Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học  
của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi  
Nguyễn Thị Minh Hương*  
Trường Đại học Tài chính - Kế toán  
Ngày nhận bài 23/11/2020; ngày chuyển phản biện 27/11/2020; ngày nhận phản biện 25/12/2020; ngày chấp nhận đăng 5/1/2021  
Tóm tắt:  
Trên thực tế, việc chọn ngành, chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông (THPT) rất quan trọng.  
Nghiên cứu này nhằm xác định, đo lường mức độ tác động của một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường  
đại học của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 340 học sinh lớp  
12 của 5 trường THPT tại Quảng Ngãi năm học 2019-2020. Sử dụng các phương pháp phân tích định lượng, kết quả  
nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh THPT tại Quảng Ngãi,  
được xếp từ cao đến thấp gồm: (1) Danh tiếng trường đại học, (2) Hoạt động truyền thông, (3) Điều kiện học tập, (4)  
Yếu tố thuộc về bản thân học sinh, (5) Các cá nhân có ảnh hưởng.  
Từ khóa: học sinh trung học phổ thông, Quảng Ngãi, quyết định chọn trường đại học, yếu tố ảnh hưởng đến quyết  
định chọn trường đại học.  
Chỉ số phân loại: 5.1  
khi tốt nghiệp THPT, cuối cùng là quyết định được xác lập bằng  
hành động cụ thể hướng đến chọn trường đại học, cao đẳng hoặc  
quá trình đào tạo của một tổ chức hướng nghiệp tiên tiến. Theo  
Nguyễn Thị Kim Chi (2018) [2], quyết định lựa chọn trường đại  
học của học sinh THPT được hiểu là khả năng hay dự định thực  
hiện quyết định lựa chọn một trường đại học. Quyết định lựa chọn  
trường đại học được xem xét ở khía cạnh là ý định lựa chọn một  
trường đại học nào đó để ghi danh của học sinh THPT.  
Mở đầu  
Ngày nay, yêu cầu về nguồn nhân lực trình độ cao đóng vai trò  
quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia,  
luôn có sự cạnh tranh gay gắt về việc làm, đòi hỏi chất lượng sinh  
viên sau tốt nghiệp phải ngày càng cao. Điều này mang lại nhiều  
cơ hội cũng như thách thức cho người lao động. Chính vì vậy, ngay  
từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, sinh viên cần hoàn thiện các  
kỹ năng và nâng cao kiến thức nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trên  
thị trường lao động. Không chỉ thế, việc theo học tại một trường  
đại học có chất lượng cũng là nhân tố quan trọng làm tăng cơ hội  
có việc làm. Vì vậy, học sinh THPT, đặc biệt là học sinh lớp 12  
rất quan tâm đến việc chọn ngành học, trường học phù hợp với sở  
thích bản thân cũng như có nhiều cơ hội tìm được việc làm sau khi  
tốt nghiệp.  
Tổng hợp từ những khái niệm trên, trong nghiên cứu này, quyết  
định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT được hiểu là kết  
quả của sự lựa chọn các cơ sở giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu  
của người học sau khi cân nhắc, tính toán từ các nguồn thông tin  
khác nhau.  
Lý thuyết về hành vi lựa chọn của khách hàng  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích: (1) Tìm ra các  
yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của  
học sinh; (2) Xây dựng phương trình hồi quy bội thể hiện sự tác  
động của các yếu tố đến quyết định chọn trường đại học của học  
sinh tại Quảng Ngãi; (3) Đưa ra những thông tin và nhận định giúp  
các trường THPT hay các trường đại học, cao đẳng, cũng như phụ  
huynh và thầy cô có biện pháp nhằm định hướng và giúp các em  
học sinh chọn trường đại học phù hợp.  
Hành vi lựa chọn trường đại học để theo học của học sinh  
cũng giống như hành vi một khách hàng lựa chọn các sản phẩm.  
Do đó, lý thuyết về hành vi lựa chọn của khách hàng sẽ được sử  
dụng để giải thích cho hành vi chọn ngành và trường đại học của  
học sinh. Đã có nhiều nghiên cứu về hành vi lựa chọn của khách  
hàng, hành vi lựa chọn được hiểu là những cách ứng xử mà khách  
hàng thể hiện trong quá trình mua hàng hóa/dịch vụ. Các doanh  
nghiệp thường tìm hiểu hành vi của khách hàng để đưa ra những  
sản phẩm, chiến lược kinh doanh hay chiến lược marketing phù  
hợp trong từng giai đoạn. Nghiên cứu hành vi lựa chọn của khách  
hàng là nghiên cứu cả một quá trình từ việc nhận biết nhu cầu đến  
tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án lựa chọn, quyết định  
Cơ sở lý thuyết  
Khái niệm quyết định chọn trường đại học  
Theo Hossler và cộng sự (1989) [1], quyết định lựa chọn  
trường đại học là một quá trình phức tạp và đa giai đoạn trong đó  
một cá nhân phát triển từ nguyện vọng tiếp tục theo học đại học sau lựa chọn và đánh giá sau chọn.  
*Email: nguyenthiminhh[email protected]  
1
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
lý thuyết cho thấy có 4 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn  
trường đại học của học sinh THPT xếp từ mạnh đến yếu như sau:  
(1) Danh tiếng trường đại học, (2) Cảm nhận về chương trình học,  
(3) Cảm nhận chi phí, (4) Chuẩn mực chủ quan.  
A study on factors affecting the  
decision of choosing university  
of high school pupils  
Mô hình nghiên cứu  
Dựa trên lý thuyết về hành vi lựa chọn của khách hàng, mô  
hình nghiên cứu của D.W. Chapman (1981), Cabrera và La Nasa  
(2000), Nguyễn Thị Kim Chi (2018), tác giả đề xuất mô hình  
nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường  
đại học” bao gồm 5 biến độc lập là: 1) Điều kiện học tập; 2) Danh  
tiếng trường đại học; 3) Hoạt động truyền thông; 4) Yếu tố thuộc  
về bản thân học sinh; 5) Các cá nhân có ảnh hưởng (hình 1). Năm  
yếu tố được đưa vào mô hình là phù hợp với bối cảnh giáo dục đại  
học ở Việt Nam.  
in Quang Ngai province  
Thi Minh Huong Nguyen*  
University of Finance and Accountancy  
Received 23 November 2020; accepted 5 January 2021  
Abstract:  
In fact, choosing a career and a university of high school  
pupils is very important. This study aims at identifying  
and measuring the factors affecting the decision of  
choosing a university of high school pupils in Quang  
Ngai province. The data of this study were collected from  
340 answer sheets of grade 12 pupils of 5 high schools  
in Quang Ngai province in the 2019-2020 school year.  
By using the quantitative analysis methods, it has been  
shown that 5 factors are affecting the decision of choosing  
a university of pupils in Quang Ngai province, in the  
order of high importance to low including (1) University  
reputation, (2) Communication, (3) Learning conditions,  
(4) Factor belongs to the pupils, (5) Individuals.  
Điều kiện học tập  
Danh tiếng trường đại học  
Quyết định  
chọn trường  
Hoạt động truyền thông  
đại học  
Yếu tố thuộc về bản thân học sinh  
Các cá nhân có ảnh hưởng  
Hình 1. Mô hình lý thuyết của nghiên cứu.  
Giả thuyết nghiên cứu  
Keywords: decision of choosing a university, factors af-  
fecting thedecision of choosing a university, high school  
pupils, Quang Ngai province.  
Điều kiện học tập: những đặc điểm thuộc về điều kiện học tập  
gồm: cơ sở vật chất của nhà trường, phương tiện học tập, thư viện,  
ký túc xá, sự đa dạng của ngành học, địa điểm cơ sở học tập, các  
cuộc thi học thuật và hoạt động ngoại khóa, chế độ chính sách, hỗ  
trợ tài chính... Hiện nay, trước khi lựa chọn trường đại học, học  
sinh thường có xu hướng tìm hiểu kỹ về trường, quan tâm trường  
nằm ở khu vực nào, trường đào tạo chuyên ngành gì, nếu chọn  
trường đại học thì chỗ ở như thế nào, ký túc xá có sạch sẽ, an toàn  
không, môi trường học tập như thế nào, có các cuộc thi học thuật  
và hoạt động ngoại khóa hay không… Nếu một trường đại học  
nằm ở vị trí thuận lợi, có nhiều ngành học hấp dẫn, nhiều cuộc  
thi học thuật và hoạt động ngoại khóa để sinh viên tham gia, ký  
túc xá có nhiều chỗ ở cho sinh viên, sạch đẹp sẽ càng thu hút học  
sinh chọn học. Điều này đã được kiểm định trong nghiên cứu của  
D.W. Chapman (1981) [3], L. Litten (1982) [5], Kee Ming (2010)  
[6] cùng nhiều nghiên cứu khác. Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết  
nghiên cứu như sau:  
Classification number: 5.1  
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu  
Một số mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước  
- D.W. Chapman (1981) [3] đã đề xuất mô hình lựa chọn  
trường đại học của học sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2  
nhóm nhân tố ảnh hưởng nhiều đến quyết định chọn trường đại học  
của học sinh. Nhóm thứ nhất là đặc điểm của gia đình và cá nhân  
học sinh. Nhóm thứ hai là các nhân tố thuộc bên ngoài ảnh hưởng  
đến cá nhân như: các đặc điểm cố định của trường đại học và nỗ  
lực giao tiếp của trường đại học với các học sinh.  
- A.F. Cabrera và S.M. La Nasa (2000) [4] tiếp nối kết quả  
nghiên cứu của Chapman đã nghiên cứu mô hình 3 giai đoạn lựa  
chọn trường đại học của học sinh, trong đó nhân tố mong đợi về  
công việc trong tương lai của học sinh rất quan trọng trong sự tác  
động đến quyết định chọn trường đại học của học sinh.  
Giả thuyết H1: “Điều kiện học tập” có ảnh hưởng thuận chiều  
đến quyết định chọn trường đại học của học sinh. Nghĩa là, trường  
đại học có điều kiện tốt về vị trí, ngành học, ký túc xá, cuộc thi học  
thuật và hoạt động ngoại khóa, cơ sở vật chất, hỗ trợ tài chính… thì  
xu hướng học sinh sẽ quyết định chọn trường đại học đó càng cao.  
- Nguyễn Thị Kim Chi (2018) [2] đã thực hiện “Nghiên cứu  
các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của  
Danh tiếng trường đại học: danh tiếng của trường đại học có  
thể được hiểu theo các cách khác nhau, chẳng hạn như: danh tiếng  
học sinh THPT - trường hợp Hà Nội”. Kết quả kiểm định mô hình trường đại học là uy tín, sự nổi tiếng của trường đọng lại trong tâm  
63(4) 4.2021  
2
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
chọn trường đại học đã chỉ ra rằng, quyết định của một người theo  
trí của người học và cộng đồng khi nói đến các trường đại học. Đối  
với trường đại học, danh tiếng thể hiện ở danh tiếng về chất lượng học đại học chịu ảnh hưởng của cá nhân với cá nhân hoặc xã hội.  
giáo dục mà sinh viên có thể cảm nhận được. Chất lượng giáo dục  
được thể hiện ở chất lượng của chương trình đào tạo, chất lượng  
của đội ngũ giảng viên.  
Mô hình của D.W. Chapman (1981) [3] đã chỉ ra rằng, các cá nhân  
có ảnh hưởng quan trọng trong quá trình lựa chọn trường đại học  
của học sinh, cụ thể gồm sự thuyết phục, khuyên bảo của bạn bè,  
gia đình và những người liên quan ở trường THPT. Về tính chất  
ảnh hưởng, tác động của các cá nhân có ảnh hưởng càng cao thì  
càng thúc đẩy học sinh trong quyết định chọn trường đại học. Điều  
này cũng được kiểm định trong nghiên cứu của D.W. Chapman  
(1981), L. Litten (1982) [3, 5]... Từ đó tác giả đưa ra giả thuyết  
H5 như sau:  
Nghiên cứu của M. Joseph và B. Joseph (1998, 2000) [7, 8] ở  
New Zealand và Indonesia đã nhất trí cho rằng danh tiếng trường  
đại học là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn trường  
đại học của học sinh THPT. K. Wagner (2009) [9] cũng kết luận  
thêm rằng đối với học sinh THPT ở Malaysia, danh tiếng trường  
đại học có ảnh hưởng tích cực đến quyết định chọn trường đại học  
của học sinh, nghĩa là học sinh sẽ ưu tiên lựa chọn các trường đại  
học có danh tiếng tốt để theo học. Đồng quan điểm với M. Joseph  
và B. Joseph (1998, 2000) và K. Wagner (2009) [7-9], tác giả cho  
rằng, ở Việt Nam, học sinh THPT luôn xem danh tiếng trường đại  
học là yếu tố rất quan trọng và họ nỗ lực, tự hào khi được theo học  
tại trường đại học danh tiếng. Do vậy, tác giả đề xuất giả thuyết  
nghiên cứu như sau:  
Giả thuyết H5: “Các cá nhân có ảnh hưởng” có ảnh hưởng  
thuận chiều đến quyết định chọn trường đại học của học sinh.  
Nghĩa là, sự định hướng của các cá nhân quan trọng của học sinh  
về việc dự thi vào một trường đại học nào đó càng lớn, xu hướng  
chọn trường đại học đó của học sinh càng cao.  
Phương pháp nghiên cứu  
Giả thuyết H2: “Danh tiếng trường đại học” ảnh hưởng thuận  
chiều đến quyết định chọn trường đại học của học sinh. Nghĩa là,  
trường đại học nào có danh tiếng tốt thì càng làm tăng quyết định  
chọn trường đại học của học sinh.  
Đối tượng khảo sát: học sinh THPT của 5 trường THPT tại các  
huyện/thành phố tiêu biểu của tỉnh Quảng Ngãi gồm: TP Quảng  
Ngãi, huyện Tư Nghĩa, huyện Nghĩa Hành. Thời gian khảo sát từ  
tháng 5-7/2020.  
Hoạt động truyền thông: truyền thông là sự truyền tải thông  
tin, ý tưởng, thái độ hoặc cảm xúc từ một người hoặc nhóm người  
đến người hoặc nhóm người chủ yếu thông qua biểu tượng. Về  
tính chất ảnh hưởng, hoạt động truyền thông của trường đại học  
hấp dẫn, thu hút thì sẽ ảnh hưởng tích cực đến quyết định chọn  
trường đại học của học sinh. Điều này đã được kiểm định trong  
nghiên cứu của D.W. Chapman (1981) [3], L. Lay & J. Maguire  
(1981) [10], G.A. Jackson (1982) [11], L. Litten (1982) [5], Kee  
Ming (2010) [6] cùng nhiều nghiên cứu khác. Từ đó tác giả đưa ra  
giả thuyết H3 như sau:  
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm nghiên cứu  
định tính và nghiên cứu định lượng, cụ thể:  
Nghiên cứu định tính  
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, tác giả xây dựng mô hình  
lý thuyết của nghiên cứu. Đồng thời, sử dụng kỹ thuật thảo luận  
nhóm tập trung (đối tượng gồm 20 học sinh tại các trường THPT ở  
Quảng Ngãi) qua dàn bài lập sẵn kèm bảng thang đo sơ bộ, nhằm  
khám phá các yếu tố mới ảnh hưởng đến quyết định chọn trường  
đại học của học sinh, cũng như điều chỉnh và bổ sung cho các  
thang đo.  
Giả thuyết H3: “Hoạt động truyền thông” có ảnh hưởng cùng  
chiều đến quyết định chọn trường đại học của học sinh. Nghĩa là,  
trường đại học có nhiều hoạt động truyền thông thì quyết định  
chọn trường đại học đó của học sinh càng cao.  
Cùng với đó, kỹ thuật phỏng vấn sâu cũng được sử dụng (với  
đối tượng gồm thầy cô tại các trường THPT ở Quảng Ngãi) với dàn  
bài lập sẵn kèm bảng câu hỏi, nhằm đánh giá độ tin cậy của các  
thang đo, điều chỉnh một số thuật ngữ cho phù hợp.  
Yếu tố thuộc về bản thân học sinh (HS): S.G. Washburn và  
cộng sự (2000) [12] đã tiến hành khảo sát các đặc điểm học sinh  
cho các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình lựa chọn trường đại học  
và đưa ra kết luận “sự rộng lớn và đa dạng của các đặc tính tác động  
đến lựa chọn trường đại học của học sinh”. Điều này cũng phù hợp  
với lý thuyết về hành vi dẫn đến quyết định chọn trường; đa số các  
nghiên cứu cho rằng học sinh sẽ có xu hướng chọn trường đại học  
phù hợp với điều kiện kinh tế, tính cách, sở thích và năng lực cá  
nhân; do đó, giả thuyết H4 được đưa ra như sau:  
Nghiên cứu định lượng  
Mục đích là đánh giá độ tin cậy của thang đo các yếu tố ảnh  
hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh; kiểm định  
mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu; đồng thời, đánh  
giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định chọn trường  
đại học của học sinh. Nghiên cứu định lượng được thực hiện qua  
các giai đoạn:  
- Thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng bảng câu hỏi khảo sát. Kích  
thước mẫu n=340.  
Giả thuyết H4: “Yếu tố thuộc về bản thân học sinh” có ảnh  
hưởng cùng chiều đến quyết định chọn trường đại học của học  
sinh. Nghĩa là, trường đại học có ngành học phù hợp với tính cách,  
sở thích, khả năng học tập, điều kiện kinh tế của học sinh thì quyết  
định chọn trường đại học đó của học sinh càng cao.  
- Đánh giá sơ bộ độ tin cậy và giá trị của thang đo bằng hệ số  
tin cậy Cronbach’s Alpha, qua đó loại bỏ các biến quan sát không  
đạt độ tin cậy và phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory  
Factor Analysis) thông qua phần mềm xử lý SPSS 22.0.  
Các cá nhân có ảnh hưởng: các nghiên cứu về quá trình lựa  
3
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
- Nghiên cứu dùng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính bội đều đạt yêu cầu và được phân tích thành 5 yếu tố. Hệ số tải nhân  
để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại  
học của học sinh, từ đó tính được mức độ quan trọng của từng yếu tố.  
tố của các biến quan sát đều >0,5 nên tất cả các biến được sử dụng  
làm thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường  
đại học.  
Kết quả nghiên cứu  
Kết quả KMO & Bartlett: hệ số KMO=0,835 đạt yêu cầu  
(0,5<KMO<1) nên EFA phù hợp với dữ liệu. Thống kê Chi-  
Square của kiểm định Bartlett đạt mức 3606,978 với mức ý nghĩa  
Sig.=0,000 (<0,05), do vậy các biến quan sát có tương quan với  
nhau xét trên phạm vi tổng thể.  
Thống kê mô tả  
Thực hiện khảo sát đối với học sinh trên địa bàn tỉnh Quảng  
Ngãi, thu về 340 phiếu trả lời hợp lệ để đưa vào phân tích dữ  
liệu. Về giới tính, có 225 nữ (chiếm 66,18%) và 115 nam (chiếm  
33,82%). Trong 340 học sinh tham gia khảo sát thì có 61,8% học  
sinh trả lời có định hướng chọn trường đại học từ năm lớp 12;  
15,3% học sinh trả lời có định hướng chọn trường đại học từ năm  
lớp 11; 11,5% học sinh trả lời có định hướng chọn trường đại học  
từ năm lớp 10 và 11,4% học sinh trả lời có định hướng chọn trường  
đại học từ trước năm lớp 10. Trong 340 học sinh được hỏi thì có  
210 học sinh (chiếm 61,76%) chọn trường đại học công và 130 học  
sinh (chiếm 38,24%) chọn trường đại học tư.  
Hệ số Eigenvalue=1,646>1 đạt yêu cầu, điểm dừng tại yếu tố  
thứ 5 với phương sai trích đạt 59,869% (>50%), có nghĩa là 5 yếu  
tố được rút ra giải thích được 59,869% biến thiên của dữ liệu. Bảng  
2 là thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại  
học của học sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.  
Bảng 2. Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học  
của học sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.  
Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s  
Alpha  
Các yếu tố  
Biến quan sát  
1
2
3
4
5
Kết quả Cronbach’s Alpha các thang đo bao gồm: thang đo  
yếu tố điều kiện học tập (DK), thang đo yếu tố danh tiếng trường  
đại học (DT), thang đo yếu tố hoạt động truyền thông (TT), thang  
đo yếu tố thuộc về bản thân học sinh (HS), thang đo yếu tố các cá  
nhân có ảnh hưởng (AH) và thang đo quyết định chọn trường của  
học sinh (QĐ) đều đạt yêu cầu và có hệ số Cronbach’s Alpha phù  
hợp, với hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha >0,6 và hệ số tương quan  
biến tổng >0,3 (bảng 1).  
DT7: Cơ hội có địa vị xã hội trong tương lai  
0,772  
DT4: Đội ngũ cán bộ, giảng viên nhiệt huyết,  
thân thiện  
0,764  
0,757  
0,751  
DT5: Cơ hội kiếm được việc làm sau khi  
tốt nghiệp  
DT1: Trường đại học có danh tiếng, thương  
hiệu  
DT3: Đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm,  
chất lượng cao  
0,745  
0,737  
0,707  
Bảng 1. Kết quả kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha.  
DT2: Chương trình đào tạo chất lượng  
Cronbach’s  
Alpha  
Hệ số tương quan  
biến tổng thấp nhất  
STT Thang đo  
Yếu tố điều kiện  
Số biến Biến quan sát  
DK1, DK2, DK3, DK4,  
DT6: Cơ hội kiếm được việc làm có thu  
nhập cao  
1
2
3
4
5
6
7
7
5
3
5
3
0,840  
0,872  
0,825  
0,734  
0,892  
0,749  
0,521  
0,609  
0,564  
0,503  
0,685  
0,454  
DK3: Thư viện đáp ứng đủ nhu cầu học tập  
DK1: Ngành đào tạo đa dạng và hấp dẫn  
0,788  
0,762  
học tập  
DK5, DK6, DK7  
Yếu tố danh tiếng  
trường đại học  
DT1, DT2, DT3, DT4,  
DT5, DT6, DT7  
DK2: Cơ sở vật chất và trang thiết bị đủ điều  
kiện phục vụ tốt cho việc học tập  
0,742  
0,736  
Yếu tố hoạt động  
truyền thông  
TT1, TT2, TT3, TT4,  
TT5  
DK7: Có nhiều học bổng và chính sách ưu đãi  
cho sinh viên  
Yếu tố thuộc về bản  
thân học sinh  
HS1, HS2, HS3  
DK6: Vị trí thuận lợi cho việc đi lại và học tập  
DK4: Ký túc xá có nhiều chỗ ở cho sinh viên  
0,681  
0,644  
Yếu tố các cá nhân  
có ảnh hưởng  
AH1, AH2, AH3, AH4,  
AH5  
DK5: Cuộc thi học thuật và hoạt động ngoại  
khóa phong phú  
0,639  
Quyết định chọn trường  
đại học của học sinh  
QĐ1, QĐ2, QĐ3  
AH1: Người thân định hướng  
0,847  
0,845  
Phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Việc kiểm định giá trị thang đo và nhận diện xem những biến  
quan sát nào thuộc về một tập hợp đo lường cho cùng một yếu  
tố đại diện được thực hiện qua phân tích nhân tố khám phá. Khi  
phân tích EFA đối với thang đo, tác giả sử dụng phương pháp trích  
Principal Component Analysis với phép xoay Varimax và điểm  
dừng trích các yếu tố có eigenvalue >1.  
AH5: Cán bộ tư vấn tuyển sinh tư vấn  
AH4: Sinh viên đã và đang học tại trường đại  
học giới thiệu  
0,827  
AH3: Bạn bè khuyên bảo  
0,812  
0,781  
AH2: Thầy cô khuyên bảo  
TT2: Tìm hiểu qua mạng xã hội và internet  
0,794  
0,759  
0,759  
TT4: Thông qua hoạt động tuyên truyền  
của các trường đại học  
Kết quả phân tích EFA của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết  
định chọn trường đại học của học sinh cho thấy 27 biến quan sát  
TT3: Thông qua các phương tiện truyền thông  
63(4) 4.2021  
4
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
TT1: Hoạt động tư vấn tuyển sinh của các  
trường đại học  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
0,552**  
0,000  
340  
0,176**  
0,002  
340  
0,100  
0,075  
340  
1
0,165**  
0,003  
340  
0,072  
0,204  
340  
0,743  
0,696  
DT  
AH  
DK  
TT5: Tham quan khuôn viên trường đại học  
Kích thước mẫu  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
340  
HS2: Điểm chuẩn phù hợp, cơ hội trúng  
tuyển cao  
0,262**  
0,000  
340  
0,150**  
0,007  
340  
0,292**  
0,000  
340  
0,165**  
0,003  
340  
1
0,081  
0,150  
340  
0,844  
0,771  
0,756  
HS1: Ngành đào tạo phù hợp với sở thích,  
năng lực cá nhân  
Kích thước mẫu  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
340  
0,434**  
0,000  
340  
0,047  
0,402  
340  
0,198**  
0,000  
340  
0,072  
0,204  
340  
0,081  
0,150  
340  
1
HS3: Học phí, phí sinh hoạt phù hợp với khả  
năng tài chính của gia đình  
Eigenvalues  
5,336  
3,629  
3,232  
2,322  
8,598  
53,773  
1,646  
6,096  
59,869  
Kích thước mẫu  
340  
Phương sai trích (%)  
Phương sai trích tích lũy (%)  
KMO  
19,764  
19,764  
13,441  
33,204  
11,970  
45,175  
**: tương quan có ý nghĩa ở mức 0,01 (2 chiều).  
Phân tích hồi quy (bảng 5)  
0,835  
0,000  
Sau khi tiến hành phân tích hồi quy kết quả thu được ở bảng 5.  
Kiểm định Barlett’s (Sig.)  
Bảng 5. Kết quả phân tích hồi quy.  
Đối với thang đo quyết định chọn trường đại học, sau khi chạy  
phân tích EFA, các biến tập hợp vào một yếu tố tại Eigenvalues  
là 2,291 và với trị số KMO là 0,761. Kiểm định Bartlett có mức  
ý nghĩa bằng 0 (Sig.=0,000<0,05), như vậy các biến quan sát có  
tương quan với nhau trong tổng thể. Các biến quan sát đều có hệ  
số tải nhân tố lớn hơn 0,5. Phương sai trích bằng 57,272% (>50%)  
(xem bảng 3). Như vậy việc phân tích nhân tố là phù hợp.  
Hệ số  
Hệ số hồi quy  
chưa chuẩn hóa  
hồi quy  
chuẩn  
hóa  
Thống kê đa cộng  
tuyến  
Mức ý  
nghĩa  
(Sig.)  
Các biến  
độc lập  
Giá trị t  
Std.  
Error  
B
Beta  
Tolerance VIF  
(Hằng số)  
DK  
0,223  
0,177  
0,093  
0,366  
0,049  
0,259  
0,159  
0,029  
0,029  
0,031  
0,024  
0,028  
1,405  
6,167  
3,237  
11,852  
2,073  
9,330  
0,161  
0,000  
0,001  
0,000  
0,039  
0,000  
Bảng 3. Kết quả EFA thang đo Quyết định chọn trường đại học.  
0,243  
0,132  
0,456  
0,082  
0,357  
0,905  
0,838  
0,946  
0,893  
0,958  
1,105  
1,194  
1,057  
1,120  
1,044  
HS  
Yếu tố  
Biến quan sát  
DT  
1
AH  
QĐ1: tôi sẽ theo học trường đại học X trong tương lai gần  
QĐ3: tôi quyết định chọn trường đại học X để học tập, nghiên cứu  
QĐ2: trường đại học X sẽ là lựa chọn của tôi  
Eigenvalues  
0,792  
0,785  
0,772  
2,291  
57,272  
0,761  
0,000  
TT  
Biến phụ thuộc: QĐ  
R2=0,567  
R2 điều chỉnh=0,560  
Phương sai trích (%)  
Thống kê F=80,828 và Sig.=0,00  
Giá trị Durbin – Watson d=2,050  
KMO  
Kiểm định Barlett’s (Sig.)  
Tiêu chuẩn để chấp nhận mô hình hồi quy là sig. nhỏ hơn 0,05  
và R2 lớn hơn 0,5. Kết quả phân tích hồi quy trong bảng 4 cho thấy  
R2 hiệu chỉnh=0,560; giá trị này cho biết các biến độc lập trong mô  
hình có thể giải thích được 56% sự thay đổi của biến phụ thuộc;  
hay 56% quyết định chọn trường của học sinh tại Quảng Ngãi chịu  
tác động bởi các yếu tố DK, DT, TT, HS, AH.  
Sau khi phân tích nhân tố, tác giả đã tiến hành phân tích mối  
tương quan giữa các yếu tố nhằm xác định mối liên hệ giữa các  
yếu tố và biến phụ thuộc. Tương quan không loại yếu tố nào vì sig.  
giữa từng biến độc lập với biến phụ thuộc đều nhỏ hơn 0,05 (bảng  
4). Như vậy, tất cả các biến độc lập đều có quan hệ tương quan  
tuyến tính với biến phụ thuộc “Quyết định chọn trường đại học”.  
Phân tích Anova cho thấy thống kê F hoàn toàn có ý nghĩa  
thống kê (mức ý nghĩa=0,00), như vậy mô hình hồi quy là hoàn  
toàn phù hợp xét trong phạm vi tổng thể nghiên cứu. Trong 5 yếu  
tố tác động đưa vào mô hình phân tích hồi quy thì cả 5 yếu tố có  
mối quan hệ tuyến tính với biến QĐ (cả 5 yếu tố đều có mức ý  
nghĩa <0,05). Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết  
định chọn trường của học sinh được xác định như sau: biến TT có  
hệ số hồi quy chuẩn hóa là 0,357; biến DT có hệ số hồi quy chuẩn  
hóa là 0,456; biến HS có hệ số hồi quy chuẩn hóa là 0,132; biến  
DK có hệ số hồi quy chuẩn hóa là 0,243; biến AH có hệ số hồi quy  
chuẩn hóa là 0,082. Như vậy, biến DT có tác động mạnh nhất đến  
QĐ, tiếp theo là biến TT, rồi đến biến DK, HS và biến tác động yếu  
nhất đến QĐ là biến AH.  
Bảng 4. Kiểm định mối quan hệ giữa các biến.  
QĐ  
HS  
TT  
DT  
AH  
DK  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
1
0,387**  
0,000  
340  
0,337**  
0,000  
340  
0,552**  
0,000  
340  
0,262**  
0,000  
340  
0,434**  
0,000  
340  
QĐ  
HS  
TT  
Kích thước mẫu  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
340  
0,387**  
0,000  
340  
1
0,262**  
0,000  
340  
0,176**  
0,002  
340  
0,150**  
0,007  
340  
0,047  
0,402  
340  
Kích thước mẫu  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
340  
0,337**  
0,000  
340  
0,262**  
0,000  
340  
1
0,100  
0,075  
340  
0,292**  
0,000  
340  
0,198**  
0,000  
340  
Kích thước mẫu  
340  
5
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Kiểm định sự khác biệt  
Yếu tố “điều kiện học tập” (hệ số hồi quy β=0,243) có tác động  
lớn thứ ba và tác động tích cực đến quyết định chọn trường đại  
học của học sinh, kết quả này phù hợp với nghiên cứu của D.W.  
Chapman (1981) và nghiên cứu định tính ban đầu. Học sinh thực  
tế rất quan tâm đến cơ sở vật chất phục vụ cho việc học, vị trí của  
trường, các cuộc thi học thuật và hoạt động ngoại khóa, hoạt động  
tư vấn và hỗ trợ sinh viên, môi trường học tập…  
Nghiên cứu tiến hành kiểm định sự khác biệt về quyết định  
chọn trường đại học của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Quảng  
Ngãi theo giới tính, thời điểm định hướng chọn trường đại học,  
chọn trường đại học công hay trường đại học tư. Kết quả cho  
thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong quyết định chọn  
trường đại học. Tuy nhiên, giữa các nhóm học sinh có thời điểm  
định hướng chọn trường đại học khác nhau, nhóm học sinh chọn  
trường đại học công hay trường đại học tư có sự khác biệt nhất  
định trong quyết định chọn trường. Có sự khác biệt trong quyết  
định chọn trường giữa các học sinh có thời điểm định hướng chọn  
trường đại học khác nhau là do trong nghiên cứu này kích thước  
mẫu tính cho nhóm học sinh có thời điểm định hướng chọn trường  
đại học khi đang học lớp 12 cao hơn hẳn học sinh có thời điểm  
định hướng chọn trường đại học khi đang học lớp 11, 10 hay trước  
lớp 10. Kết quả này phù hợp với kết quả phỏng vấn sâu của tác giả.  
Các em học sinh cho rằng các bạn học sinh chọn ngành y, kiến trúc  
thường có định hướng chọn trường đại học từ năm lớp 10, lớp 11;  
trong khi các bạn học sinh chọn khối ngành kinh tế thường có định  
hướng chọn trường đại học từ năm lớp 12.  
Yếu tố thuộc về bản thân học sinh (β=0,132) là yếu tố tác động  
thứ 4 đến quyết định chọn trường đại học của học sinh và tác động  
cùng chiều, phù hợp với khảo sát định tính của tác giả và nghiên  
cứu của D.W. Chapman (1981), S.G. Washburn (2000) [3, 12].  
Như vậy, yếu tố này quyết định khả năng trúng tuyển của học sinh  
và khả năng theo đuổi học tập tại trường do phù hợp về điều kiện  
kinh tế gia đình và đam mê theo đuổi ngành học.  
Yếu tố “Các cá nhân có ảnh hưởng” (β=0,082) có tác động  
lớn thứ 5 và tác động tích cực đến quyết định chọn trường đại học  
của học sinh. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của D.W.  
Chapman (1981) [3], L. Litten (1982) [5], Nguyễn Thị Kim Chi  
(2018) [2] và nghiên cứu định tính ban đầu của tác giả.  
Kiến nghị  
Kết luận và kiến nghị  
Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đề xuất  
căn cứ vào 2 yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất trong mô hình, gồm:  
danh tiếng trường đại học và hoạt động truyền thông. Danh tiếng  
của trường đại học được xác định là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất  
và tích cực đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh, do  
vậy nâng cao danh tiếng của trường đại học được xác định là giải  
pháp hàng đầu nhằm thu hút học sinh chọn học tại các trường đại  
học. Đây là một giải pháp mang tính chất dài hạn và đóng vai trò  
quan trọng trong việc thu hút thí sinh dự thi. Danh tiếng thể hiện  
ở nhiều khía cạnh, nhưng chủ yếu liên quan đến chất lượng đội  
ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, cơ hội nghề nghiệp. Cụ thể:  
Kết luận  
Nhìn chung hệ số hồi quy của các biến không có sự chênh lệch  
lớn, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của  
học sinh có liên quan đến các yếu tố theo thứ tự từ cao đến thấp  
như sau: 1) Danh tiếng trường đại học; 2) Hoạt động truyền thông;  
3) Điều kiện học tập; 4) Yếu tố thuộc về bản thân học sinh; 5) Các  
cá nhân có ảnh hưởng.  
Yếu tố “danh tiếng trường đại học” có tác động lớn nhất và  
thuận chiều đến quyết định chọn trường đại học của học sinh (hệ  
số hồi quy của yếu tố này là cao nhất, β=0,456), kết quả này tương  
đồng với các nghiên cứu của M. Joseph và B. Joseph (1998, 2000)  
[7, 8], Karl Wagner (2009) [9], Nguyễn Thị Kim Chi (2018) [2].  
Như vậy, xét về mặt lý thuyết và thực tiễn cho thấy phần lớn học  
sinh đều có xu hướng ưu tiên lựa chọn các trường đại học danh  
tiếng tốt. Hiện nay, danh tiếng của các trường đại học có nhiều  
khác biệt, nên đây là lý do học sinh đặt tiêu chí này ở mức ưu tiên  
cao. Do vậy, các trường có danh tiếng tốt vẫn thu hút được nhiều  
học sinh và ít chịu áp lực tuyển sinh khó khăn.  
- Các trường đại học cần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng  
viên, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu có hiệu quả của đội ngũ  
giảng viên nhằm đáp ứng được các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng,  
phẩm chất và yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối  
cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là giải pháp cần thiết, mang  
tính dài hạn để giúp cải thiện danh tiếng của các trường đại học đối  
với xã hội, giúp sinh viên hứng thú hơn với việc học tập.  
- Các trường đại học cần đổi mới, đa dạng hóa, nâng cao và  
linh hoạt chương trình đào tạo và gia tăng cơ hội nghề nghiệp của  
sinh viên sau tốt nghiệp.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố “hoạt động truyền thông”  
(β=0,357) là yếu tố tác động lớn thứ 2 và cùng chiều đến quyết  
định chọn trường đại học của học sinh, tương đồng với nghiên cứu  
của D.W. Chapman (1981) [3], L. Lay & J. Maguire (1981) [10],  
G.A. Jackson (1982) [11], L. Litten (1982) [5], Kee Ming (2010)  
[6]. Kết quả này chứng tỏ việc tăng cường các hoạt động truyền  
Bên cạnh đó, các trường đại học cần đẩy mạnh hoạt động  
truyền thông để có thể thực hiện tốt việc tuyển sinh và thu hút  
được nhiều thí sinh dự tuyển và nhập học. Các trường đại học cũng  
cần có hệ thống cung cấp thông tin đa dạng và hấp dẫn hơn, như:  
thông như quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, đẩy mạnh tối ưu hóa website của trường với nhiều hình ảnh, video sinh động  
truyền thông trực tiếp bằng việc đưa các thông tin về nhà trường hơn; xuất bản tập san giới thiệu về ngành nghề nhà trường đang  
thông qua các công cụ như tờ rơi, ấn phẩm…, tư vấn tuyển sinh đào tạo, điều kiện ký túc xá hay các chương trình hỗ trợ tài chính,  
tại các trường THPT, đẩy mạnh truyền thông online qua internet,  
mạng xã hội (Facebook, Zalo…) sẽ giúp gia tăng số lượng học sinh Đồng thời, đẩy mạnh các công cụ truyền thông khác như mạng  
xã hội (Facebook, Zalo, Youtube, Twitter, Flickr, Google plus…).  
thống kê điểm chuẩn, tỷ lệ có việc làm của sinh viên tốt nghiệp…  
biết đến các trường đại học.  
63(4) 4.2021  
6
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Kết quả của nghiên cứu cho thấy, 77,1% học sinh bắt đầu lựa  
chọn trường đại học từ lớp 11, 12 và có sự khác biệt trong quyết  
định chọn trường giữa các học sinh có thời điểm định hướng chọn  
trường đại học khác nhau. Do đó, các trường THPT nên đưa vào  
chương trình học môn hướng nghiệp hay xem hướng nghiệp là một  
trong những tiêu chí quan trọng trong giáo dục - đào tạo. Đồng  
thời, công tác hướng nghiệp cần được thực hiện thường xuyên, liên  
tục từ khi các em học sinh bước vào năm lớp 10 hơn là chỉ tổ chức  
vào cuối năm lớp 12.  
Thứ hai, nghiên cứu chỉ mới triển khai thực hiện tại 5 trường  
THPT tại Quảng Ngãi nên mẫu chưa mang tính tổng quát cao.  
Thứ ba, nghiên cứu chưa có điều kiện đưa vào hết các tài liệu  
tham khảo đã triển khai thực hiện trên các vùng miền.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hossler, Braxton, and Coopersmith (1989), “Understanding student college  
choice”, Higher education: Handbook of theory and research, 5, p.234.  
[2] Nguyễn Thị Kim Chi (2018), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết  
định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT - Trường hợp Hà Nội”, Luận án tiến  
sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.  
Ngoài ra, các trường THPT cần tạo hứng thú cho học sinh  
trong những buổi hướng nghiệp, tạo cho các em thấy được tầm  
quan trọng của việc tham gia vào các buổi học hướng nghiệp. Bên  
cạnh cung cấp thông tin về nghề nghiệp, nên đưa hình ảnh về các  
ngành nghề để làm cho buổi hướng nghiệp trở nên sinh động.  
[3] D.W. Chapman (1981), “A model of student college choice”, The Journal of  
Higher Education, 52(5), pp.490-505.  
[4] A.F. Cabrera, and S.M. La Nasa (2000), "Understanding the college choice of  
disadvantaged students", New directions for Institutional Research.  
Hạn chế của nghiên cứu  
[5] L. Litten (1982), “Different strokes in the applicant pool: some refinements in  
model of student choice”, Journal of Higher Education, 4, pp.378-402.  
Thứ nhất, mô hình 5 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn  
trường của học sinh kiểm định giải thích được 56% sự biến thiên  
của biến phụ thuộc (quyết định chọn trường của học sinh), còn lại  
44% được giải thích bởi những yếu tố khác chưa được đề cập trong  
mô hình. Nghĩa là, khả năng còn có những yếu tố khác, những  
biến quan sát khác cũng tham gia giải thích cho quyết định chọn  
trường của học sinh chưa được cô đọng trong mô hình nghiên cứu.  
Theo các nghiên cứu trước đây thì có nhiều yếu tố tác động đến  
quyết định chọn trường của học sinh như: động cơ cá nhân, tự tin  
bản thân, cảm nhận về chi phí, thông tin về trường, sự hấp dẫn của  
ngành học… Nhưng do giới hạn về nguồn lực nên trong nghiên  
cứu này chỉ tập trung phân tích định lượng vào một số yếu tố cụ  
thể, đó là yếu tố điều kiện học tập, danh tiếng trường đại học, hoạt  
động truyền thông, yếu tố thuộc về bản thân học sinh, các cá nhân  
có ảnh hưởng. Vì vậy, những nghiên cứu tiếp theo trong tương lai  
có thể dựa vào kết quả của nghiên cứu này bổ sung các biến mới,  
xây dựng và kiểm định thêm những mô hình khác.  
[6] Joseph Sia Kee Ming (2010), “Institutional factors influencing students’  
college choice decision in Malaysia: A Conceptual Framework”, International Journal  
of Business and Social Science, 1(3), pp.53-58.  
[7] M. Joseph, B. Joseph (1998), “Identifying Need of potential students in tertiary  
education for strategy development”, Quality Assurance in Education, 6(2), pp.90-96.  
[8] M. Joseph and B. Joseph (2000), “Indonesian students’ perceptions of choice  
criteria in the selection of a tertiary institution: strategic implications”, The International  
Journal of Educational Management, 14(1), pp.40-44.  
[9] K. Wagner, and P.Y. Fard (2009), Factors Influencing Malaysian Students’  
Intention to study at a Higher Educational Institution, E-Leader Kuala Lumpur.  
[10] L. Lay, J. Maguire (1981), “Coordinating market and evaluation research on  
the admission rating process”, Research in Higher Education, 14(1), pp.71-85.  
[11] G.A. Jackson (1982), “Public efficiency and private choice in higher  
education”, Educational Evaluation and Policy Analysis, 4(2), pp.237-247.  
[12] S.G. Washburn, B.L. Garton, and P.R. Vaughn (2000), Factors influencing  
college choice of agriculture students College-Wide compared with students majoring  
in Agricultural Education, University of Florida.  
7
63(4) 4.2021  
pdf 7 trang yennguyen 20440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_quyet_dinh_chon_truong_dai_hoc_cua.pdf