Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn: Trường hợp nghiên cứu tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG  
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ KHÁCH SẠN:  
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI QUẬN NINH KIỀU,  
THÀNH PHỐ CẦN THƠ  
FACTORS AFFECTING THE USE OF HUMAN RESOURCES IN  
HOTEL SERVICE IN NINH KIEU DISTRICT, CAN THO CITY  
PGS.TS. Bùi Văn Trịnh1, PGS.TS. Phước Minh Hiệp2  
Tóm tắt – Nguồn nhân lực ngày càng quan trọng trong các doanh nghiệp  
sản xuất kinh doanh nói chung và các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ khách  
sạn nói riêng. Với nguồn thông tin sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp 217 nhà quản  
lí đang làm việc trong các khách sạn trên địa bàn nghiên cứu, bài viết phân tích  
các nhân tố ảnh hưởng đến việc bố trí nhân sự trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn.  
Kết quả phân tích cho thấy có hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng nguồn  
nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần  
Thơ, đó là các nhóm nhân tố bên ngoài và các nhóm nhân tố bên trong  
doanh nghiệp.  
Từ khóa: dịch vụ khách sạn, nhân lực dịch vụ khách sạn, nhân tố ảnh  
hưởng, thành phố Cần Thơ.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Theo Stivastava M/P. (1997) [1], nhân lực là nhân tố trung tâm và là mục  
đích của nền sản xuất xã hội, vì vậy bất kì một tổ chức nào muốn tồn tại và phát  
triển, đều đòi hỏi nhà quản trị phải đưa nhân tố con người lên hàng đầu, vì đây là  
nguồn tài nguyên quý giá đem lại nhiều hiệu quả cho tổ chức. Thực tế đã chứng  
minh, việc sử dụng nhân sự đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tổ chức và là  
lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, khi doanh nghiệp có nguồn nhân lực giỏi thì  
có điều kiện nâng cao năng lực cạnh trên thị trường phát triển. Nhưng muốn có  
nguồn nhân lực mạnh, cần phải nghiên cứu, tìm hiểu nhiều khía cạnh khác nhau  
[2].  
Cần Thơ là thành phố (TP) trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long, được  
mệnh danh là Tây Đô từ hơn trăm năm trước. Ngày nay, Cần Thơ đã trở thành đô  
1 Trường Đại học Cần Thơ; Email: [email protected].vn  
2 Hội đồng Tư vấn Trường Đại học Trà Vinh; Email: phuocminhhiep@gmail.com  
263  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
thị loại I trực thuộc Trung ương. Lợi thế của TP. Cần Thơ là vị trí địa lí, cho phép  
phát triển các lĩnh vực: hạ tầng đô thị; hạ tầng giao thông; nông nghiệp công nghệ  
cao; công nghiệp chế biến nông – thủy sản; du lịch và hạ tầng phục vụ du lịch và  
các ngành công nghiệp phụ trợ. Như vậy, nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ  
khách sạn tại quận Ninh Kiều là vấn đề cần quan tâm, vì đây là quận trung tâm  
của Cần Thơ.  
Xuất phát từ thực tế nêu trên, vấn đề “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử  
dụng nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn: Trường hợp nghiên cứu  
tại quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ” là thực sự cần thiết phải được nghiên cứu.  
Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhân sự cho  
dịch vụ khách sạn tại quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ, để làm cơ sở đề xuất hàm ý  
nhằm nâng cao công tác tuyển dụng và bố trí nhân lực dịch vụ khách sạn một cách  
hiệu quả.  
2. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN  
2.1. Mô tả đối tượng khảo sát  
Các tác giả đã khảo sát 217 các nhà quản lí nhà hàng khách sạn trên địa bàn  
TP. Cần Thơ, trong đó có hơn 80% thuộc quận Ninh Kiều vì đây là địa bàn  
nghiên cứu và là quận trung tâm thành phố Cần Thơ.  
Kết quả khảo sát cho thấy: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và tình trạng  
hôn nhân của nhà quản lí nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn được  
thể hiện qua Bảng 1 như sau:  
Bảng 1: Đặc điểm cơ bản của nhà quản lí qua kết quả khảo sát  
Thông tin mẫu  
Giới tính  
Yếu tố  
Tần suất  
50  
Tỉ lệ (%)  
Nam  
23  
77  
70  
24  
5,6  
Nữ  
167  
152  
53  
Từ 22 đến 30 tuổi  
Từ 31 đến 40 tuổi  
Trên 40 tuổi  
Trung cấp  
Độ tuổi  
12  
28  
12,9  
40,1  
40,1  
6,9  
Trình độ học vấn  
Cao đẳng  
87  
Đại học  
87  
Trên Đại học  
Độc thân  
Đã kết hôn  
15  
163  
54  
75,1  
24,9  
Tình trạng hôn nhân  
(Nguồn: Số liệu khảo sát, năm 2017)  
264  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
- Giới tính: Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, có 50 người là nam (chiếm  
23%) và 167 người là nữ (chiếm 77%), qua đó cho thấy số lượng nhà quản lí trong  
ngành dịch vụ khách sạn ở TP. Cần Thơ có chênh lệch rất nhiều do số lượng nữ  
làm nhiều hơn nam trong ngành dịch vụ khách sạn là điều phù hợp.  
- Độ tuổi: Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, nhà quản lí có độ tuổi từ 22 đến  
30 tuổi chiếm cao nhất với 70%, tiếp theo là nhà quản lí có độ tuổi từ 31 đến 40  
tuổi chiếm 24%; nhà quản lí có độ tuổi từ 41 đến 50 tuổi chiếm 5,6% và cuối cùng  
là nhà quản lí có độ tuổi từ 51 đến 60 tuổi không có.  
- Trình độ học vấn: Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, nhà quản lí có trình  
độ học vấn cao đẳng/đại học chiếm cao nhất với 80,2%; tiếp theo là nhà quản lí có  
trình độ học vấn trung cấp chiếm 12,9% và trình độ sau đại học chiếm 6,9%.  
- Tình trạng hôn nhân: Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, có 75,1% nhà  
quản lí chưa kết hôn và 24,9% nhà quản lí đã kết hôn.  
2.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng nguồn nhân lực dịch vụ  
khách sạn tại quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ  
2.2.1. Đánh giá thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng nhân sự trong  
lĩnh vực dịch vụ khách sạn  
Tác giả chọn tiêu chuẩn đánh giá thang đo Cronbach’s Alpha ≥ 0,6 và tương  
quan biến tổng > 0,3 [3].  
a. Các nhân tố bên ngoài  
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha từng nhân tố được trình bày qua  
Bảng 2.  
265  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Bảng 2: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha thang đo các nhân tố  
bên ngoài  
Biến quan sát  
Tương quan biến tổng  
Alpha nếu loại  
biến  
1/ Kinh tế – xã hội (KTXH): Alpha = 0,947  
KTXH1  
KTXH2  
KTXH3  
KTXH4  
KTXH5  
KTXH6  
KTXH7  
KTXH8  
KTXH9  
KTXH10  
KTXH11  
KTXH12  
KTXH13  
0,790  
0,784  
0,814  
0,714  
0,762  
0,681  
0,741  
0,867  
0,678  
0,759  
0,789  
0,745  
0,546  
0,941  
0,942  
0,941  
0,944  
0,942  
0,945  
0,943  
0,939  
0,945  
0,943  
0,942  
0,943  
0,948  
2/ Chính trị – pháp luật (CTPL): Alpha = 0,873  
CTPL1  
CTPL2  
CTPL3  
0,675  
0,848  
0,759  
0,890  
0,732  
0,818  
3/ Yếu tố cạnh tranh (CT): Alpha = 0,853  
CT1  
CT2  
CT3  
CT4  
0,721  
0,812  
0,744  
0,521  
0,801  
0,762  
0,793  
0,877  
(Nguồn: Phân tích Cronbach’s Alpha từ số liệu khảo sát, 2017)  
266  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Bảng 2 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của các nhân tố trong mô hình lần  
lượt là: KTXH (0,947); CTPL (0,873); CT (0,853) và tất cả các biến quan sát đều  
có hệ số tương quan biến tổng > 0,3 nên tất cả các thành phần của thang đo thỏa  
điều kiện kiểm định đã đặt ra. Như vậy, các biến đo lường các nhân tố bên ngoài  
tác động đến sử dụng nguồn nhân lực đều có thể sử dụng cho bước phân tích  
tiếp theo.  
b. Các nhân tố bên trong  
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha từng nhân tố được trình bày qua  
Bảng 3.  
Bảng 3: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha thang đo các nhân tố  
bên trong  
Biến quan sát  
Tương quan biến tổng  
Alpha nếu loại  
biến  
1/ Lương và phúc lợi (LUONG): Alpha = 0,900  
LUONG1  
LUONG2  
LUONG3  
LUONG4  
LUONG5  
0,664  
0,735  
0,849  
0,803  
0,731  
0,897  
0,884  
0,857  
0,867  
0,884  
2/ Quy trình tuyển dụng (TD): Alpha = 0,849  
TD1  
TD2  
TD3  
0,749  
0,713  
0,695  
0,760  
0,794  
0,811  
3/ Thực hiện đánh giá kết quả công việc (THCV): Alpha = 0,885  
THCV1  
THCV2  
THCV3  
THCV4  
THCV5  
0,750  
0,745  
0,729  
0,767  
0,641  
0,855  
0,856  
0,861  
0,851  
0,879  
(Nguồn: Phân tích từ số liệu khảo sát, 2017)  
Qua Bảng 3 ta thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của các nhân tố trong mô hình  
lần lượt là: LUONG (0,900); TD (0,849); THCV (0,885) và tất cả các biến quan  
sát đều có hệ số tương quan biến tổng > 0,3 nên tất cả các thành phần của thang  
đo thỏa điều kiện kiểm định đã đặt ra [3, tr53]. Như vậy, các biến đo lường các  
267  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
nhân tố bên trong tác động đến sử dụng nhân sự dịch vụ khách sạn đều có thể sử  
dụng cho bước phân tích tiếp theo.  
2.2.2. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố qua phân tích nhân tố khám phá  
Phân tích nhân tố khám phá (EFA), Principal component analysis với phép  
xoay Varimax và điểm dừng khi trích các yếu tố có Eigenvalue là 1, mức ý nghĩa  
kiểm định Bartlett ≤ 0,05 và tổng phương sai trích ≥ 50%; hệ số 0,5 ≤ KMO ≤ 1  
thì thỏa điều kiện [4, tr206].  
- Các nhân tố bên ngoài  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá lần 1 với 20 biến quan sát cho thấy, có  
hệ số KMO = 0,876; giá trị tổng phương sai trích = 69,406%; hệ số tải nhân tố của  
các biến quan sát đều lớn hơn 0,5, riêng biến KTXH13 (Thị trường lao động đáp  
ứng kịp thời nhu cầu tuyển dụng doanh nghiệp) có hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5,  
do đó tác giả loại ra để chạy lại kết quả phân tích nhân tố khám phá lần 2 qua  
Bảng 4 như sau:  
Bảng 4: Kết quả EFA các nhân tố bên ngoài tác động đến bố trí nhân sự  
Biến  
Nhân tố  
1
2
3
KTXH1  
.817  
.792  
.792  
.771  
.768  
.758  
.747  
.741  
.726  
KTXH8  
KTXH11  
KTXH12  
KTXH4  
KTXH3  
KTXH5  
KTXH10  
KTXH2  
268  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
KTXH9  
KTXH6  
KTXH7  
CT3  
.650  
.636  
.596  
.871  
.792  
.734  
.709  
CT2  
CT4  
CT1  
CTPL3  
CTPL2  
CTPL1  
.740  
.722  
.668  
Hệ số KMO = 0,871  
Phương sai trích = 71,142%  
(Nguồn: Phân tích từ số liệu khảo sát, 2017)  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá lần 2 (Bảng 4) với 19 biến quan sát cho  
thấy, hệ số KMO = 0,871; giá trị tổng phương sai trích = 71,142 % và tất cả các  
biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5 đạt yêu cầu [3] và cho biết các  
nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến sử dụng nhân sự trong các doanh nghiệp cho  
ngành dịch vụ khách sạn của quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.  
- Các nhân tố bên trong  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá lần 1 với 13 biến quan sát cho thấy, có  
hệ số KMO = 0,870; giá trị tổng phương sai trích = 75,854%; hệ số tải nhân tố của  
các biến quan sát đều lớn hơn 0,5. Theo Wright, P.M.Gary C. McMahan, Abagail  
Mcwilliams (1994), biến THCV5 (Người lao động làm việc trong môi trường  
thoải mái) có hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5 phải được loại biến này ra [5, tr97] và  
tác giả chạy lại kết quả phân tích nhân tố khám phá lần 2 qua Bảng 5 như sau:  
269  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Bảng 5: Kết quả EFA các nhân tố bên trong tác động đến việc bố trí  
nhân sự  
Nhân tố  
1
2
3
LUONG4  
LUONG2  
LUONG3  
LUONG1  
LUONG5  
THCV2  
THCV1  
THCV4  
THCV3  
TD2  
.862  
.795  
.766  
.640  
.622  
.823  
.821  
.766  
.704  
.910  
.722  
.657  
TD1  
TD3  
Hệ số KMO = 0,876  
Phương sai trích = 77,615%  
(Nguồn: Phân tích từ số liệu khảo sát, 2017)  
Kết quả FFA lần 2 với 12 biến quan sát cho thấy, hệ số KMO = 0,876; giá  
trị tổng phương sai trích = 77,615%, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân  
tố lớn hơn 0,5 đạt yêu cầu [3, tr52] và cho biết các nhân tố bên trong ảnh hưởng  
đến sử dụng nhân sự cho dịch vụ khách sạn của quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ là  
270  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
ba nhóm nhân tố: lương, thực hiện đánh giá kết quả công việc và quy trình tuyển  
dụng nhân sự.  
3. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ  
3.1. Kết luận  
Nghiên cứu đã được xác định và tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử  
dụng nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ khách sạn của quận Ninh Kiều, TP. Cần  
Thơ, từ đó tác giả đề xuất hàm ý quản trị nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ khách  
sạn của địa bàn nghiên cứu.  
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động thuộc phạm vi nghiên  
cứu bao gồm: có 02 nhân tố bên ngoài là kinh tế – xã hội và nhân tố cạnh tranh và  
chính trị – pháp luật; có 03 nhân tố bên trong là lương thưởng và phúc lợi, thực  
hiện đánh giá kết quả công việc và quy trình tuyển dụng.  
3.2. Hàm ý quản trị  
Xuất phát từ kết quả phân tích được như trên, ta có hai nhóm hàm ý để sử  
dụng nhân sự trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn ở quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ  
như sau:  
3.2.1. Các nhân tố bên ngoài  
- Đối với nhân tố kinh tế – xã hội  
TP. Cần Thơ nên tiếp tục duy trì phát triển kinh tế thông qua các chính sách  
thu hút đầu tư, ưu đãi đầu tư…, đồng thời TP. Cần Thơ nên quan tâm hơn nữa đến  
chính sách đào tạo nghề cho người lao động để họ có thể trang bị tốt những kĩ  
năng, kiến thức làm việc hiệu quả, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân  
lực cho địa phương. Mặt khác, TP. Cần Thơ cần thực hiện chặt chẽ công tác giải  
quyết nhà ở cho người lao động tại địa phương để người lao động có thể an tâm  
trong quá trình làm việc.  
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tại TP. Cần Thơ cần quan tâm hơn đến các  
chính sách đãi ngộ nhằm thu hút những người tài vì chính sách đãi ngộ là chính  
sách quan trọng nhất tác động đến người lao động, từ đó sẽ làm tăng khả năng sử  
dụng nguồn nhân lực vào các doanh nghiệp cho ngành dịch vụ khách sạn của quận  
Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.  
- Đối với nhân tố chính trị – pháp luật  
TP. Cần Thơ nên tiếp tục cải thiện tình hình kinh tế – xã hội theo hướng ổn  
định, phổ biến các chính sách pháp luật về lao động hiện nay cho người lao động  
nắm rõ, đồng thời TP. Cần Thơ cần phải có chính sách tài chính đáp ứng đủ nhu  
cầu đào tạo nguồn nhân lực của địa phương, từ đó sẽ làm tăng khả năng sử dụng  
nguồn nhân lực vào các doanh nghiệp cho ngành dịch vụ khách sạn của quận Ninh  
Kiều, TP. Cần Thơ.  
271  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
- Đối với nhân tố cạnh tranh  
TP. Cần Thơ là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu  
Long. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, mức độ cạnh tranh giữa ngành du  
lịch, trong đó có khách sạn trong vùng khá gay gắt, cụ thể việc phát triển điểm  
đến du lịch khá phong phú nên vào những dịp nghỉ lễ, Bạc Liêu luôn xảy ra tình  
trạng “cháy phòng”; vào những tháng đi “vía Bà” ở Châu Đốc, An Giang thì cả  
Châu Đốc và TP. Long xuyên cũng luôn không còn phòng. Trong bối cảnh đó,  
TP. Cần Thơ, đặc biệt quận Ninh Kiều là quận trung tâm, cần nâng cao hơn nữa  
với lợi thế vị trí – trung tâm và du lịch sông nước; đồng thời phải nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng dịch vụ để tăng sự hài lòng cho du  
khách.  
3.2.2. Các yếu tố bên trong  
- Đối với nhân tố lương thưởng và phúc lợi  
Để có thể sử dụng tốt nguồn nhân lực tại doanh nghiệp, doanh nghiệp cần  
phải quan tâm đến chính sách lương thưởng trả cho người lao động tương xứng  
với kết quả công việc mà họ bỏ ra để họ nhiệt huyết hơn khi cống hiến cho doanh  
nghiệp.  
Khi kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được cải thiện thì doanh nghiệp  
nên có chế độ tiền lương cho người lao động sao cho phù hợp với kết quả kinh  
doanh của doanh nghiệp để họ có thêm động lực để phấn đấu hoàn thành tốt công  
việc.  
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng nên quan tâm đến chế độ phúc lợi của  
người lao động theo hướng rõ ràng, minh bạch, công khai, từ đó sẽ làm tăng khả  
năng sử dụng nguồn nhân lực vào các doanh nghiệp cho ngành dịch vụ khách sạn  
của quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.  
- Đối với nhân tố thực hiện đánh giá kết quả công việc  
Doanh nghiệp nên xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá công việc cho nhà  
quản lí, từ đó kích thích nhà quản lí nâng cao năng lực làm việc để có thể sử dụng  
nguồn nhân lực hiệu quả hơn.  
Doanh nghiệp cũng nên thông báo cho người lao động biết và hiểu rõ hơn  
về các tiêu chuẩn đánh giá kết quả công việc của nhà quản lí, đồng thời kết quả  
đánh giá công việc phải khách quan và công bằng, từ đó giúp doanh nghiệp sử  
dụng nguồn nhân lực hiệu quả hơn.  
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên xây dựng môi trường làm việc thoải mái cho  
đội ngũ nhà quản lí để họ có thể cống hiến hết mình vì doanh nghiệp, từ đó sẽ làm  
tăng khả năng sử dụng nguồn nhân lực vào các doanh nghiệp cho ngành dịch vụ  
khách sạn của quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.  
272  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
- Đối với nhân tố quy trình tuyển dụng  
Doanh nghiệp nên xây dựng hệ thống tuyển dụng riêng của doanh nghiệp  
đảm bảo theo hướng khoa học và dựa vào các phẩm chất, năng lực cá nhân để  
thực hiện công việc đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của  
doanh nghiệp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Stivastava M/P. Human resource planning: Approach needs assessments and  
priorities in manpower planning. 1997. Manak New Delhi.  
[2] Mathis, R.L & Jackson J.H. Human Resource Management: A contemporary  
approach. 2007. Prentice Hall.  
[3] Đinh Phi Hổ. Phương pháp nghiên cứu kinh tế và viết luận văn thạc sĩ. 2014.  
TP.HCM: NXB Phương Đông;  
[4] Devanna, M. A., Fombrun, C. J., Tichy, N. M. A Framework for strategic  
human resource management. In Fombrun, C. J., Tichy, M., & Devanna, M.  
A., (eds). Strategic Human Resource Management. 1984. New York: John  
Wiley.  
[5]. Wright, P.M.Gary C. McMahan, Abagail Mcwilliams. Human resources and  
sustained competitive advan – tage: a resource – based perspective. The  
International Journal of Human Resource Management. 1994;Vol.5(2).  
273  
pdf 11 trang yennguyen 19680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn: Trường hợp nghiên cứu tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_viec_su_dung_nguon_nhan_luc_trong.pdf