Effective
Microorganism - EM) để kích thích quá trình ủ phân,
bao gồm cả phƣơng pháp ủ Bokashi
Vỏ hoa quả Có giới hạn Không bón trực tiếp vào đất, phải ủ để hoai mục mới
từ nhà máy (R)
chế biến
đƣợc bón
Phân bón vi Có giới hạn - Chỉ có các sản phẩm đƣợc PGS -ADDA phê duyệt
sinh
(R)
thì mới đƣợc dùng, các dạng phân ủ gồm các nguồn
“tự nhiên” ở Việt Nam và phân sinh học
- Cấm sử dụng bùn dùng làm phân vi sinh để bón cho
ruộng trồng cây hữu cơ
Phân khoáng Đƣợc phép - Đƣợc sử dụng các sản phẩm từ các nguồn đã phê
(A)
duyệt. Các phân khoáng đã đƣợc chứng nhận là hữu
cơ hoặc đƣợc chấp nhận trong các tiêu chuẩn hữu cơ
quốc gia nhƣ đá khoáng photphat có thể đƣợc sử
dụng, nhƣng phải nghiền nhỏ trƣớc khi bón
- Tỉ lệ bón theo khuyến cáo của PGS- ADDA
Khoáng
dolomite
Vôi
Đƣợc phép Đƣợc dùng nhƣ một chất cải tạo đất
(A)
Đƣợc phép Đƣợc dùng để cải tạo đất
(A)
Vỏ trấu
Đƣợc phép Không có giá trị dinh dƣỡng nhƣng chúng có thể
(A)
đƣợc dùng để làm lớp phủ hoặc đƣa vào ủ phân để
giữ lại các chất dinh dƣỡng
Rơm
Đƣợc phép Có thể bổ sung làm phân ủ hoặc che phủ. Nếu dùng
(A)
rơm làm ổ cho gia súc thì phải đƣa vào ủ trƣớc khi
bón ra ruộng
Các
dinh Có giới hạn - Các chất dinh dƣỡng tổng hợp nhƣ đồng, coban,
dƣỡng
lƣợng
vi (R)
sunphat, selen, bo, mangan, molypden, kẽm, iốt, sắt
đƣợc dùng, nếu cây và đất có các dấu hiệu thể hiện rõ
sự thiếu hụt các chất trên.- Không sử dụng nitrat và
clorua
Vi sinh vật Đƣợc phép Dung dịch EM đƣợc sử dụng, có thể mua ở các cửa
hữu hiệu EM (A) hàng tại địa phƣơng
Vật liệu: Đƣợc phép - Thu gom các vật liệu lá và cành từ cây họ đậu làm
Điền thanh, (A)
lạc dại, vông,
muồng, đậu
triều
lớp phủ xung quanh cây rồi đƣa vào làm phân ủ
- Áp dụng vào cuối mùa mƣa là tốt nhất
17
Phân ủ từ vật Có giới hạn Đƣợc dùng với điều kiện phân ủ không xử lý thuốc
liệu làm nấm (R)
trừ nấm để diệt các bào tử nấm gây bệnh khi nuôi
nấm
Rỉ đƣờng
Đƣợc phép Có thể dùng nhƣ một nguồn thức ăn cho các vi sinh
(A) vật trong quá trình ủ phân với các vật liệu xanh
Phân giun, Đƣợc phép Có thể bón trực tiếp vào đất hoặc dùng nhƣ một loại
dịch
của phân
lỏng (A)
phân dung dịch pha với tỉ lệ từ 10 đến 20 l nƣớc cho 1
l dịch phân
PHẦN 2: VẬT LIỀU ĐẦU VÀO QUẢN LÝ SÂU BỆNH VÀ CỎ DẠI
Đầu vào A/R Mô tả và điều kiện sử dụng
Các loại bẫy Đƣợc phép Có nhiều loại bẫy khác nhau nhƣ bẫy dính hồ/keo,
sâu bọ
Lƣu huỳnh
(A)
Đƣợc phép Có thể kiểm soát đƣợc nấm, nhƣng phải áp dụng cẩn
(A) thận, hiện tƣợng cháy lá có thể xảy ra khi quá nóng.
Có giới hạn - Kiểm soát nấm và vi khuẩn, có nhiều sản phẩm
bấy pheromon hoặc bẫy đèn…
Đồng
(R)
đồng khác nhau,không phun quá liều
- Đƣợc dùng hỗn hợp Bordeax (đồng sunphat, vôi tôi
và nƣớc) tỉ lệ 40:40, dùng ngay sau pha chế. Có thể bị
cháy lá khi thời tiết nóng hoặc nồng độ cao
Vi sinh vật
Đƣợc phép Trừ các sinh vật biến đổi gen GMO
(A)
Thuốc muối Có giới hạn Kiểm soát nấm mốc sƣơng,10 g/1 l nƣớc
(R)
Các
trùng có lợi
côn Đƣợc phép Có thể đƣa vào ruộng để kiểm soát
(A) sinh học
Dầu khoáng Có giới hạn Kiểm soát côn trùng, tỉ lệ pha với nƣớc 1%
(R)
Thuốc
vi Có giới hạn Trừ Bt chuyển gen GMO cho cây
sinh Bt, V-Bt (R)
Chất
đuổi
xua Đƣợc phép Dầu xả, cây xả...
(A)
Hoa cúc lá Có giới hạn Có thể dùng dịch chiết hoa cúc tự nhiên để kiểm soát
nhỏ
(R)
côn trùng, tránh ảnh hƣởng tới thiên địch bắt mồi trên
cây cam, quýt
2.5. Những tiêu chuẩn bắt buộc trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ
2.5.1. Đa dạng sinh học:
Nông nghiệp hữu cơ khuyến khích các sinh vật và thực vật sống cùng nhau trong
phạm vi lớn, không chỉ ở trên cùng một ruộng mà kể cả các vùng phụ cận. Nếu càng
nhiều loài thực vật, động vật và các sinh vật đất khác nhau sống trong hệ canh tác thì
ở đó có nhiều sinh vật giúp để duy trì độ phì cho đất và ngăn cản các loại sâu, bệnh
hại cây ăn quả. Tính đa dạng sinh học này sẽ giúp cho môi trƣờng sản xuất hữu cơ có
18
năng lực sản xuất ra những sản phẩm lành mạnh trong một môi trƣờng sinh thái đƣợc
cân bằng, ổn định.
2.5.2. Vùng đệm:
Mỗi một vùng sản xuất cây ăn quả hữu cơ phải đƣợc bảo vệ khỏi nguy cơ bị
nhiễm các hóa chất rửa trôi hoặc bay sang từ ruộng bên cạnh, vì thế mỗi hộ nông dân
phải đảm bảo có một khoảng cách thích hợp từ nơi sản xuất quả hữu cơ đến nơi không
sản xuất hữu cơ, khoảng cách này ít nhất là 1,5- 2 mét đƣợc tính từ bờ ruộng đến rìa
của tán cây ăn quả hữu cơ. Nếu nguy cơ ô nhiễm cao thì vùng đệm sẽ phải đƣợc tính
toán và làm rộng hơn, nếu nguy cơ ô nhiễm bay theo đƣờng không khí thì sẽ phải
trồng một loại cây để ngăn chặn sự bay nhiễm. Các cây trồng trong vùng đệm phải
khác với cây trồng hữu cơ, nếu sự ô nhiễm theo đƣờng nƣớc thì sẽ phải tạo một bờ đất
hoặc đào rãnh thoát nƣớc để ngăn cản sự rửa trôi và nhiễm bẩn.
2.5.3. Sản xuất song song:
Để tránh lẫn tạp giữa các cây trồng hữu cơ và cây không hữu cơ (dù chỉ là vô tình)
thì tiêu chuẩn sản xuất cây ăn quả hữu cơ không cho phép trồng cùng một loại cây
trên cả ruộng hữu cơ và ruộng thông thƣờng cùng một thời điểm, ví dụ nhƣ cùng một
lúc sản xuất cam hữu cơ và cam không hữu cơ. Chỉ đƣợc chấp nhận khi các giống
đƣợc trồng trên ruộng hữu cơ và ruộng trồng thƣờng có thể phân biệt giữa chúng với
nhau một cách dễ dàng, trƣờng hợp này có thể áp dụng cho các giống cam hoặc giống
vải có màu sắc khác nhau (màu vàng và màu đỏ)… Việc lẫn tạp chú ý phải đƣợc ngăn
chặn trong quá trình lƣu kho và vận chuyển, vì vậy sản phẩm hữu cơ sẽ đƣợc cất trữ
và vận chuyển một cách riêng lẻ và đƣợc ghi rõ trên nhãn mác là “sản phẩm hữu cơ
PGS”
2.5.4. Giống và vật liệu trồng:
Lý tƣởng nhất là tất cả các hạt giống, cây con đều là hữu cơ, tuy nhiên ở nƣớc ta
hiện vẫn chƣa có hạt giống và cây con hữu cơ đáp ứng đủ cho nhà sản xuất hữu cơ. Vì
thế nếu không có sẵn hạt giống hữu cơ thƣơng mại và cũng không thể sản xuất đƣợc
hạt giống hữu cơ thì nông dân có thể sử dụng hạt giống, cây con không xử lý hóa chất
hoặc xử lý hóa chất bằng các chất đã đƣợc hệ thống PGS cho sử dụng. Nhớ là khi mua
hạt giống ngoài đại lý thì nông dân cần phải đọc trên bao bì xem hạt giống đã đƣợc xử
lý hay chƣa?
2.5.5. Các vật liệu biến đổi gen GMO:
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ chính là ngăn chặn những rủi ro ảnh hƣởng tới sức
khỏe con ngƣời và môi trƣờng sinh thái, cho dù những công nghệ mang tính khoa học
cao phát triển cũng có thể không đƣợc chấp nhận nếu không dự đoán trƣớc đƣợc nguy
cơ xảy ra trong quá trình sản xuất. Vì vậy các vật liệu biến đổi gen (GMOs) không
đƣợc chấp nhận bởi vật liệu gen đƣa vào trong một giống nào đó khi trồng có thể lan
truyền qua con đƣờng tạp giao sang các cây hoang dại hoặc các giống không biến đổi
gen cùng họ. Hậu quả tiêu cực của công nghệ gen có thể sẽ làm mất đi các giống quý
hoặc các loài hoang dại, hiện nay vẫn còn nhiều nghi vấn về tính an toàn với các thực
phẩm biến đổi gen, trong đó mối lo ngại nhất vẫn là vấn đề dị ứng thực phẩm. Điều
này có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ bởi một vài loại thực
vật biến đổi gen có các đặc tính không thích hợp trong canh tác hữu cơ nhƣ các cây
kháng thuốc trừ cỏ hoặc các cây trồng có chứa độc tố từ vi khuẩn. Canh tác hữu cơ
không đƣợc sử dụng thuốc trừ cỏ hóa chất và việc sử dụng các chất điều chế từ vi
19
khuẩn chỉ đƣợc sử dụng nhƣ là biện pháp cuối cùng, nếu các biện pháp phòng ngừa
khác không có hiệu quả.
2.5.6. Đầu vào để sản xuất nông nghiệp hữu cơ:
Các tiêu chuẩn PGS sẽ định hƣớng những loại đầu vào có thể đƣợc sử dụng trong
sản xuất hữu cơ, chú ý là không phải tất cả các sản phẩm trên thị trƣờng có tên gọi
“hữu cơ” hay “sinh học” đều đƣợc sử dụng trong canh tác hữu cơ, vì chúng có thể vẫn
chứa hóa chất hoặc cách thức sản xuất ra không theo các nguyên tắc hữu cơ, ví dụ nhƣ
cách sử dụng các chất biến đổi gen GMOs, do vậy nông dân phải kiểm tra thƣờng
xuyên sản phẩm của mình theo tiêu chuẩn PGS trƣớc khi đƣa vào sử dụng sản phẩm
mới trong sản xuất hữu cơ.
2.5.7. Hệ thống chứng nhận:
Đến nay ở Việt Nam vẫn chƣa có chứng nhận cho các sản phẩm hữu cơ, vì thế
chỉ có một cách giúp giải quyết vấn đề này chính là hệ thống đảm bảo đƣợc tham gia
PGS hữu cơ, xuất phát điểm đƣợc tiến hành từ dự án nông nghiệp hữu cơ ADDA với
Hội Nông dân Việt Nam. Thông thƣờng khoảng 2 - 3 năm sau lần cuối cùng sử dụng
đầu vào hóa chất trong sản xuất thì có thể đƣợc cấp chứng nhận hữu cơ, tuy nhiên hệ
thống PGS chấp nhận các loại quả đƣợc trồng trọn vẹn một mùa (1 năm) theo hữu cơ
PGS kể từ khi chuẩn bị đất cho đến khi bán đƣợc sản phẩm là “hữu cơ”.
Quy trình chứng nhận đƣợc bắt đầu ngay khi toàn bộ đất sản xuất đã đƣợc đăng
ký và bƣớc đầu đi vào sản xuất hữu cơ, mỗi năm nông dân đăng ký sản xuất quả hữu
cơ sẽ đƣợc thanh tra, kiểm tra diễn biến về tình trạng sản xuất hữu cơ, nếu đảm bảo đủ
tiêu chuẩn theo PGS thì sẽ đƣợc cấp chứng nhận.
2.6. Cải tạo đất để tạo độ phì cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngƣời nông dân sản xuất rau, quả đều biết rõ là đất tốt, phì nhiêu sẽ cho cây
khỏe và muốn tạo ra đất tốt thì phải cải tạo độ phì và cấu trúc cho đất thông qua sử
dụng các đầu vào hữu cơ và có các biện pháp quản lý đất một cách nghiêm ngặt. Đầu
vào bao gồm phân ủ, phân động vật, cây phân xanh, các đá khoáng, phân vi sinh và
các loại phân bón dung dịch. Do phân bón hóa học có tác động tiêu cực tới hệ sinh vật
đất và cũng gây hậu quả làm hỏng cấu trúc và độ phì nhiêu của đất, vì thế không đƣợc
sử dụng những loại phân hóa học trong canh tác hữu cơ. Cách làm ban đầu tốt nhất là
phải tạo ra một lƣợng chất hữu cơ trong đất bằng các vật liệu thực vật và phân ủ là
những yếu tố vật chất cần thiết cho quá trình sản xuất rau hữu cơ ở nƣớc ta.
2.6.1. Ủ phân hay phân ủ:
Phần lớn phân ủ đƣợc làm từ các nguyên vật liệu nhƣ thực vật và phân động vật,
quan trọng khi làm phân ủ chính là thu gom các vật liệu hữu cơ lại để chúng thành
đống, đƣợc che phủ tránh mƣa không chảy vào bên trong. Đống ủ phải to, rộng đảm
bảo đƣợc nhiệt độ ủ khi lên men, quá trình nóng lên này rất quan trọng mục đích là
tiêu diệt các mầm bệnh và làm tăng khả năng phân hủy vật liệu, phải đảo đống ủ để
tạo điều kiện cho các vi sinh vật hoạt động tốt trong quá trình ủ. Sản phẩm thu đƣợc
sau khi kết thúc quá trình ủ là một hỗn hợp trông giống nhƣ đất mùn. Muốn thu đƣợc
phân ủ tốt thì phải có một hỗn hợp các vật liệu ủ tốt với hàm lƣợng đạm (N) và các
bon (C) cao. Vật liệu có hàm lƣợng đạm (N) cao bao gồm tất cả các loại phân động
vật, các lá tƣơi v..v. Vật liệu có hàm lƣợng các bon (C) cao gồm các vật liệu gỗ nhƣ
các thân cây, rơm rạ, bã mía, vv. Một hỗn hợp đống ủ tốt có khoảng 50% vật liệu cây
xanh tƣơi, 25- 30% rơm rạ, trấu và 20 - 25% phân động vật sẽ cho hợp chất phân có
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên đề Sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chuyen_de_san_xuat_nong_nghiep_huu_co_o_viet_nam.pdf

