Biến đổi trong tín ngưỡng của cư dân đảo Hòn Tre, thành phố Nha Trang

No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.72-76  
DOI:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
BIẾN ĐỔI TRONG TÍN NGƯỠNG  
CỦA CƯ DÂN ĐẢO HÒN TRE, THÀNH PHỐ NHA TRANG  
Trương Thị Quốc Ánh1*  
1 Khoa Du lịch – Trường Đại học Khánh Hòa  
* Email: [email protected]  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Bài viết đề cập đến thực trạng tín ngưỡng của cư dân đảo Hòn Tre với những  
biến đổi của nó trong bối cảnh hiện nay. Trên cơ sở đó chúng tôi sẽ làm rõ  
những thay đổi trong niềm tin tín ngưỡng; thực hành tín ngưỡng; đối tượng, cơ  
sở thờ tự và lễ vật thờ cúng. Phần cuối báo cáo là một số kết luận về quá trình  
biến đổi tín ngưỡng của cư dân đảo Hòn Tre, đồng thời chỉ ra sự tồn tại song  
hành hai xu hướng vận động của tín ngưỡng, đó là gìn giữ tín ngưỡng theo nếp  
cũ (truyền thống) và biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới.  
Ngày nhận bài:  
22/6/2020  
Ngày duyệt đăng:  
20/9/2020  
Từ khóa:  
Biến đổi tín ngưỡng, biến  
đổi văn hóa, tín ngưỡng  
1. PHẦN MỞ ĐẦU  
Biến đổi là một quy luật tất yếu trong sự vận động  
không ngừng của lịch sử, chi phối mọi lĩnh vực của đời  
sống con người, trong đó có văn hóa. Tùy vào nhân tố  
tác động cũng như “bản lĩnh tự thân”, các thành tố của  
văn hóa biến đổi khác nhau về tốc độ, quy mô, phương  
thức, trạng thái. Sự biến đổi đó biểu hiện xu thế hay các  
trạng hướng vận động mới của văn hóa.  
thể thiếu, giúp cư dân chống chọi với bao tai ách,  
biến động của tự nhiên và xã hội. Chính vì vậy mà hệ  
thống tín ngưỡng của cư dân Hòn Tre rất đa dạng: tín  
ngưỡng thờ thần Thành Hoàng và Tiền hiền, tín  
ngưỡng thờ cá Ông, tín ngưỡng thờ Mẫu và Nữ thần  
biển, tín ngưỡng cúng cô hồn biển… Chúng thể hiện  
niềm tin của cư dân vào lực lượng siêu nhiên, độ trì  
cứu giúp họ tránh tai họa và cầu mong thu hoạch  
nhiều sản phẩm của biển.  
Là một trong 19 đảo thuộc vịnh Nha Trang, Hòn  
Tre1 là đảo lớn nhất với diện tích 3.250 ha. Đảo nằm  
trong vịnh kín gió, đáy biển nhiều cát, nước trong,  
kết hợp với các dòng hải lưu nóng lạnh thích hợp cho  
sự phát triển của các loài thực vật, sinh vật phù du…  
Do vậy, Hòn Tre là địa điểm thích hợp cho hoạt động  
đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Cư dân sinh sống  
chủ yếu là ngư dân, thuộc các khóm đảo: Bãi trũ -  
Vũng Me, Vũng Ngán, Đầm Bấy, Bích Đầm.  
Ngày nay, bối cảnh kinh tế xã hội đã tác động lớn  
đến sự thay đổi ở Hòn Tre, một trong những biểu  
hiện rõ nét nhất là quá trình chuyển đổi từ ngư  
nghiệp truyền thống sang phát triển một số ngành  
nghề kinh tế khác, trong đó điển hình là kinh tế du  
lịch. Như một quy luật tất yếu, những đổi thay về  
môi trường, điều kiện sống là tác nhân gây nên  
những biến đổi về văn hóa tinh thần. Những thực  
hành sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng cổ truyền của cư  
dân vùng đảo được duy trì, diễn ra trong một bối  
cảnh phức tạp như vậy không thể không có các biến  
đổi khác trước. Bài viết này đề cập đến thực trạng tín  
ngưỡng của cư dân đảo Hòn Tre với những biến đổi  
của nó trong bối cảnh hiện nay.  
Cuộc sống mưu sinh bằng nghề biển đầy hiểm  
nguy, bất trắc nên sự ra đời của tín ngưỡng như một  
nhu cầu lớn lao, là chỗ dựa về mặt tinh thần không  
1 Nhiều cư dân địa phương cho rằng tên đúng của đảo phải  
là Hòn Che bởi đảo có vị trí án ngữ dông bão, che chắn cho  
thành phố Nha Trang.  
T.T.Q.Anh/ No.18_Oct 2020|p.72-76  
Ngư dân Phạm Phú2 kể, cách đây gần 10 năm, tàu  
2. NỘI DUNG  
ông đang đánh bắt trên vùng biển Hoàng Sa thì bỗng  
nhiên gặp bão lớn. Tàu chìm, toàn bộ ngư dân đi  
thuyền bị sóng nhồi kiệt sức và buông xuôi sau đó.  
Còn ông, nhờ có sức khỏe và may mắn bám vào cây  
khô trôi nổi trên biển nên trụ lại lâu hơn. Nhưng  
nhiều giờ bị sóng đánh, ông cũng đuối sức. Giữa lúc  
cái chết cận kề, ngư dân van vái và được Ông Nam  
Hải đến cứu giúp. Đến bây giờ, ông vẫn còn nguyên  
cảm giác mừng rỡ khi thân mình đang chìm dưới  
nước bỗng dưng được Ông đẩy lên và đưa nhanh vào  
bờ [Nguồn: kết quả phỏng vấn của tác giả].  
2.1. Thay đổi trong niềm tin tín ngưỡng  
Sự kết hợp giữa yếu tố nông nghiệp trong cội  
nguồn và ngư nghiệp nơi vùng đất mới trong sinh  
hoạt và lao động sản xuất đã dẫn đến sự đa dạng  
trong tâm thức thờ thần của người Việt trên đảo Hòn  
Tre. Niềm tin là yếu tố cốt lõi để tạo nên tâm thức tín  
ngưỡng và được biểu hiện qua các hành vi thờ cúng.  
Đối với cư dân Hòn Tre, niềm tin tín ngưỡng  
được thể hiện qua việc thờ cúng cá Voi, thờ thần  
Thành Hoàng, thờ Tiền hiền, Hậu hiền, thờ Nữ  
thần/Mẫu thần, cúng Cô hồn/Cô bác. Ngoài ra, còn  
có một số tục thờ khác như: thần Giám, thần cai quản,  
tổ nghề… Niềm tin này được hình thành từ nhiều  
nguyên nhân. Trước hết, xuất phát từ quan niệm “có  
thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Nhất là đối với cộng  
đồng cư dân sinh sống bằng nghề biển, nhiều rủi ro  
lắm hiểm nguy thì quan niệm này lại càng ăn sâu vào  
tâm thức của họ. Bên cạnh đó, khi mới đến định cư ở  
vùng đất mới, người Việt đã lập nên các bàn thờ  
Thành Hoàng, Tiền hiền… trước là để nhớ về cội  
nguồn, tưởng nhớ công ơn, sau là để cầu xin sự phù hộ  
độ trì để được yên ổn, no ấm. Mặc khác, người miền  
biển luôn mang trong mình những câu chuyện, những  
giai thoại, những sự tích ly kỳ, tâm linh huyền bí, đó  
cũng chính là cơ sở để người dân đặt niềm tin với sự  
linh thiêng của các vị thần.  
Để có thông tin và số liệu cụ thể phục vụ cho việc  
phân tích biến đổi tín ngưỡng tại cộng đồng cư dân  
Hòn Tre, chúng tôi đã tiến hành phát 210 phiếu hỏi ở  
3 khóm đảo: Bích Đầm, Vũng Ngán và Đầm Bấy,  
mỗi khóm đảo 70 phiếu. Trong đó có 120 nam, 90  
nữ; 70 người là ngư dân, 50 người buôn bán, dịch vụ,  
20 người là cán bộ, công nhân viên chức và 70 người  
thuộc thành phần khác (sinh viên, thất nghiệp…).  
Kết quả khảo sát cho thấy, cư dân đảo Hòn Tre  
vẫn đặt niềm tin vào các vị thần của làng như thần  
Nam Hải, Bà Thiên Y Ana, Thành hoàng, Lệnh chúa  
thủy, Cô bác… ở mức độ không giống nhau.  
2 Cộng tác viên Phạm Phú cư trú tại khóm đảo Bích Đầm  
đã đồng ý cho tác giả đề cập họ tên của mình trong bài viết.  
Biểu đồ 1: Niềm tin vào tín ngưỡng của cư dân tại 3 điểm nghiên cứu  
100  
90  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
Thành hoàng  
Lệnh chúa thủy  
Thần Nam Hải  
Bà Thiên Y Ana  
Cô bác  
Tin  
Không  
tin  
Không  
biết  
Bích  
Đầm  
Vũng Đầm Bấy Bích  
Vũng Đầm Bấy Bích  
Ngán Đầm  
Vũng Đầm Bấy  
Ngán  
Ngán  
Đầm  
Nguồn: Xử lý kết quả điều tra bảng hỏi của tác giả  
T.T.Q.Anh/ No.18_Oct 2020|p.72-76  
Ở biểu đồ 1, có thể thấy niềm tin của cư dân Hòn  
Thành Hoàng, 85.7% tin vào thần Nam Hải, 92.9%  
Tre dành cho các vị thần không có sự đồng nhất. Ở  
Đầm Bấy, không quá 50% số người được hỏi tin vào  
sự linh thiêng của thần Thành Hoàng, Lệnh chúa  
thủy, thần Nam Hải và Cô bác, đa số trả lời không tin  
hoặc không biết gì về các vị thần đó. Trong khi đó ở  
Vũng Ngán, niềm tin của người dân lại chủ yếu tập  
trung vào các vị thần gắn với nghề biển như: thần  
Nam Hải (73.4%), Bà Thiên Y Ana (74.2%), Cô bác  
(55.7%). Không chỉ các vị thần gắn với nghề biển  
mới được đa số cư dân tin như ở Vũng Ngán, niềm  
tin ở cư dân Bích Đầm trải đều ở cả các thần, thậm  
chí mức độ còn đậm đặc hơn với 71.4% tin vào thần  
tin vào Thiên Y Ana và 78.6% tin vào Cô bác.  
Nhìn chung có một bộ phận cư dân đảo Hòn Tre  
hiện nay không còn tin vào các vị thần tín ngưỡng  
của làng, trong khi trước đây được cả cộng đồng dân  
biển tin theo, biểu hiện rõ nhất là Đầm Bấy.  
2.2. Thay đổi trong thực hành tín ngưỡng  
Với niềm tin tín ngưỡng sâu sắc, trong truyền  
thống cư dân Hòn Tre thực hành tín ngưỡng thường  
xuyên, không chỉ các dịp lễ hay lễ hội mà còn cả  
trước mỗi lần đi biển và sau khi đi biển về.  
Khi đặt ra các câu hỏi có liên quan đến vấn đề  
thực hành tín ngưỡng ở cư dân đảo Hòn Tre hiện nay,  
chúng tôi thu được kết quả như sau:  
Biểu đồ 2: Tần suất đến các cơ sở thờ tự của 3 làng  
90  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
1-2 lần/năm  
3-5 lần/năm  
Trên 5 lần/năm  
Bích Đầm Vũng Ngán Đầm Bấy  
Bích Đầm Vũng Ngán Đầm Bấy  
Đình, Lăng  
Dinh, Miếu  
Nguồn: Xử lý kết quả điều tra bảng hỏi của tác giả  
Kết quả khảo sát tần suất đến cơ sở thờ tự cho  
thấy, ở Đầm Bấy số người đến dinh, miếu ngày càng  
giảm. Số người đến đình, lăng có tăng nhưng không  
đáng kể. Còn ở Vũng Ngán và Bích Đầm dù là đình,  
lăng hay dinh, miếu số người đến có xu hướng tăng  
lên, chủ yếu là 1-2 lần/năm vào những dịp có lễ cúng  
lớn như lễ Cầu Ngư, lễ Vía Bà. Đồng thời số người  
đến đình, lăng cũng nhiều hơn so với dinh, miếu.  
Người dân cho biết, đình và lăng nằm ở giữa làng  
nên tiện cho việc đi lại, cúng bái, hơn nữa những  
đối tượng được thờ ở đây gắn liền với cuộc sống lao  
động hằng ngày còn dinh, miếu nằm tương đối xa  
lại ít “thân thuộc”. Bên cạnh đó, có một số nguyên  
nhân tương đồng trong ý kiến của cư dân ở 3 làng  
khi hỏi về sự thay đổi trong việc đến các cơ sở thờ  
tự tín ngưỡng, đó là: Đi nhiều hơn vì tham gia vào  
Ban khánh tiết của làng, có thời gian rảnh nhiều hơn  
do già rồi không đi làm nữa; còn đi ít hơn vì bận đi  
làm ngoài đất liền, không làm nghề biển nữa, bận  
chăm con.  
T.T.Q.Anh/ No.18_Oct 2020|p.72-76  
Bảng 1. Đóng góp của các hộ gia đình cho hoạt động thực hành tín ngưỡng  
Đầm Bấy  
51,4  
Vũng Ngán  
85,7  
Bích Đầm  
94,3  
Đóng góp  
48,6  
14,3  
5,7  
Không đóng góp  
Nguồn: Xử lý kết quả điều tra bảng hỏi của tác giả  
Đối với nội dung khảo sát đóng góp của các gia  
đình cho hoạt động tín ngưỡng tại đảo cho thấy hầu  
hết người dân ở làng Vũng Ngán và Bích Đầm đều tự  
nguyện ủng hộ với tỷ lệ lần lượt là 86% và 94,3%.  
Trong khi đó ở Đầm Bấy số người không đóng góp  
lên đến 34 người (chiếm 48,6%).  
bằng xi măng cốt thép, không mang kiến trúc quen  
thuộc của Đức Ngư Ông, chỉ còn nhà lăng cấu trúc 3  
gian với diện tích vẻn vẹn 24 mét vuông, không có  
hàng rào bao quanh.  
Lăng miếu Vũng Ngán, trước đây cổng lăng  
nằm ở phía Đông, hướng ra biển, nhưng theo quy  
hoạch, khu du lịch Vinpearland xây án ngữ trước  
lăng, cổng mới mở ra phía bên cạnh, hướng Bắc.  
Cổng cũ chỉ còn dấu tích bình phong xây nối thành  
tường rào của lăng.  
Như vậy, trên cơ sở sự thay đổi về niềm tin tín  
ngưỡng đã dẫn đến việc thực hành tín ngưỡng ở cư  
dân đảo Hòn Tre hiện nay cũng có chiều hướng suy  
giảm theo. Mặt khác, kết quả khảo sát cho thấy thực  
hành tín ngưỡng đã có sự khác biệt giữa các làng. So  
với Đầm Bấy nay chủ yếu sinh sống dựa vào các hoạt  
động du lịch, thì Vũng Ngán và Bích Đầm – nơi vẫn  
còn đa số cư dân theo nghề biển việc thực hành tín  
ngưỡng diễn ra thường xuyên và thu hút đông đảo  
người dân hơn.  
Cách bài trí bên trong các cơ sở thờ tự là việc treo  
ảnh, bằng khen hoặc bảng khắc tên những người đã cúng  
tiền cho việc xây dựng, trùng tu như ở đình Bích Đầm.  
2.4. Thay đổi trong lễ vật thờ cúng  
Các lễ cúng truyền thống ở Hòn Tre vẫn được  
duy trì, bảo lưu nhiều yếu tố cổ truyền, tuy nhiên có  
sự gia giảm cho phù hợp với hoàn cảnh thực tại. Xu  
hướng chủ đạo hiện nay trong thực hiện các nghi lễ  
cúng tế là đơn giản hóa, thể hiện ở sự thu hẹp về  
thời gian, thu nhỏ quy mô tổ chức, bỏ bớt một số  
tiểu lễ cũng như không cầu kỳ, câu nệ trong lễ vật  
dâng thần. Do phạm vi bài viết có giới hạn nên  
chúng tôi chỉ xin đề cập đến những thay đổi trong lễ  
vật thờ cúng.  
Với tư cách là chủ thể tín ngưỡng truyền thống, sự  
suy giảm trong niềm tin và thực hành tín ngưỡng của cư  
dân đảo Hòn Tre sẽ ảnh hưởng đến sự duy trì, bảo tồn  
tín ngưỡng cộng đồng đã tồn tại lâu đời tại đây.  
2.3. Thay đổi trong đối tượng và cơ sở thờ tự  
Cùng với sự thay đổi trong niềm tin và thực hành  
tín ngưỡng, đối tượng thờ cúng của cư dân đảo Hòn  
Tre đã có sự thay đổi. Một số vị thần dần vắng bóng  
trong đời sống tinh thần người dân dù vẫn có cơ sở  
thờ tự. Là làng có nhiều đình, miếu thờ thần nhất  
trong ba làng khảo sát nhưng hiện nay Bích Đầm chỉ  
cúng lễ các thần Thành Hoàng, thần Nam Hải, Bà  
Thiên Y Ana, Tiền hiền, Cô bác. Các miếu còn lại  
như An Thanh miếu, Dinh ông Lớn, Dinh 4 vị thần  
cai quản hướng, miếu tổ nghề… hầu như để hoang.  
Nguyên nhân do các miếu này cách xa làng, không  
thuận tiện cho việc đi lại. Trường hợp An Thanh  
miếu trước đây là nơi người dân đến xin các bài  
thuốc chữa bệnh nhưng hiện nay cách điều trị này  
không còn phù hợp nên họ ít đến viếng thăm.  
Trước hết, việc kiêng kỵ đối với những vật phẩm  
dâng thần trong các buổi lễ không còn nghiêm ngặt  
như trước. Tranh các hình nhân thế mạng dùng trong  
lễ tống ôn, trước do người trong làng vẽ nay mua  
ngoài chợ, không thể hiện đầy đủ ý nghĩa ban đầu.  
Hay như lốt Bà Thủy vẽ hình người phụ nữ nửa trên  
là người, nửa dưới là cá, xung quanh là sóng nước  
không như trước đây xung quanh là các lực lượng  
“trợ thủ” của Bà như con đẻn, con vích.  
Sự thay đổi trong đồ dâng cúng theo hướng đơn  
giản, tiện dụng. Ở Bích Đầm, trong các lễ cúng trước  
đây, ở mỗi cơ sở thờ tự đều đặt một con gà giò để  
coi điềm cát hung cho làng trong năm, nhưng nay  
đã bỏ bởi nguồn kinh phí không cho phép. Đồ lễ có  
đầu heo, thịt heo luộc (năm nào làm lớn thì nguyên  
một con heo quay), hình vẽ người thế mạng, lốt cá  
voi, lốt bà Thủy, bà Mộc, bà Ngũ hành, 1 con cua, 4  
con tôm, 4 quả trứng vịt. Thời gian gần đây, đồ lễ  
chỉ có đầu heo, thịt heo luộc, bánh chưng, bánh  
tráng, lốt bà Thủy.  
Về cơ sở thờ tự, hầu hết các đình, lăng, miếu trên  
đảo đã trải qua nhiều lần trùng tu hoặc xây mới đặc  
biệt trong khoảng thời gian từ năm 2010 trở lại đây  
nên ít nhiều đã mang những nét kiến trúc khác trước.  
Lăng miếu Đầm Bấy xây lại vào năm 2012. Nếu  
trước đây, đình được xây dựng bằng gỗ, có lầu  
chiêng trống, bình phong thì nay được xây hoàn toàn  
T.T.Q.Anh/ No.18_Oct 2020|p.72-76  
Sự tiện dụng còn được thể hiện ở việc mua sẵn  
vận động, đó là gìn giữ tín ngưỡng theo nếp cũ (truyền  
thống) và biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới.  
hay đặt làm đối với lễ vật dâng thần. Năm 2015, sau  
6 năm làng Vũng Ngán mới tổ chức lễ cầu ngư lớn  
nên đặt nấu 5 bàn với các món ăn mang tính chất tiệc  
như nộm, súp, lagu bánh mì, cá hấp, gà bó xôi…  
REFERENCES  
[1] Truong Thi Quoc Anh (2015), Cultural life of  
residents of Hon Tre island, Nha Trang city, Khanh  
Hoa province, Master thesis of Culture, University of  
Social Sciences and Humanities (Vietnam National  
University, Ho Chi Minh City).  
Đặc điểm nói trên khiến cho thời gian cúng lễ  
thay đổi (như lễ tế Cô hồn thay vì tổ chức vào lúc tờ  
mờ sáng, khoảng 4 giờ sáng thì nay tổ chức vào lúc 6  
giờ sáng, thậm chí muộn hơn), đồng thời cũng làm  
giảm những quy chuẩn trong việc lựa chọn lễ vật tế  
thần. Bởi thay vì tự đi chọn và mua như trước, hiện  
nay đặt làm nên dù đã yêu cầu người bán lựa chọn  
cẩn thận theo những tiêu chuẩn, song nhiều lúc vẫn  
không được như ý, nhưng phải đành chấp nhận.  
[2] Nguyen Duy Bac (2008), The changes of  
cultural values in building a market economy in  
Vietnam today, Encyclopedia Publishing House and  
Institute of Culture, Hanoi.  
[3] Tran Viet Kinh 2004, Bich Dam Island  
Village, Printed in Ancient Village in Nha Trang.  
Khanh Hoa Art and Literature Publishing House,  
p.170-173.  
3. KẾT LUẬN  
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế  
hướng biển, chuyển đổi nghề nghiệp… đã tác động  
mạnh mẽ đến khu vực đảo Hòn Tre, trước hết làm  
thay đổi không gian cư trú, tiếp sau là không gian  
sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng.  
[4] Le Hong Ly (2002), "Some coastal folklore  
features in the market economy", Journal of Folklore,  
No. 3 (81), p.38-49.  
[5] Ngo Duc Thinh (2000), Folklore of coastal  
residents, Social Science Publishing House, Hanoi.  
Sự biến đổi tín ngưỡng của cư dân đảo Hòn Tre  
phản ảnh trên nhiều phương diện, từ những yếu tố hữu  
thể đến những yếu tố vô hình. Mặt khác nó diễn ra với  
cường độ và quy mô không giống nhau ở các thành tố  
tín ngưỡng và ở các làng trên đảo. Đầu tiên, không gian  
gốc cấu thành tín ngưỡng bị thu hẹp bởi những dự án du  
lịch và sự chuyển dịch hay biến mất của một số cơ sở  
thờ tự tín ngưỡng. Cùng với đó là một số biến đổi khác  
diễn ra trong sinh hoạt tín ngưỡng như việc tận dụng  
tiến bộ khoa học vào hoạt động thờ cúng, hay không  
quá khắt khe đối với vật phẩm dâng cúng. Bên cạnh đó,  
niềm tin và thực hành tín ngưỡng cũng suy giảm.  
[6] Nguyen Thi Hai Yen (2002), Socio-economic  
assessment in Hon Mun conservation area.  
Exprimental project of Hon Mun marine protected  
area, Publishing House of Nha Trang Institute of  
Oceanography.  
[7] Inglehart, Ronald and Wayne E.Baker (2000),  
“Modernization, Cultural Change and Persistence of  
Traditinonal Values”American Sociological Review,  
Vol.65, No.1.  
[8] Bronislaw Malinowski (1992), Magic,  
Science and Religion, Waveland Press, Illinois: 87.  
[9] Spindler, Louise S. (1977), Culture change  
and Modernization: Mini-models and Case Studies  
New York, Holt, Rinehart and Winston.  
Quá trình vận động của tín ngưỡng ở cư dân đảo  
Hòn Tre cho thấy có sự tồn tại song hành hai xu hướng  
CHANGES IN THE BELIEFS OF RESIDENTS ON HON TRE ISLAND, NHA TRANG CITY  
Article info  
Abstract  
The article mentions the status of beliefs of residents on Hon Tre island with its  
changes in the current context. On that basis, we will clarify the changes in beliefs;  
practice of beliefs; gods, places of worship and offerings of worship. At the end of  
the report are some conclusions about the process of changing beliefs of the  
residents on Hon Tre island, besides, it pointed out the parallel existence of two  
movement trends of beliefs, that is to keep the beliefs according to the old  
(traditional) way and change to suit the new situation.  
Recieved:  
22/6/2020  
Accepted:  
20/9/2020  
Keywords:  
Change of beliefs,  
change in culture,  
beliefs  
pdf 5 trang yennguyen 9620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biến đổi trong tín ngưỡng của cư dân đảo Hòn Tre, thành phố Nha Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_doi_trong_tin_nguong_cua_cu_dan_dao_hon_tre_thanh_pho_n.pdf