Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng tại khu kinh tế trọng điểm miền Trung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
BÁO CÁO TÓM TẮT  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
CẤP ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
QUỸ PHÁT TRIỂN KH&CN  
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN  
LỰC CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TẠI KHU KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG  
Mã số: B2017-ĐN05-13  
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Phan Thị Yến  
Đà Nẵng, 05/2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
BÁO CÁO TÓM TẮT  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
CẤP ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
QUỸ PHÁT TRIỂN KH&CN  
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN  
LỰC CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TẠI KHU KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG  
Mã số: B2017-ĐN05-13  
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài  
Chủ nhiệm đề tài  
(ký, họ và tên, đóng dấu)  
(ký, họ và tên)  
Đà Nẵng, 05/2019  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển  
nguồn nhân lực ở nước ta được văn kiện Đại hội XII của đảng đề ra,  
đây là nhiệm vụ quan trọng có ảnh hưởng đến toàn xã hội. Để thực  
hiện được điều này, cần phải bắt đầu từ đổi mới quan điểm, tư tưởng  
chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp… Nhiệm vụ trọng tâm  
của đất nước trong giai đoạn này là phải tạo ra nguồn nhân lực chất  
lượng cao đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến  
trình hội nhập của đất nước. Đối với Việt Nam, cả hai nguồn lực tài  
chính và tài nguyên thiên nhiên đều rất hạn chế nên nguồn lực con  
người đương nhiên đóng vai trò quyết định. Chiến lược phát triển  
kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhưng  
quan trọng nhất quyết định sự thành công vẫn là nguồn nhân lực.  
Nguồn nhân lực chiếm một vị trí trung tâm trong chiến lược phát  
triển kinh tế - xã hội nước ta. Đây là nhân tố quan trọng để đưa nước  
ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp phát triển. Do vậy,  
khai thác, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng  
góp phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá hiện đại  
hoá đất nước. Muốn có được một nguồn nhân lực có chất lượng tốt,  
chúng ta phải có những hoạt động tích cực để nâng cao chất lượng  
nguồn nhân lực nước nhà, trước hết phải bắt đầu từ việc giáo dục và  
đào tạo. Giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng là trang bị kiến thức, truyền  
thụ kinh nghiệm, hình thành kỹ năng kỹ xảo trong hoạt động, hình  
thành nên phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức và tâm lý, tạo nên  
những sản phẩm đặc trưng và tương ứng với mỗi xã hội nhất định.  
Nội dung của giáo dục, đào tạo quy định nội dung của các phẩm chất  
tâm lý tư tưởng, đạo đức và định hướng sự phát triển của mỗi nhân  
cách. Đó là chiến lược đúng đắn của nước ta hiện nay, chiến lược  
đào tạo nguồn nhân lực gắn với thực tế nhu cầu xã hội.  
Một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng đào  
tạo của cơ sở giáo dục là đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội. Để xác  
định được mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của sản phẩm đào tạo,  
Nhà trường cần có những khảo sát, đánh giá thông qua nhà tuyển  
dụng - đơn vị trực tiếp sử dụng sản phẩm đào tạo. Nói đến chất  
2
lượng và hiệu quả đào tạo là nói đến mục đích chính và kết quả thực  
tế của mọi quá trình đào tạo của nhà trường và rộng hơn là của toàn  
bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Đánh giá chất lượng và hiệu quả đào  
tạo là việc làm thường xuyên, liên tục của mọi cơ sở đào tạo trong  
ngành giáo dục tại Việt Nam. Việc đánh giá có thể tiến hành nhiều  
cách nhưng đáng tin cậy nhất là trực tiếp đánh giá trên đối tượng sử  
dụng lao động (sản phẩm đào tạo) để lượng hóa mức độ đáp ứng  
công việc và nhu cầu của xã hội.  
Từ năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định  
về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo trường đại  
học. Đây là cơ sở để mỗi trường đại học tự kiểm định chất lượng  
giáo dục nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo và để giải  
trình với các cơ quan chức năng, xã hội về thực trạng chất lượng đào  
tạo; để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận trường đại học đạt  
tiêu chuẩn chất lượng giáo dục; để người học có cơ sở lựa chọn  
trường và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực.  
Đánh giá năng lực người học là khâu quan trọng, là công  
đoạn cuối cùng của quá trình dạy học nhưng là khâu mở đầu cho một  
quá trình mới ở mức cao hơn. Chính vì là khâu quan trọng nên từ  
năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Hướng dẫn xây  
dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo để hướng dẫn cơ sở  
giáo dục công bố chuẩn đầu ra cho các ngành đào tạo. Đây là nhiệm  
vụ trọng tâm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và cam kết chất  
lượng đào tạo với xã hội.  
Trong xu thế phát triển, các trường đại học đã xây dựng  
chuẩn đầu ra cho các chương trình đào tạo (CTĐT) theo hướng dẫn  
của Bộ Giáo dục và Đảm tạo. Để đảm bảo chất lượng đầu ra của sinh  
viên Nhà trường đã ban hành các chuẩn đầu ra cụ thể cho từng ngành  
học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chú trọng  
vào chuẩn năng lực ngoại ngữ của từng ngành. Hiện nay, các chuẩn  
đầu ra chỉ mới dừng lại ở việc công bố cho người học, phụ huynh,  
nhà tuyển dụng biết nhưng chưa có tiêu chí cụ thể cho việc đánh giá  
các chuẩn năng lực này.  
Việc công bố các chuẩn đầu ra cụ thể giúp đảm bảo các sinh  
viên có được cơ sở nền tảng trong việc lựa chọn các vị trí việc làm  
3
phù hợp. Trên thực tế, Nhà trường xây dựng ban hành chuẩn đầu ra  
cho các ngành học nhưng chưa xây dựng các công cụ để đánh giá các  
chuẩn năng lực đầu ra một cách hiệu quả. Xuất phát từ những lý do  
đó, việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu mức độ đáp nhu cầu nhân  
lực của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh, Trường Đại học Ngoại –  
Đại học Đà Nẵng tại khu kinh tế trọng điểm miền Trung” để  
nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề cấp thiết trong việc đánh giá  
chuẩn năng lực đầu ra với nhu cầu nhân lực tại khu kinh tế trọng  
điểm miền Trung làm cơ sở cho việc kiểm định chất lượng CTĐT.  
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài  
Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá mức độ đáp ứng đối với  
công việc của sinh viên tiếng Anh mới tốt nghiệp đại học ngành  
Ngôn ngữ Anh tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng.  
Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát các đánh giá của nhà  
tuyển dụng về mức độ đáp ứng đối với công việc của SV mới tốt  
nghiệp đại học ngành Ngôn ngữ Anh, xét trên các phương diện kiến  
thức, kỹ năng, thái độ và năng lực làm việc của sinh viên tốt nghiệp.  
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu  
3.1. Khách thể nghiên cứu  
Khách thể nghiên cứu của đề tài là nhà tuyển dụng tại khu kinh  
tế trọng điểm miền Trung và sinh viên mới tốt nghiệp ngành Ngôn  
ngữ Anh tại Trường ĐHNN – ĐHĐN.  
3.2. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đánh giá mức độ đáp ứng đối  
với công việc của sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo và 6  
tháng sau tốt nghiệp đại học chính quy ngành Ngôn ngữ Anh tại  
Trường ĐHNN – ĐHĐN tại khu kinh tế trọng điểm miền Trung.  
4. Phạm vi nghiên cứu  
Đề tài giới hạn nghiên cứu trong phạm vi đánh giá mức độ  
đáp ứng năng lực đầu ra của sinh viên ngành ngôn ngữ Anh với nhu  
cầu nhân lực tại khu kinh tế trọng điểm miền Trung (gồm các tỉnh  
thành Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình  
Định).  
Về thời gian quan sát thu thập thông tin: Từ tháng 06/2017  
đến hết tháng 04/2019.  
4
5. Phương pháp nghiên cứu  
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết  
5.2.Phương pháp phỏng vấn sâu  
5.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi  
5.4. Một số phương pháp khác  
6. Giả thuyết nghiên cứu  
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài  
7.1. Ý nghĩa lý luận  
7.2. Ý nghĩa thực tiễn  
8. Cấu trúc của đề tài  
Với cách xác định mục tiêu và nhiệm vụ đề tài phải giải  
quyết, đề tài có kết cấu gồm các phần: Mở đầu, Chương 1, Chương  
2, Chương 3, Kết luận và khuyến nghị.  
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC VÀ  
ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC  
1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
Trong những năm qua, với vai trò là quốc sách, với mục tiêu  
là đào tạo nhân lực phục vụ tiến trình phát triển đất nước theo hướng  
công nghiệp hiện đại, giáo dục được đầu tư mạnh mẽ từ nhiều nguồn,  
của ngân sách nhà nước và của xã hội. Tuy nhiên, tiến trình phát  
triển công nghiệp diễn ra quá nhanh làm cho tiến trình phát triển giáo  
dục không đuối theo kịp. Thật vậy, không khó lắm để nhận ra rằng  
trên con đường phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, Việt  
Nam đang được đặt trong một bối cảnh phải phát triển "kép". Thứ  
nhất là vì đây là một thời kỳ mà thế giới có tốc độ phát triển công  
nghiệp rất nhanh với nền công nghiệp dựa trên tri thức; thứ hai là  
nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa với trình độ công nghiệp  
rất thấp chuyển sang nền kinh tế thị trường với đòi hỏi trình độ công  
nghiệp ngang tầm thế giới để đủ sức cạnh tranh và hội nhập. Do đó,  
hơn lúc nào hết, đất nước chúng ta đang cần một một lực lượng lao  
động trình độ cao. Nhu cầu này đã và đang tạo nên một sức ép rất lớn  
đối với nền giáo dục vốn không thể phát triển nhanh như công  
nghiệp. Sự thiếu đồng bộ giữa yêu cầu của nền kinh tế cần có một  
lực lượng lao động trình độ cao, số lượng nhiều với một sự tăng  
trưởng giáo dục khá chậm chạp không những đã làm chậm tốc độ  
5
phát triển kinh tế, mà còn đưa nền giáo dục đến nhiều bất cập. Nhiều  
chương trình đào tạo đại học chưa kịp chuyển từ nền kinh tế kế  
hoạch sang nền kinh tế thị trường, sản phẩm đào tạo là sinh viên tốt  
nhu cầu của nhà tuyển dụng. Từ đó phát sinh ra tình trạng thừa người  
tốt nghiệp đại học, thiếu kỹ sư trong các nhà máy. Đó là một sự lãng  
phí vô cùng lớn vì các đầu tư không nhỏ của xã hội và cá nhân cho  
việc học đại học của sinh viên không được sử dụng hiệu quả.  
Điểm mạnh của các nghiên cứu về yêu cầu của người sử  
dụng lao động là chỉ ra những điều cần thiết đối với sinh viên tốt  
nghiệp để bản thân sinh viên có thể hòa nhập vào công việc sau khi  
tốt nghiệp. Điều này giúp các cơ sở đào tạo có những định hướng  
phù hợp trong quá trình đào tạo. Tuy nhiên, những công trình nghiên  
cứu trên chỉ phân tích đối tượng có liên quan đến yêu cầu của người  
sử dụng lao động là sinh viên tốt nghiệp. Trong khi đó người sử dụng  
lao động đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các kỹ năng  
nghề nghiệp thì rất ít công trình nghiên cứu đến. các hình thức thể  
hiện yêu cầu của người sử dụng lao động không chỉ ở các mẫu tuyển  
dụng mà còn thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhưng chưa được  
nghiên cứu đến  
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI  
1.2.1. Khái niệm năng lực  
“Năng lực là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có  
hiệu quả kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện công việc, giải  
quyết tình huống trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp”.  
1.2.2. Năng lực của sinh viên tốt nghiệp đại học  
1.2.2.1. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu  
Năng lực của sinh viên tốt nghiệp đại học là những năng lực  
mà cá nhân người tốt nghiệp đại học có được sau khi hoàn thành  
chương trình giáo dục đào tạo đại học. Năng lực của người tốt  
nghiệp đại học cũng là một năng lực tổng hợp, bao gồm nhiều thành  
tố và có nhiều quan điểm khác nhau về những thành tố cấu thành  
năng lực của người tốt nghiệp đại học.  
1.2.2.2. Theo quan điểm của các cơ sở giáo dục đại học  
Các trường đại học có quan điểm gần với các nhà nghiên cứu  
giáo dục về năng lực của người lao động tốt nghiệp đại học. Tuy  
6
nhiên, họ quan tâm nhiều hơn đến các tiêu chí cụ thể để đo lường khả  
năng đáp ứng với yêu cầu thực tế công việc của người lao động. Các  
thành tố của năng lực theo quan điểm của trường đại học có vẻ ít  
hàm lâm hơn của các nhà nghiên cứu giáo dục.  
1.2.3. Năng lực làm việc  
Năng lực đầu ra là khả năng tiếp nhận và vận dụng kiến  
thức, kỹ năng, thái độ để giải quyết những vấn đề sao cho đạt hiệu  
quả cao nhất nhưng tiêu tốn chi phí nguồn lực ở mức thấp nhất. Điều  
này phụ thuộc vào khả năng giải quyết công việc của từng cá nhân  
trong từng bối cảnh khác nhau.  
Như vậy năng lực làm việc là khả năng thực hiện nhiệm vụ  
của bản thân thông qua một công việc cụ thể đáp ứng yêu cầu về chất  
lượng của công việc.  
1.2.4. Những yếu tố cấu thành năng lực  
Các nhóm năng lực chính được Benjamin Bloom (1956) đưa  
ra bao gồm:  
- Kiến thức: thuộc về năng lực tư duy (Cognitive)  
- Kỹ năng: kỹ năng thao tác (Manual or physical)  
-Phẩm chất/Thái độ: thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm  
(Affective).  
1.2.5. Khái niệm đáp ứng công việc  
Mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp đại  
học ngành Ngôn ngữ Anh chính là mức độ hoàn thành các yêu cầu,  
đòi hỏi của công việc dựa trên năng lực mà những sinh viên tốt  
nghiệp đại học ngành Ngôn ngữ Anh tích lũy được.  
1.2.6. Đánh giá mức độ đáp ứng công việc  
Đánh giá mức độ đáp ứng công việc của sinh viên sau khi tốt  
nghiệp là đánh giá năng lực làm việc của sinh viên tại đơn vị lao  
động, thông qua từng vị trí việc làm cụ thể. Hay nói cách khác là  
đánh giá “sản phẩm đào tạo” của nhà trường.  
1.3. LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU NHÂN LỰC  
1.3.1. Lý luận về nhân lực  
Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí  
lực con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất.  
7
Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực  
quý giá nhất trong các yểu tố sản xuất của các doanh nghiệp. .  
1.3.2. Khái niệm về thị trường lao động  
Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi  
thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao  
động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao  
động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền  
lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao  
động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng  
hay thỏa thuận khác. Thị trường sức lao động được cấu thành bởi ba  
yếu tố là: cung, cầu và giá cả sức lao động.  
1.3.3. Xác định nhu cầu nhân lực  
Việc xác định nhu cầu về lao động trong doanh nghiệp nhằm  
đảm bảo cho doanh nghiệp có được đúng người, đúng việc, vào đúng  
thời điểm cần thiết và đối phó linh hoạt với sự thay đổi của thị  
trường.  
Riêng ở nghiên cứu này, việc xác định nhu cầu lao động của  
sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học  
Đà Nẵng là dựa trên cơ sở thu thập thông tin của nhà tuyển dụng. Họ  
cần nguồn nhân lực này cho các vị trí trong đơn vị nhờ vào công tác  
quy hoạch chiến lược nhân sự của đơn vị và khu kinh tế trọng điểm  
miền Trung.  
1.3.4. Mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng sản phẩm đào  
tạo  
Mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại  
học là mối quan hệ biện chứng giữa người cung ứng dịch vụ và  
người sử dụng sản phẩm của dịch vụ. Trường đại học là nơi đào tạo  
nhân lực, chuẩn bị nguồn nhân lực cả về cơ cấu, số lượng và chất  
lượng để phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Các  
đơn vị sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học là nơi sử dụng các sản  
phẩm của các trường đại học - những nhân lực đã qua đào tạo.  
Trong phạm vi chương 1, chúng tôi đã nghiên cứu các lý luận  
về năng lực và mức độ đáp ứng năng lực nhằm làm cơ sở cho việc  
nghiên cứu mức độ đáp ứng năng lực của sinh viên tốt nghiệp ngành  
Ngôn ngữ Anh tại khu kinh tế trọng điểm miền Trung.  
8
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC ĐẦU RA  
CỦA SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI  
HỌC ĐÀ NẴNG VÀ NHU CẦU NHÂN LỰC TẠI VÙNG KINH  
TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG  
2.1. TÌNH HÌNH ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI  
NGỮ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
2.1.1. Quy mô đào tạo của Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại  
học Đà Nẵng  
Trong 10 năm qua, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHĐN đã  
đào tạo gần sáu mươi ngàn sinh viên các ngành ở cả hai hệ đào tạo  
chính quy và hệ đào tạo vừa làm vừa học. Trong đó, hệ chính quy  
51.711 sinh viên của 19 ngành đào tạo bậc đại học, hệ vừa học vừa  
làm 18.130 sinh viên của ngành ngôn ngữ Anh.  
2.1.2. Đặc điểm năng lực nghề nghiệp của sinh viên tốt  
nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh  
2.1.2.1. Năng lực nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp  
ngành Ngôn ngữ Anh  
Hiện nay, ngành Ngôn ngữ Anh của Trường Đại học Ngoại  
ngữ được đào tạo với ba chuyên ngành Tiếng Anh Biên - Phiên dịch,  
Tiếng Anh Thương mại và Tiếng Anh Du lịch. Sinh viên ngành  
Ngôn ngữ Anh được trang bị kiến thức nền tảng về ngôn ngữ, văn  
hóa Anh - Mỹ, kỹ năng chuyên sâu về thực hành tiếng, kỹ năng phân  
tích, tổng hợp và đánh giá các vấn đề liên quan tới chuyên ngành.  
2.1.2.2 . Số lượng sinh viên tốt nghiệp trong 5 năm gần đây  
Trường Đại học Ngoại ngữ đào tạo nguồn nhân lực các  
ngành ngôn ngữ như tiếng Anh, Trung, Nhật, Hàn, Thái, Nga, Pháp  
và hai ngành Quốc tế học, Đông Phương học. Trong đó, số lượng  
sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh chiếm tỷ trọng lớn từ 47% - 59%  
trong tổng số sinh viên tuyển sinh của nhà trường. Số lượng sinh  
viên tốt nghiệp hàng năm khoảng từ 900-1200 sinh viên cho các  
ngành đào tạo của Trường Đại học Ngoại ngữ.  
2.2. KHÁI QUÁT VỀ CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÙNG KINH TẾ  
TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG  
2.2.1. Thừa Thiên - Huế  
Thừa thiên Huế có nhiều điểm du lịch thu hút lượng lớn khách  
9
du lịch trong và ngoài nước, có số lượng khách sạn tương đối lớn.  
Đây là môi trường việc làm khá thuận lợi cho sinh viên các ngành  
của Trường Đại học Ngoại ngữ, đặc biệt là sinh viên ngành tiếng  
Anh.  
2.2.2. Đà Nẵng  
Đà Nẵng là một trong những trung tâm giáo dục và đào tạo lớn  
nhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước. Hiện nay  
trên địa bàn thành phố có 15 trường đại học, học viện; 18 trường cao  
đẳng; 50 trường trung học chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề  
(CTKTPĐN, 2015).  
2.2.3. Quảng Nam  
Quảng Nam có nhiều khu du lịch sinh thái, thu hút khách du  
lịch trong và ngoài nước, có các khu công nghiệp lớn tạo điều kiện  
việc làm cho lao động không chỉ trong tỉnh mà thu hút lao động cả  
nước.  
2.2.4. Quảng Ngãi  
Quảng Ngãi là vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá lâu  
đời như khu du lịch văn hoá Sa Huỳnh, dấu vết văn hoá cổ xưa như  
thành cổ Châu Sa, Gò Vàng…, có di tích lịch sử Ba Tơ, Sơn Mỹ, Ba  
Gia, Trà Bồng, Vạn Tường, nhiều cảnh đẹp như Thiên Ấn Niêm Hà,  
Thiên Bút Phê Vân, Thạch Bích Tà Dương, Cổ Luỹ Cô Thôn, Nước  
Trong – Ca Đam…, nhiều bãi biển như Mỹ Khê, Sa Huỳnh,… những  
tiềm năng trên là điều kiện để phát triển du lịch nghỉ dưỡng với nhiều  
loại hình, sản phẩm du lịch đa dạng.  
2.2.5. Bình Định  
Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá Sa  
Huỳnh, từng là cố đô của vương quốc Chămpa mà di sản còn lưu giữ  
là thành Đồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo.  
2.3. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT  
2.3.1. Mục đích khảo sát  
2.3.2. Nội dung khảo sát  
10  
2.3.3. Đối tượng, phạm vi khảo sát  
2.3.4. Tổ chức khảo sát  
2.3.5. Xử lý số liệu  
Sử dụng các phần mềm SPSS, ConQuest và AMOS để phân  
tích.  
2.4. NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN NGÀNH  
NGÔN NGỮ ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ -  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
2.4.1. Tiêu chí đánh giá năng lực nghề nghiệp của sinh viên  
ngành Ngôn ngữ Anh sau tốt nghiệp  
Sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh sau khi tốt nghiệp cần đạt  
được những năng lực cần thiết để đáp ứng với chuẩn đầu ra mong  
đợi của chương trình đào tạo.  
2.4.2. Đánh giá dựa vào năng lực tri thức  
Đánh giá năng lực tri thức là đánh giá khả năng thu nhận tri  
thức liên quan tới việc ghi nhớ, tái hiện lại các sự vật, hiện tượng  
thông qua việc thực hiện các chương trình đào tạo của khóa học.  
2.4.3. Đánh giá dựa vào năng lực thực hành  
Đánh giá dựa vào năng lực thực hành là khả năng giao tiếp,  
tranh luận, tổ chức thông tin, phân tích hệ thống, tư duy phản biện,  
khả năng giải quyết vấn đề và hình thành những ý tưởng có giá trị;  
Đánh giá căn cứ vào mức độ đạt được các kỹ năng nghề nghiệp,  
nghiên cứu, khám phá kiến thức vận dụng vào thực tế công việc của  
bản thân.  
2.4.4. Đánh giá phẩm chất đạo đức  
Đánh giá phẩm chất đạo đức dựa vào việc hình thành đạo đức  
cá nhân, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức xã hội.  
2.4.5. Đánh giá năng lực làm việc và học tập  
Năng lực làm việc và học tập nâng cao trình độ của sinh viên  
hoàn thành CTĐT. Sinh viên ngành NN Anh tự đánh giá năng lực  
làm việc và học tập ở mức thực hành thành thạo và sáng tạo ở mức  
chưa thực sự cao tại đơn vị lao động.  
11  
2.5. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN  
NGỮ ANH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG  
Điểm mạnh của sinh viên tốt nghiệp ngành NN Anh là vận  
dụng thành thạo tiếng Anh trong các lĩnh vực công tác. Chính vì thế  
dù hai ngành có đặc thù riêng nhưng cốt lõi vẫn là việc sử dụng  
thành thạo tiếng Anh trong công việc.  
Việc đánh giá năng lực việc làm của sinh viên cần thiết được  
thực hiện thông qua việc tự đánh giá của người học, đánh giá của  
giảng viên và của nhà sử dụng lao động. Qua kết quả khảo sát cho  
thấy sinh viên tự đánh giá khá khách quan năng lực của bản thân đối  
với 4 khối năng lực hình thành năng lực đầu ra của người học gồm  
kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực làm việc và học tập.  
2.5.1. Ý kiến của nhà tuyển dụng về kiến thức của sinh viên  
Ngôn ngữ Anh  
NTD đánh giá sinh viên tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh có tỷ  
lệ vận dụng kiến thức chung là 33,8%, trong khi đó thực hành thành  
thạo kiến thức chuyên môn ở mức 34,5% và sáng tạo ở mức 18,7%.  
Điều này cho thấy NTD đánh giá khá cao chất lượng lao động từ  
ngành Ngôn ngữ Anh. Tuy vậy, cũng có khá nhiều NTD đánh giá  
chất lượng về kiến thức của sinh viên tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ  
Anh chỉ mới ở mức Biết và Hiểu (cụ thể từ 12,5%-17,4%).  
Nhà tuyển dụng đánh giá thái độ của sinh viên tốt nghiệp  
ngành Ngôn ngữ Anh có phẩm chất đạo đức cá nhân, đạo đức nghề  
nghiệp và đạo đức xã hội ở mức Thực hành thành thạo và Sáng tạo  
chiếm tỷ lệ cao.  
Những sinh viên tốt nghiệp từ ngành Ngôn ngữ Anh được  
đánh giá khá cao về mức độ thành thạo đối với các yếu tố phẩm chất  
đạo đức cá nhân chiếm 39,1%, sáng tạo ở mức 42,3%, mức thành  
thạo đối với phẩm chất đạo đức nghề nghiệp chiếm 35,4% và sáng  
tạo ở mức 32,8%; phẩm chất đạo đức xã hội được đánh giá mức thực  
hành thành thạo chiếm 34,3% và sáng tạo chiếm 39,3%.  
Sinh viên tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh được đánh giá đảm  
nhận thành thạo các công việc được giao, mức đánh giá 38,8% và có  
sáng tạo trong công việc ở mức 35,1%. Có khả năng vận dụng các  
12  
kiến thức đã học vào lĩnh vực công việc chuyên môn, có khả năng tự  
học tự quản lý chất lượng công việc của bản thân.  
2.5.2. Kết quả học tập – Giảng viên đánh giá  
Việc đánh giá năng lực của sinh viên trước khi tốt nghiệp  
hiện nay ở các trường chỉ dựa vào điểm tích lũy, điểm rèn luyện và  
chứng chỉ ngoại ngữ. Điều này chưa đánh giá chi tiết năng lực của  
từng sinh viên đối với mục tiêu ban đầu đã đưa ra (CĐR của CTĐT).  
2.5.3. So sánh kết quả học tập và tự đánh giá năng lực làm  
việc  
Xem xét tổng hợp kết quả tự đánh giá năng lực đầu ra của sinh  
viên trước khi tốt nghiệp cho thấy tỷ lệ sinh viên tự đánh giá năng  
lực bản thân ở nhóm 1-Biết, 2-Hiểu chiếm tỷ lệ rất lớn. Qua so sánh  
kết quả tự đánh giá và kết quả dự kiến xếp loại tốt nghiệp cho thấy tỷ  
lệ sinh viên tự đánh giá năng lực của bản thân khá tương ứng với dự  
kiến kết quả xếp loại tốt nghiệp. Tỷ lệ sinh viên đạt mức năng lực  
biết, hiểu và vận dụng còn ở mức khá cao tương ứng với mức xếp  
loại học tập khá và trung bình cũng tương đối cao. Điều này cũng  
khá tương ứng với kết quả tốt nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp năm  
2018.  
2.6. THỰC TRẠNG VỀ NHU CẦU NHÂN LỰC TẠI KHU  
KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG  
2.6.1. Điểm mạnh và khả năng phát triển nhân lực ngoài  
ngữ của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung  
Trên cơ sở sử dụng ma trận SWOT, tác giả rút ra những nhận  
định quan trọng về điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses),  
cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) đối với việc phát triển  
nhân lực ngoại ngữ ở vùng này.  
2.6.2. Đánh giá mức độ đáp ứng nguồn nhân lực ngành  
Ngôn ngữ Anh được đào tạo từ Trường Đại học Ngoại ngữ  
Nhà tuyển dụng đã có đánh giá khá tốt về năng lực làm việc  
của sinh viên mới ra trường và bắt đầu làm việc tại đơn vị. Qua kết  
quả khảo sát ở hình 2.5 cho thấy, sinh viên tốt nghiệp các ngành  
được các nhà tuyển dụng đánh giá tương đối tốt. Trong đó, đánh giá  
kiến thức ở mức rất tốt chiếm 11,25%, tốt chiếm nhiều nhất 32,75%,  
khá chiếm 27,15%, trung bình chiếm 13,25% và yếu chiêm 13,15%.  
13  
Đới với kiến thức, nhà tuyển dụng đá đánh giá thông quả bảng hỏi có  
cả kiến thức chung về triết học và nội dung về xã hội nói chung.  
Đối với kỹ năng của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh mới ra  
trường làm việc, nhà tuyển dụng đánh giá rất cao, mức rất tốt chiếm  
29,63%, mức tốt chiếm 36,20%. Tuy nhiên vẫn còn nhiều đơn vị  
đánh giá sinh viên ở mức yếu. Đối với những sinh viên này do làm  
việc ở các vị trí chưa phù hợp với chuyên môn được đào tạo, chủ yếu  
chỉ sử dụng ngoại ngữ trong một số ít nội dung công việc còn lại là  
làm việc hành chính tại các cơ quan.  
Đối với thái độ, nhà tuyển dụng đã đánh giá sinh viên tốt  
nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh làm việc tại đơn vị có phẩm chất đạo  
đức rất tốt chiếm tỷ lệ cao nhất 38,13%, tốt chiếm 36,27%. Đối với  
năng lực tự chủ trong đó có nội dung mức độ đảm nhận vị trí việc  
làm và năng lực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp  
vụ, sinh viên được nhà tuyển dụng đánh giá tương đối cao, mức rất  
tốt chiếm 26,85%, mức tốt chiếm 38,25%. Đây là kết quả đáng tự  
hào đối với sinh viên tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh của trường  
Đại học Ngoại ngữ - ĐHĐN.  
Tuy vậy, qua kết quả vẫn còn nhiều đơn vị đánh giá chưa cao  
các yếu tố về kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực tự chủ của sinh  
viên. Đây là điểm để cơ sở đào tạo nghiên cứu cải tiến trong thời  
gian tới.  
Sử dụng ConQuest để phân tích 23 nhóm tiêu chí về mức độ  
đáp ứng năng lực của sinh viên tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh đối  
với công việc tại các đơn vị lao động cho thấy nhà tuyển dụng đánh  
giá mức đáp ứng trung bình chung là từ 2,5 – 3,58 chỉ ở mức khá.  
2.6.3. Vị trí việc làm của sinh viên mới tốt nghiệp ngành  
Ngôn ngữ Anh tại khu kinh tế trọng điểm miền Trung  
Qua khảo sát cho thấy, hầu hết các cơ quan doanh nghiệp ở  
các tỉnh thành thuộc khu kinh tế trọng điểm miền Trung có nhân lực  
được đào tạo từ các ngành của Trường Đại học Ngoại ngữ. Đặc biệt,  
tỷ lệ lao động ngành Ngôn ngữ Anh đến làm việc ở các vị trí ở các  
đơn vị đều được đánh giá khá tốt. Phần lớn, nguồn lao động này  
được bố trí ở các vị trí như hướng dẫn viên, giảng dạy ở các trung  
14  
tâm Ngoại ngữ, phiên dịch, lễ tân. Tỷ lệ lao động được bố trí vị trí lễ  
tân chiếm 22,5% cao nhất trong các vị trí khảo sát.  
Các doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất thì hầu hết chỉ cần nhân  
lực ngoại ngữ cho công tác biên – phiên dịch và cần nguồn nhân lực  
chuyên ngành (nhân viên kỹ thuật về lĩnh vực sản xuất – doanh của  
doanh nghiệp) biết ngoại ngữ.  
Cơ hội việc làm của sinh viên ngoại ngữ cũng tăng lên trong  
những năm gần đây là nhờ vào chính sách khai thác du lịch của  
thành phố Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và các tỉnh miền Trung.  
2.6.4. Tình hình đào tạo cho sinh viên mới tốt nghiệp được  
tuyển dụng vào làm việc tại đơn vị  
Qua khảo sát ý kiến cho thấy đơn vị sử dụng lao động đã có  
đào tạo bổ sung cho sinh viên mới tốt nghiệp khi được tuyển dụng,  
cho thấy có 30,43% doanh nghiệp được hỏi đã đào tạo chuyên môn  
nghiệp vụ cho sinh viên ngoại ngữ mới tốt nghiệp được tuyển dụng  
vào làm việc tại đơn vị (nhân viên mới); 15,65% doanh nghiệp đào  
tạo kỹ năng tổ chức và quản lý cho nhân viên mới. Nhìn chung đa số  
các đơn vị đều có tổ chức đào tạo cho nhân viên mới với nhiều hoặc  
một số kỹ năng cơ bản để phù hợp với vị trí việc làm và văn hóa của  
đơn vị.  
Mặc dù nhu cầu nhân lực của các đơn vị tại khu kinh tế trọng  
điểm miền Trung là rất lớn và đa dạng, nhưng trong phạm vi nghiên  
cứu này, tác giả chỉ tập trung vào nhu cầu nhân lực ngoại ngữ, đặc  
biệt là về ngôn ngữ Anh. Sinh viên mới tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ  
Anh được đánh giá tương đối cao về mức độ đáp ứng nhu cầu nhân  
lực của đơn vị. Song vẫn còn một số đơn vị đánh giá dưới mức khá.  
Với những ý kiến này, tác giả cũng đã phân tích để xác định được  
nguyên nhân chủ yếu để làm cơ sở đưa ra các biện pháp khắc phục  
trong trong quá trình đào tạo và định hướng việc làm cho người học.  
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT  
LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH NGÔN NGỮ ANH NHẰM ĐÁP  
ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC TẠI MIỀN TRUNG  
3.1. NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP  
Các biện pháp đảm bảo chất lượng đào tạo ngành Ngôn ngữ  
Anh nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực tại miền Trung:  
15  
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa  
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý  
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ  
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi  
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả  
3.2. ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN CHƯƠNG  
TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH NGÔN NGỮ ANH ĐÁP ỨNG NHU  
CẦU NHÂN LỰC  
3.2.1. Nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong công tác  
đào tạo nhân lực  
Từ các kết quả khảo sát cho thấy, mức độ đáp ứng công việc  
của sinh viên mới tốt nghiệp ở khoảng từ 44% đến 75,1% đối với  
từng yếu tố kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực tự chủ. Chính vì  
thế cần có sự gắn kết giữa doanh nghiệp và nhà trường để rút ngắn  
khoảng cách này, nhà trường cần tạo điều kiện để nâng cao vai trò  
của doanh nghiệp trong công tác đào tạo của nhà trường.  
Để tăng cường vai trò của nhà tuyển dụng trong quá trình đào  
tạo nguồn nhân lực, điều cần thiết là phải tạo điều kiện để doanh  
nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực; thông qua việc đặt  
hàng nguồn nhân lực, phối hợp tổ chức những buổi tư vấn việc làm  
cho sinh viên, mở những khóa bồi dưỡng kỹ năng, bổ trợ, cập nhật  
kiến thức để sinh viên trau dồi tri thức và hoàn thiện kỹ năng, đặc  
biệt là kỹ năng xin việc, kỹ năng mềm, kỹ năng làm việc trong doanh  
nghiệp. Thực hiện triệt để các yêu cầu về đảm bảo chất lượng đào tạo  
từ việc lấy ý kiến của nhà tuyển dụng để xây dựng và cải tiến chương  
trình đào tạo.  
Việc đào tạo nguồn nhân lực nhất thiết phải hướng vào nhu  
cầu về nhân lực. Có như thế người học sau khi tốt nghiệp mới có cơ  
hội cao trong quá trình tìm việc làm phù hợp. Mục tiêu đào tạo phải  
được xác định đúng và chương trình đào tạo phải được thiết kế phù  
hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực. Thời gian qua chỉ tiêu tuyển sinh  
của từng ngành chưa thực sự dựa trên các kết quả thăm dò nhu cầu  
của xã hội, việc xây dựng chương trình chưa đạt đến mức phù hợp  
với thực tiễn xã hội. Sự phù hợp giữa đào tạo với nhu cầu chưa thực  
16  
sự cao nên việc bố trí việc làm có khó khăn. Hơn nữa một số ngành  
đào tạo chưa đủ số lượng nhân lực để cho doanh nghiệp chọn lựa.  
Để thực hiện thành công việc liên kết đào tạo với nhà tuyển  
dụng trước hết là nhận thức và quyết tâm của các cấp lãnh đạo giữa  
nhà trường và nhà tuyển dụng. Tiếp đến là cần có bộ phận chuyên  
trách để làm cầu nối liên kết, điều phối chuyên nghiệp các hoạt động  
đào tạo. Cả hai “nhà” đều tích cực trong việc xây dựng chiến lược  
trên cơ sở tư vấn hai bên cùng có lợi và cùng đi đến đích chung là  
đào tạo ra đội ngũ nhân lực phù hợp với nhu cầu xã hội.  
3.2.2. Nâng cao chất lượng đạo tạo đáp ứng năng lực đầu  
ra  
Ngoài việc tăng cường chất lượng đào tạo, Nhà trường cần  
phải áp dụng chương trình gắn liền với nhu cầu xã hội để đảm bảo  
100% sinh viên ra trường có việc làm phù hợp. Nhà đào tạo, người  
quản lý nắm bắt nhu cầu về nhân lực, đặt mình vào vai trò của doanh  
nghiệp để nắm được nhu cầu xã hội đang cần đối với nguồn nhân lực  
ngoại ngữ. Điều này sẽ hỗ trợ công tác tư vấn tuyển sinh thu hút đủ  
số lượng nhưng phải đạt chất lượng sinh viên cho từng ngành. Việc  
xây dựng chương trình đào tạo gắn với nhu cầu cần căn cứ vào các  
yếu tố chương trình và học liệu; đội ngũ giảng viên; cơ sở vật chất;  
dịch vụ đào tạo; tài chính và quản lý.  
Ngoài việc đào tạo kiến thức và rèn luyện kỹ năng, cần phải  
cải tiến chương trình đào tạo để cân đối giữa các học phần kiến thức  
và kỹ năng để nâng cao chất lượng các kỹ năng của sinh viên đáp  
ứng với nhu cầu của các đơn vị lao sử dụng lao động.  
3.2.3. Nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công việc của  
sinh viên tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh  
Qua khảo sát cho thấy vẫn còn khá nhiều nhà tuyển dụng đánh  
giá thấp mức độ đáp ứng năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng  
lực tự chủ) của sinh viên tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh. Ngoài ra,  
theo báo cáo của VietnamWork, tình hình chung về nhu cầu nhân lực  
trong năm 2018 tăng 11% so với năm 2017. Đối với các nhu cầu các  
ngành Ngoại ngữ hiện nay ở miền Trung nhu cầu không thực sự cao  
và yêu cầu của từng vị trí việc làm cũng đòi hỏi phải có kinh nghiệm.  
Các nhà tuyển dụng ở các khu công nghiệp thường có nhu cầu tuyển  
17  
nhân sự các ngành nghề pháp lý, tài chính, kế toán, quản trị kinh  
doanh… thông thạo ngoại ngữ. Chính vì thế việc để tăng cơ hội việc  
làm cho sinh viên ngoại ngữ thì cần có giải pháp liên kết đào tạo giữa  
các ngành trong các đại học thành viên để sinh viên ngoại ngữ ra  
trường có thêm bằng đại học thứ 2 các ngành khác.  
Ngoài ra, việc tăng cường mối quan hệ giữa đào tạo và đơn vị  
sử dụng lao động nhằm nắm bắt được nhu cầu chuyên môn của các  
vị trí việc làm ở các đơn vị lao động để định hướng cải tiến chương  
trình đào tạo phù hợp với thực tế xã hội.  
3.2.4. Phát triển chương trình đào tạo theo hướng đáp ứng  
nhu cầu nhân lực  
Căn cứ trên kết quả khảo sát và nhu cầu thực tế của xã hội,  
chương trình đào tạo thiết kế trên cơ sở gắn với thực tế. Các nhà  
quản trị có kinh nghiệm luôn coi trọng “kỹ năng mềm” − các kỹ năng  
về tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian, làm việc  
nhóm, giao tiếp... các doanh nghiệp cho thấy 80% thành công của  
một cá nhân là nhờ vào “kỹ năng mềm” chứ không chỉ nhờ vào “kỹ  
năng cứng” (kiến thức chuyên môn).  
Trong kết quả của nghiên cứu này, kết quả cho thấy ngoài kỹ  
năng chuyên môn, các kỹ năng như giao tiếp, quản lý tổ chức, vận  
dụng kiến thức vào thực tế… đều cần phải được đào tạo bổ sung sau  
khi sinh viên vào làm việc tại đơn vị sử dụng lao động.  
3.2.5. Điều chỉnh chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo  
Qua thực tế các cơ sở giáo dục đều có chuẩn đầu ra ban hành  
kèm chương trình đào tạo, tuy nhiên chưa có minh chứng cho việc  
đánh giá mức độ đáp ứng của sinh viên so với chuẩn đầu ra. Kết quả  
nghiên cứu này cho thấy sinh viên tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Anh  
tự đánh giá năng lực bản thân so với các yêu cầu của các tiêu chí  
trong chuẩn đầu ra ở bậc 1-3 theo thang năng lực Bloom với tỷ lệ  
tương đối cao. Nhà tuyển dụng đánh giá mức độ đáp ứng từ 2,5-3,58  
tương đương mức khá. Chính vì thế, cần phải phân định rạch ròi các  
cấp độ trong các tiêu chí của chuẩn đầu ra và rà soát đảm bảo sự liên  
kết của từng chuẩn đầu ra của chương trình với chuẩn đầu ra học  
phần.  
18  
Cấp thứ nhất của chuẩn đầu ra (tương đương với bậc 3 trong  
thang Bloom) là yêu cầu sinh viên ứng dụng được kiến thức lịch sử,  
chính trị, xã hội, văn hóa, ngôn ngữ vào công việc.  
Cấp thứ hai của chuẩn đầu ra (tương đương với bậc 4, 5 trong  
thang Bloom) là yêu cầu sinh viên tổ chức và đánh giá được các hoạt  
động liên quan đến việc vận dụng các kiến thức vào thực tiễn công  
việc.  
Cấp thứ ba của chuẩn đầu ra (tương đương với bậc 6 trong  
thang Bloom) là yêu cầu sinh viên xây dựng, phát triển và ứng dụng  
các kỹ năng chuyên môn trong hoạt động nghề nghiệp và học tập  
suốt đời.  
Chuẩn đầu ra của mỗi học phần phải được thể hiện một cách  
tường minh qua mục đích, yêu cầu, các câu hỏi ôn tập, thảo luận,  
kiểm tra của mỗi chương, bài, qua hệ thống ngân hàng đề thi.  
Trên cơ sở đó có thể điều chỉnh chuẩn đầu ra của chương trình  
đào tạo ngành Ngôn ngữ Anh từ 62 tiêu chí thành 9-10 tiêu chí cụ thể  
có thể đánh giá được đáp ứng được mục tiêu đào tạo của chương  
trình, sứ mạng mục tiêu của nhà trường và nhu cầu xã hội.  
Với các yêu cầu rõ ràng của chuẩn đầu ra sẽ giúp cho sinh viên  
tiếp cận tốt hơn với nội dung học tập, tập trung và những tri thức và  
kỹ năng thiết thực để hoàn thành tốt các yêu cầu của chương trình  
đào tạo; giúp nhà tuyển dụng có thông tin về chất lượng nguồn lao  
động; giúp giảng viên xây dựng bài giảng phù hợp với yêu cầu đầu ra  
của học phần đáp ứng đầu ra của chương trình.  
3.2.6. Xây dựng công cụ đánh giá năng lực sinh viên thông  
qua chuẩn đầu ra  
Đối với năng lực về tin học và ngoại ngữ: sử dụng bộ công cụ  
đánh giá năng lực tin học và ngoại ngữ của Đại học Đà Nẵng.  
Đối với năng lực chuyên môn: Hội đồng đánh giá chuyên môn  
căn cứ chuẩn đầu ra đã ban hành để xây dựng bộ chủ đề đánh giá  
chuyên môn cho phù hợp (gồm câu hỏi, đáp án và thang điểm). Các  
chủ đề phải có tính tổng hợp để kiểm tra được kiến thức chung, kiến  
thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm, thái độ và  
năng lực tự chủ, năng lực học tập suốt đợi của sinh viên.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 14180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng tại khu kinh tế trọng điểm miền Trung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_de_tai_nghien_cuu_muc_do_dap_ung_nhu_cau_nha.pdf