Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục thực hiện kế hoạch năm 2019
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 131 /BC-UBND
Quảng Bình, ngày 24 tháng 6 năm 2019
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU TIẾP TỤC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2019
PHẦN THỨ NHẤT
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019
I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT:
Xác định năm 2019 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm tăng tốc để hoàn thành
các chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020. Ngay từ đầu
năm, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai và ban hành Kế hoạch hành động
thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về nhiệm
vụ phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2019 để chỉ đạo các cấp, các ngành,
các địa phương tổ chức triển khai thực hiện; thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kịp
thời tháo gỡ khó khăn, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, sản xuất kinh doanh.
Với việc thực hiện sớm và đồng bộ các giải pháp đề ra, tình hình kinh tế - xã hội 6
tháng đầu năm 2019 của tỉnh tiếp tục ổn định và phát triển. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá; sản xuất nông nghiệp tiếp tục được mùa, sản
lượng thuỷ sản tiếp tục tăng; du lịch phát triển mạnh; thu ngân sách đạt khá; tổng
vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ; các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội được chú trọng đầu tư; lĩnh vực văn hóa, xã hội có những chuyển biến tiến
bộ; quốc phòng - an ninh được tăng cường, giữ vững; công tác an sinh xã hội được
chú trọng, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.
Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu:
- Tốc độ tăng trưởng GRDP tăng 6,32% so với cùng kỳ (KH cả năm tăng
7,2%, thực hiện cùng kỳ 6,29%).
- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 4,12% so với cùng kỳ
(KH cả năm tăng 4,0%, thực hiện cùng kỳ 4,3%).
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 6,7% so với cùng kỳ (KH cả năm tăng
8,0%, thực hiện cùng kỳ 6,9%).
- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 6,71% so với cùng kỳ (KH cả
năm tăng 8,0%, thực hiện cùng kỳ 6,8%).
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 8.670 tỷ đồng, tăng 10,9% so với
cùng kỳ, đạt 44,46% KH (KH 19.500 tỷ đồng).
- Thu ngân sách trên địa bàn 2.115 tỷ đồng, tăng 20,7% so cùng kỳ, đạt
47% dự toán địa phương (dự toán cả năm 4.500 tỷ đồng).
- Giải quyết việc làm cho 18.300 lao động, đạt 50,08% KH (KH cả năm
3,6 vạn lao động).
- Số giường bệnh bình quân trên 1 vạn dân đạt 35,15 giường (KH cả năm
35 giường).
- Có 91% dân số tham gia bảo hiểm y tế (KH cả năm >90%).
- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập trung học cơ sở (mức độ
III) đạt 79,9% (KH 86,79%).
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 63,8% (KH năm 64,3%); trong đó lao
động qua đào tạo nghề đạt 45,5% (KH năm 47,5%).
Tuy nhiên, Tốc độ tăng trưởng kinh tế, giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ
đạt so với kế hoạch cả năm đề ra còn thấp; một số vướng mắc chưa được giải
quyết dứt điểm nên việc triển khai các dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm
chậm so với tiến độ; chưa phát huy hết các tiềm năng, thế mạnh; các lĩnh vực văn
hóa, xã hội có chuyển biến nhưng còn chậm, giáo dục đào tạo còn nhiều bất cập;
tình hình vi phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội, về bảo vệ rừng còn xảy ra ở
một số địa phương.
II. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRÊN CÁC LĨNH VỰC:
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP):
Theo công bố của Tổng cục Thống kê, ước tính tổng sản phẩm (theo giá so
sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2019 đạt 12.238 tỷ đồng, tăng
6,32% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
đạt 2.320 tỷ đồng, tăng 3,93%; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 2.811 tỷ
đồng, tăng 7,50%; khu vực dịch vụ đạt 6.517 tỷ đồng, tăng 6,83%; thuế sản phẩm
trừ trợ cấp sản phẩm đạt 589 tỷ đồng, tăng 4,74% so với cùng kỳ năm 2018.
Đối với khu vực công nghiệp - xây dựng, sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu
năm chưa có năng lực mới nên tăng trưởng chưa cao (6,69%); ngành xây dựng
triển khai nhiều dự án nên đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ
(8,49%). Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng khá nhờ hoạt động du lịch có sự
tăng trưởng tốt kéo theo tăng trưởng của một số ngành khác. Khu vực nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản, 6 tháng đầu năm đạt thấp hơn tốc độ tăng cùng kỳ năm
trước, do diện tích cây lúa giảm (chuyển đổi mục đích sử dụng và sang cây trồng
khác) nên sản lượng lương thực giảm; Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi những
tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn do dịch lỡ mồm, long móng xảy ra ở một số
địa phương trong tỉnh; dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, lây lan nhanh ở
nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước làm ảnh hưởng đến tăng trưởng của khu vực
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
2. Công tác quy hoạch và quản lý đô thị:
Tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ dự án Quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội tỉnh Quảng Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 20501.
Công tác quy hoạch, quản lý đô thị có nhiều tiến bộ, chất lượng quy hoạch
được nâng lên. Tập trung chỉ đạo lập điều chỉnh quy hoạch chung các đô thị, quy
hoạch phân khu các xã và thị trấn; tập trung triển khai lập Chương trình phát
triển đô thị và đề xuất các khu vực phát triển đô thị, kế hoạch phát triển đô thị;
1
Hiện nay, đơn vị tư vấn (Công ty TNHH McKinsey & Company Việt Nam) đang bổ sung, hoàn thiện dự thảo
lần cuối Báo cáo Quy hoạch theo các quy định của Nghị định và Thông tư hướng dẫn Luật Quy hoạch báo cáo
Ban Chỉ đạo thông qua.
2
đẩy mạnh công tác kêu gọi đầu tư nhà ở thương mại, khu đô thị mới nhằm hoàn
chỉnh hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, tăng thu ngân sách từ quỹ đất2. Tích cực
triển khai lập các đồ án quy hoạch chi tiết, quy hoạch phân khu, 6 tháng đầu
năm, đã phê duyệt 35 nhiệm vụ quy hoạch, 57 đồ án quy hoạch3.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc lập Quy hoạch tỉnh đến năm 2030,
tầm nhìn đến 2050 chưa hoàn thành do các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật
Quy hoạch chậm ban hành; nhiều quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt chất
lượng chưa đạt yêu cầu, không phù hợp yêu cầu thực tế nên phải điều chỉnh
nhiều lần để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; công tác công khai, quản
lý và thực hiện quy hoạch của một số địa phương chưa đồng bộ, kịp thời.
3. Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp:
Dự ước giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (theo giá so sánh năm
2010) 6 tháng đầu năm đạt 4.621 tỷ đồng, tăng 4,12% so cùng kỳ (kế hoạch cả
năm 4,0%)4. Kết quả cụ thể như sau:
3.1. Trồng trọt:
Vụ sản xuất Đông Xuân năm 2019, thời tiết tương đối thuận lợi cho công
tác gieo trồng cây hàng năm, cùng với sự chỉ đạo quyết liệt các giải pháp về
giống, thời vụ, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh,... nên sản xuất vụ Đông Xuân tiếp
tục được mùa, năng suất và sản lượng nhiều loại cây trồng đạt khá cao. Tổng
diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân năm 2019 thực hiện 54.499ha, bằng 99,6% so
cùng kỳ5. Công tác chỉ đạo chuyển đổi đất lúa hiệu quả thấp sang các cây trồng
khác có thu nhập cao hơn được các địa phương quan tâm, vụ Đông xuân chuyển
đổi trên đất lúa 1.548 ha, đạt 47% KH cả năm, bằng 76,8% CK6. Tiếp tục đẩy
mạnh liên kết giữa doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã và nông dân theo cánh
đồng lớn với diện tích 7.125 ha, tăng 7,2% so cùng kỳ7.
2 6 tháng đầu năm, BCS Đảng UBND tỉnh đã thông qua 21 DA khu đô thị trên địa bàn tỉnh; tổ chức lựa chọn nhà
đầu tư cho 04 dự án khu đô thị (Nam Cầu dài và Bảo Ninh 1, 2, 3); 03 dự án khu nhà ở thương mại (tại xã Thanh
Trạch, Nông trường Lệ Ninh, Hà Thiệp Bắc Ninh) và 01 dự án Tổ hợp khách sạn và nhà ở kết hợp kinh doanh –
Shopphouse (Dự án Movenpickcentral). Tổng thu từ các dự án khu đô thị mới, khu nhà ở thương mại 6 tháng
đầu năm 2019 là 95,7 tỷ đồng.
3
Triển khai lập các quy hoạch xây dựng quan trọng phục vụ mục tiêu phát triển kỉnh tế xã hội như: Quy hoạch
chi tiết và thiết kế đô thị khu vực dọc tuyến đường phía Đông sông Nhật Lệ, xã Bảo Ninh đoạn từ cầu Nhật Lệ 1
đến Khu neo đậu tránh trú bảo và hậu cần nghề cá; Quy hoạch phân khu Khu vực phát triển đô thị phía Tây Bắc
đường Lê Lợi, thành phố Đồng Hới, tỷ lệ 1/2000; Điều chỉnh quy hoạch vùng ven biển 2 huyện Quảng Ninh và
Lệ Thủy...
4
Trong đó: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 3.207,4 tỷ đồng, tăng 2,44%; giá trị sản xuất ngành lâm
nghiệp đạt 312,2 tỷ đồng, tăng 4,42%; giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 1.101,8 tỷ đồng, tăng 9,23% so với
cùng kỳ.
5
Trong đó: Diện tích cây lúa thực hiện 29.599 ha, bằng 99,1% so; Diện tích cây ngô và cây lương thực có hạt
khác 3.9658 ha, bằng 99%; cây lấy củ có chất bột 9.192,1 ha, tăng 0,04%; cây mía 194,3 ha, tăng 17,9%; cây
thuốc lá, thuốc lào 2,9 ha, giảm 23,7%; cây lấy sợi 1,2 ha; cây có hạt chứa dầu 4.343,7 ha, tăng 3,5%; cây rau,
đậu các loại và hoa 4.685,8 ha, giảm 8,4%; cây hàng năm khác 2.514,9 ha, tăng 15,4% so với vụ Đông Xuân năm
trước.
6
Trong đó: Chuyển đổi sang cây trồng cạn: 162,1 ha, bằng 83% CK (Sen 60 ha, ngô 26,5 ha, lạc 25,6 ha, rau
19,7 ha, khoai lang 13,2 ha, dưa hấu 11 ha…); hiệu quả kinh tế của cây trồng chuyển đổi tương đối cao, trung
bình lãi 15-32 triệu đồng/ha, cao gấp 3-5 lần so với trồng lúa. Chuyển đổi sang mô hình lúa - cá: 1.386,2 ha, bằng
76,1% CK.
7 Cụ thể: Cây lúa 3.284 ha (Lệ Thuỷ 3.109 ha, Quảng Ninh 70 ha, Bố Trạch 35 ha) thực hiện ở 14 cánh đồng với
sự tham gia của 7 doanh nghiệp cam kết tiêu thụ sản phẩm.; Cây lạc 292 ha ở huyện Bố Trạch với sự liên kết sản
xuất và tiêu thụ của Công ty Cổ phần chế biến nông sản Tamico; Cây ngô diện tích thực hiện 35 ha ở huyện Bố
3
Sản lượng lương thực vụ Đông Xuân 2019 ước đạt 207 ngàn tấn, bằng
99,9% so vụ Đông Xuân năm trước8. Năng suất một số cây trồng chủ yếu vụ
Đông Xuân 2019 như sau: Cây lúa 62,27 tạ/ha, tăng 0,7%; Cây ngô 58,71 tạ/ha,
tăng 1,3% so cùng kỳ9.
Dự báo thời tiết vụ Hè Thu năm 2019 diễn biến bất thường, có thể xảy ra
nắng nóng và lũ sớm; UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành Nông nghiệp và PTNT cùng
với các địa phương tập trung chỉ đạo thu hoạch lúa Đông Xuân đến đâu triển
khai gieo cấy Hè Thu đến đó, đảm bảo thu hoạch trước ngày 05/9 để tránh lũ,
đồng thời rà soát diện tích có khả năng hạn, thiếu nước để chuyển đổi sang trồng
các cây khác, cương quyết không để diện tích trống. Đến nay, diện tích gieo lúa
Hè Thu đạt 12.500 ha, đạt 78,2% kế hoạch, bằng 92,5% so cùng kỳ.
Sản xuất cây lâu năm đang được các doanh nghiệp và các hộ gia đình tiếp
tục chăm sóc, đầu tư phục hồi vườn cây. Nhờ đó, cây lâu năm ở các địa phương
phục hồi nhanh, nhất là cây tiêu và cây ăn quả10.
3.2. Chăn nuôi:
Tiếp tục tập trung chỉ đạo phát triển chăn nuôi cả về tổng đàn và chất lượng
đàn, tuy nhiên sản xuất chăn nuôi những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn do
dịch bệnh trên đàn lợn diễn biến khá phức tạp, giá bán sản phẩm không ổn định
và thấp nên ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô phát triển tổng đàn11. Trước
diễn biến phức tạp của dịch tả lợn châu Phi, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành,
địa phương thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn không để bệnh dịch tả lợn
châu Phi lây nhiễm vào tỉnh.
3.3. Lâm nghiệp:
Công tác chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng, việc khai thác gỗ rừng trồng
thực hiện theo kế hoạch12. Công tác trồng rừng, phục hồi vốn rừng, làm giàu
rừng được chú trọng. Tập trung triển khai xây dựng Đề án chuyển đổi diện tích
cao su kém hiệu quả và Đề án trồng rừng gỗ lớn gắn với rừng nguyên liệu. Ước
tính sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng 6 tháng đầu năm thực hiện 191.300 m3,
tăng 4,5% so cùng kỳ.
Tập trung chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chủ rừng bảo vệ rừng, ngăn chặn tình
trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác lâm sản trái phép. Tăng
Trạch với sự tham gia của Công ty TNHH thương mại Lê Dũng Linh; Cây sắn: 3514 ha liên kết với 2 Nhà máy
sắn trên địa bàn.
8 Trong đó: Sản lượng thóc 184 ngàn tấn, bằng 99,8%, đạt 107,8% kế hoạch; sản lượng lương thực khác 23 ngàn
tấn, tăng 0,3%.
9
Cây khoai lang 79,36 tạ/ha, tăng 2,1%; Khoai sọ đạt 99,44 tạ/ha, tăng 4,7%; dong giềng đạt 51,05 tạ/ha, giảm
1,1%; cây lạc đạt 23,99 tạ/ha, giảm 0,3%; cây vừng đạt 6,31 tạ/ha, giảm 0,4%; cây rau các loại đạt 117,71 tạ/ha,
tăng 1,0%; đậu các loại đạt 8,54 tạ/ha, giảm 4,5%; ớt cay 16,26 tạ/ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm
trước.
10
Diện tích cây lâu năm hiện có 19.588,8 ha, tăng 1,9% so với cùng kỳ; trong đó cây cao su 13.995,5 ha, tăng
0,8%; cây tiêu 1.227,3 ha, tăng 2,5%. Sáu tháng đầu năm, sản lượng cao su khai thác đạt 3.580,7 tấn, tăng 1,8%;
sản lượng tiêu đạt 865 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ.
11
Số lượng đàn gia súc, gia cầm tại thời điểm 01/4/2019: Đàn trâu 38.100 con, tăng 0,1%; đàn bò 107.900 con,
tăng 0,7%; đàn lợn 330.100 con, giảm 4,1%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) 3.670 ngàn con, tăng 3,4% so với
cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm đạt 38.170 tấn, tăng 4,6% so với
cùng kỳ
12
Ước tính 6 tháng đầu năm diện tích rừng trồng mới thực hiện 1.195 ha, tăng 4,8%; diện tích rừng được chăm
sóc 18.765 ha, tăng 4,5%; số cây trồng phân tán 2.696 ngàn cây, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước.
4
cường kiểm tra, ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp khai thác, buôn bán,
vận chuyển gỗ, động vật hoang dã trái phép13. Đã chỉ đạo và thực hiện kiểm tra,
xử lý đối với vụ khai thác lâm sản trái phép tại Lâm trường Trường Sơn, Vườn
Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Chủ động thực hiện tốt công tác phòng cháy,
chữa cháy rừng ngay từ đầu mùa khô với phương châm 4 tại chỗ, đặc biệt là ở
các địa bàn trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng.
3.4. Thủy sản:
Thời tiết những tháng đầu năm thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thuỷ
sản; đồng thời nhờ triển khai tốt các chính sách hỗ trợ của nhà nước14 nhiều ngư
dân đã mạnh dạn đóng mới tàu có công suất lớn để chuyển đổi sang khai thác xa
bờ, làm tăng năng lực đánh bắt15 và hiệu quả khai thác nên sản lượng thủy sản
tăng khá so cùng kỳ. Dự ước sản lượng thủy sản khai thác 6 tháng đạt 36.760
tấn, tăng 7,7% so cùng kỳ, trong đó:
- Khai thác: Ước tính 6 tháng đầu năm sản lượng khai thác đạt 32.992 tấn,
tăng 8,0% so cùng kỳ16.
- Nuôi trồng: Ước tính 6 tháng đầu năm 2019 sản lượng nuôi trồng thu
hoạch 3.768 tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ17.
Triển khai công tác chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không
theo quy định (khai thác IUU), tháo gỡ thẻ vàng của Uỷ ban Châu Âu, kiện
toàn Văn phòng đại diện thanh tra, kiểm soát nghề cá cho phù hợp với tổ chức
của các cơ quan, đơn vị và các quy định của pháp luật và đặc điểm, tình hình
nghề cá của tỉnh18.
Về Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục được cấp ủy,
chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Các xã đạt chuẩn nông thôn mới đã chủ
động rà soát thực trạng các tiêu chí theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2016-2020 để xây
dựng kế hoạch nâng cao chất lượng các tiêu chí. Công tác tuyên truyền, vận động
tiếp tục được các sở, ban ngành, địa phương và các tổ chức chính trị xã hội đẩy
mạnh thực hiện. Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân được chú
trọng, nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao được đưa vào kế hoạch
thực hiện trong thời gian tới19. Tiếp tục chỉ đạo 03 xã đăng ký đạt NTM kiểu
mẫu đẩy nhanh tiến độ thực hiện các tiêu chí còn lại; tham mưu ban hành tiêu chí
xã NTM kiểu mẫu xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch; tham mưu ban
13 Đã phát hiện, lập biên bản và xử lý 308 vụ (06 vụ ngoại tỉnh), giảm 25 vụ so cùng kỳ, tịch thu 214 m3 gỗ các
loại thu nộp NS 2,6 tỷ đồng.
14 Thực hiện Quyết định 48: 6 tháng đã thẩm định 2 đợt, kinh phí 28,5 tỷ đồng, UBND tỉnh đã hỗ trợ 3 đợt với số
tiến 154,5 tỷ đồng; tính đến nay, đã thẩm định số tiền 1.509 tỷ đồng, đã hỗ trợ được 1.501,5 tỷ đồng.
15
Hiện tại, tổng số tàu, thuyền khai thác thủy sản bằng động cơ có 7.456 chiếc, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm
trước. Trong đó, khai thác biển có 5.586 chiếc, tăng 1,7%; tổng công suất tàu, thuyền khai thác biển 744.585 CV,
tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước.
16
Sản lượng khai thác biển chia theo nhóm sản phẩm: Cá các loại 27.145,7 tấn, tăng 8,4%; tôm các loại 453,7
tấn, tăng 4,1%; thủy sản khác 3.701.8 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước.
17
Trong đó: Cá các loại 2.309,1 tấn, tăng 5,3%; tôm các loại 1.290,3 tấn, tăng 4,5%; thủy sản khác 169,1 tấn,
tăng 3,1%.
18 Văn phòng đã tổ chức thực hiện kiểm tra tàu cá cập cảng, nhập bến theo quy định tại các cửa sông Roòn, Nhật Lệ,
Gianh và cảng cá Nhật Lệ, Sông Gianh với tổng 551 tàu xuất bến, 212 tàu cập cảng tương ứng với sản lượng
383,262 tấn.
19 Đến nay, toàn tỉnh có 2.100 tiêu chí đạt chuẩn, bình quân 15,4 tiêu chí/xã. Đối với các xã phấn đấu hoàn thành
nông thôn mới năm 2019: Đến nay, bình quân đạt 16 tiêu chí/xã.
5
hành tiêu chí công nhận thôn, bản đạt chuẩn NTM tại các xã khó khăn giai đoạn
2018-2020.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện tái cơ cấu ngành nông
nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, cánh đồng lớn,
công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ còn hạn chế; việc kêu gọi
các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế, đặc biệt là nông
nghiệp công nghệ cao; chất lượng đàn gia súc, gia cầm chưa cao; chất lượng và
giá trị gia tăng trong nông nghiệp còn thấp; sản phẩm lâm nghiệp đơn điệu, giá trị
thấp; còn xảy ra các vụ phá rừng như: vụ phá rừng tại Vườn Quốc gia PNKB, vụ
phá rừng tại Chi nhánh Lâm trường Trường Sơn thuộc Công ty TNHH MTV LCN
Long Đại; tình hình cháy rừng diễn ra phức tạp, nhất là rừng ven biển, đến ngày
30/5 đã xảy ra 03 vụ cháy rừng, thiệt hại 151ha. Các tiêu chí NTM thiếu vững
chắc, chất lượng chưa cao.
4. Sản xuất công nghiệp:
Sáu tháng đầu năm 2019, các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn vẫn
duy trì hoạt động sản xuất và có mức tăng trưởng khá. Ngành Công nghiệp chủ lực
chiếm tỷ trọng lớn vẫn duy trì sản xuất và có mức tăng trưởng. Tiểu thủ công
nghiệp từng bước phát triển, một số cơ sở may mặc (Bố Trạch, Lệ Thủy, Đồng
Hới, Quảng Trạch, Ba Đồn), kính cường lực, chế biến thủy hải sản, mộc mỹ
nghệ, sửa chữa và gia công cơ khí,... được đầu tư đi vào sản xuất đã giải quyết
nhiều việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, góp phần tăng giá trị sản xuất
công nghiệp.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng ước tính tăng 6,1% so với
cùng kỳ. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,5%; ngành công
nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,2%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,2%;
nhàng cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,0%;
Ngành chế biến thực phẩm tăng 10,6%; Ngành sản xuất trang phục tăng 8,5%;
Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 5,9%. Ngành sản xuất sản
phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 6,7%.
Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) 6 tháng đầu năm 2019
ước tính đạt 5.823 tỷ đồng, tăng 6,7% so cùng kỳ20. Chia theo ngành kinh tế: Giá
trị sản xuất công nghiệp ngành khai khoáng đạt 229 tỷ đồng; ngành công nghiệp
chế biến, chế tạo đạt 5.445 tỷ đồng; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt…
đạt 97 tỷ đồng; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 51
tỷ đồng.
Tuy nhiên, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của một số doanh nghiệp gặp khó
khăn (bia, chế biến cao su, gạch không nung...); năng lực sản xuất một số doanh
nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa phát huy hiệu quả; một số cơ sở sản xuất công
nghiệp lớn vẫn đang dừng sản xuất. Một số dự án công nghiệp hoàn thành đưa
vào hoạt động nhưng hiện nay chưa phát huy hiệu quả, do thiếu lao động (các dự
án may xuất khẩu; các nhà máy sản xuất gỗ ván ép,…). Tiểu thủ công nghiệp
20
Trong đó: kinh tế nhà nước đạt 324,2 tỷ đồng, tăng 8,9%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 3.807,2 tỷ đồng, tăng
6,9%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.691,5 tỷ đồng, tăng 5,9%.
6
mặc dù có tăng trưởng nhưng quy mô còn nhỏ, năng suất, chất lượng sản phẩm
thấp, sức cạnh tranh yếu, sản xuất hàng lưu niệm chưa phát triển.
5. Các ngành dịch vụ:
5.1. Hoạt động thương mại:
Tình hình cung cầu hàng hóa trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Mạng lưới
dịch vụ thương mại tiếp tục phát triển, các mặt hàng thiết yếu được cung ứng đầy
đủ, kịp thời phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng
hóa 6 tháng ước đạt 11.752 tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ21.
Công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, hàng giả, gian
lận thương mại được tăng cường. Thực hiện tốt cuộc vận động “Người Việt Nam
ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Thực hiện tốt việc công khai, niêm yết giá tại các
nhà hàng, khách sạn, cơ sở lưu trú.
5.2. Hoạt động du lịch:
Thực hiện tốt Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình phát triển du lịch
đến năm 2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến du
lịch ngày càng được đầu tư về nội dung, đi vào chiều sâu, chuyên biệt hóa cho
từng phân khúc thị trường và mang lại hiệu quả cao22. Các đường bay trong nước
phát huy hiệu quả, tăng thêm các chuyến bay đi và đến Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh; phát triển các phương tiện vận tải đường sắt, đường bộ; triển khai các
hoạt động xúc tiến, phát động thị trường khách du lịch Hàn Quốc và nghiên cứu
phát triển đường bay thẳng từ Đồng Hới – Hàn Quốc. Phát triển nhiều sản phẩm,
loại hình du lịch và không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch, góp
phần quan trọng vào việc thu hút du khách23; phát triển nguồn nhân lực cho ngành
du lịch; khuyến khích đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ du lịch, các dự án phát
triển du lịch24. Công tác quản lý nhà nước về du lịch được triển khai hiệu quả và
kịp thời, hướng dẫn, chấn chỉnh các hoạt động kinh doanh du lịch đảm bảo việc
đón và phục vụ du khách tốt nhất, góp phần tạo môi trường kinh doanh, phát
triển du lịch ổn định, bền vững, thu hút được sự tham gia của nhiều nhà đầu tư vào
lĩnh vực du lịch.
21
Sáu tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hoá của hầu hết các nhóm hàng đều tăng cao so với cùng kỳ, tăng
cao nhất là nhóm bán lẻ ô tô loại 9 chỗ ngồi trở xuống tăng 55,7%; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, mô tô, xe
máy và xe có động cơ khác) và phụ tùng tăng 15,3%; nhóm bán lẻ phụ tùng, bộ phận phụ trợ của ô tô tăng 15,1%;
nhóm bán lẻ hàng may mặc, giày dép tăng 10,9%; nhóm bán lẻ xăng, dầu các loại tăng 11,9%; các nhóm còn lại
cũng tăng khá cao so với cùng kỳ.
22
Tổ chức thành công chuyến đi xúc tiến du lịch tại Hoa Kỳ từ ngày 21/01 - 28/01/2019, gồm: Chương trình
quảng bá, xúc tiến du lịch Quảng Bình qua điện ảnh tại Hollywood; tổ chức các hoạt động quảng bá du lịch
Quảng Bình tại hội chợ du lịch lớn nhất khu vực Bắc Mỹ là New York Times Travel show. Triển khai nhiều hoạt
động quảng bá du lịch Quảng Bình nhân sự kiện hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên tại Hà Nội. Tham dự và
Tổ chức gian trưng bày du lịch Quảng Bình tại Hội nghị phát triển du lịch miền Trung và Tây Nguyên tại Thừa
Thiên Huế; Thực hiện các hoạt động quảng bá du lịch Quảng Bình tại Hội chợ du lịch Travex và Diễn đàn du lịch
ASEAN (ATF 2019);...
23
Khai trương thử nghiệm tuyến du lịch đường sông tham quan quần thể danh lam thắng cảnh và làng nghề
truyền thống tại Quảng Bình; cho phép khai thác thử nghiệm sản phẩm du lịch Khám phá tộc người Vân Kiều -
khe Nước Lạnh; Tiếp tục khai thác thử nghiệm sản phẩm du lịch khám phá hang Vòm - Giếng Voọc; Khai
trương Công viên Ozo - công viên trò chơi trên cây dài nhất Việt Nam…
24
Về lưu trú du lịch: đến nay, toàn ngành có 350 cơ sở lưu trú du lịch trong đó có 2 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5
sao, 5 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao, 9 khách sạn 3 sao, 19 khách sạn 2 sao, 14 khách sạn 1 sao cùng hệ thống
nhà nghỉ du lịch, homestay, farmstay với khoảng 5.200 buồng, khoảng 10.200 giường. Về lữ hành: toàn tỉnh hiện
có 17 đơn vị lữ hành đăng ký hoạt động, trong đó có 14 đơn vị lữ hành quốc tế và 3 đơn vị lữ hành nội địa.
7
Sáu tháng đầu năm, tổng số lượt khách du lịch đến Quảng Bình ước đạt
2,45 triệu lượt, tăng 20% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế ước đạt 133.200
lượt khách, tăng 31,1% so cùng kỳ. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt hơn 2.800
tỷ đồng, tăng 22,8% so với cùng kỳ.
5.3. Hoạt động vận tải:
Sáu tháng đầu năm, tổng doanh thu vận tải 6 tháng ước đạt 1.983 tỷ đồng,
tăng 9,4%25; Tổng số hành khách vận chuyển ước đạt 13,1 triệu hành khách, tăng
4,5%; Tổng số hành khách luân chuyển ước đạt 527,8 triệu hk.km, tăng 3,8%;
Khối lượng vận chuyển hàng hóa 6 tháng ước đạt 13,4 triệu tấn, tăng 11,7%;
Tổng khối lượng hàng hoá luân chuyển 6 tháng ước đạt 661,6 triệu tấn.km, tăng
10,8% so cùng kỳ.
5.4. Hoạt động dịch vụ khác:
Các loại hình dịch vụ khác như: tài chính, ngân hàng, bưu chính, viễn
thông, bảo hiểm, khám chữa bệnh, tư vấn pháp luật,… tiếp tục phát triển, đáp
ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Doanh thu hoạt động dịch vụ 6 tháng ước đạt
711 tỷ đồng, tăng 17,8% so cùng kỳ26.
Bên cạnh những kết quả đạt được, sản phẩm du lịch vẫn còn ít so với tiềm
năng, nhiều sản phẩm du lịch chưa hoàn thiện. Hoạt động kinh doanh lữ hành còn
yếu; thời gian khách lưu trú tại tỉnh còn thấp, thiếu các khu vui chơi giải trí, trung
tâm mua sắm, cơ sở lưu trú và nghỉ dưỡng cao cấp, các dịch vụ hỗ trợ phục vụ du
khách. Đội ngũ nhân lực du lịch còn thiếu lực lượng có chuyên môn, tay nghề cao,
tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên ngành dịch vụ, du lịch còn quá thấp.
6. Tài chính – Ngân hàng:
6.1. Tài chính:
UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các ngành, các địa phương triển khai quyết
liệt, đồng bộ các giải pháp tăng thu ngân sách, đôn đốc thu nộp ngân sách kịp
thời, đúng tiến độ. Nhìn chung các khoản thu chiếm tỷ trọng lớn đều tăng so với
cùng kỳ. Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước thực hiện 2.115 tỷ
đồng, đạt 47% dự toán địa phương giao, tăng 20,7% so cùng kỳ27. Nhìn chung,
các khoản thu đều tăng trưởng so cùng kỳ28; có 6 khoản thu (chiếm tỷ trọng lớn)
chưa đạt tiến độ dự toán được giao29.
Việc quản lý, điều hành chi ngân sách đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm theo
đúng Luật Ngân sách nhà nước, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh và những nhiệm vụ quan trọng, đột
xuất khác. Tổng chi NSNN trên địa bàn 6 tháng đầu năm ước thực hiện 5.006 tỷ
đồng, đạt 46,63% dự toán địa phương giao, bằng so cùng kỳ.
25 Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 305,8 tỷ đồng, tăng 3,9%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.452,0
tỷ đồng, tăng 11,2%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 225,3 tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ.
26 Sáu tháng đầu năm 2019, doanh thu phần lớn các nhóm hàng dịch vụ đều tăng so với cùng kỳ, đặc biệt tăng cao
nhất là nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 68,6%.
27Trong đó: Thu nội địa 2.040 tỷ đồng, đạt 47,35% dự toán địa phương, tăng 23% so cùng kỳ; thu thuế xuất nhập khẩu
75 tỷ đồng, đạt 39,47% dự toán địa phương, bằng 78,65% so cùng kỳ.
28 Cụ thể, có 12/15 khoản thu tăng trưởng, gồm: Thu từ DNNN địa phương (tăng 24%); thu từ DN có vốn ĐTNN
(tăng 28,2%); Thu lệ phí trước bạ (tăng 23,7%); thu tiền sử dụng đất (tăng 36,4%);…
29 Gồm: Thu từ DNNN Trung ương (39,1%); DNNN địa phương (46%); DN có vốn đầu tư nước ngoài (32,1%);
Thuế CTN &DV NQD (40,6%); thuế BVMT (32,4%); thu XSKT (43,5%).
8
6.2. Ngân hàng:
Thực hiện tốt chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn
hiệu quả năm 2019; tăng cường phòng, chống, ngăn ngừa vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động ngân
hàng, góp phần ổn định tiền tệ, tài chính. Các tổ chức tín dụng đẩy mạnh huy
động vốn, tuân thủ các quy định về lãi suất huy động30. Tập trung cho vay các
lĩnh vực ưu tiên, cung ứng nguồn vốn hỗ trợ thực hiện có hiệu quả các chương
trình, đề án, dự án trọng điểm của tỉnh góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Tổng số vốn huy động của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 6 ước đạt
39.400 tỷ đồng, tăng 6,2% so đầu năm và tăng 10% so cùng kỳ. Tổng dư nợ cho
vay cuối tháng 6 ước đạt 51.520 tỷ đồng, tăng 6,6% so đầu năm và tăng 16,6%
so cùng kỳ.
Tuy vậy, các biện pháp chống thất thu thuế đạt hiệu quả chưa cao; nợ đọng
thuế còn lớn, một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nên tự bỏ kinh doanh, không khai
báo và không nộp thuế31; một số khoản thu đạt còn thấp so với kế hoạch.
7. Quản lý đầu tư xây dựng:
7.1. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm ước tính thực hiện 8.670
tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khối lượng vốn đầu tư
Nhà nước quản lý trên địa bàn tỉnh ước tính thực hiện 1.676 tỷ đồng32, tăng 2%
so cùng kỳ; Nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách đạt 6.994 tỷ đồng, tăng 5,9% so
cùng kỳ.
7.2. Đầu tư từ ngân sách: UBND tỉnh giao sớm các nguồn vốn ngay từ
đầu năm, tạo điều kiện cho các cấp, các ngành, các chủ đầu tư triển khai thực
hiện. Công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư công chặt chẽ và hiệu quả. Đã
triển khai thực hiện tốt các quy trình thẩm định chủ trương đầu tư, thẩm định
dự án, kế hoạch đấu thầu theo quy định của Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng,
Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn. Công tác kiểm tra, đôn đốc tiến độ
thi công các công trình, dự án được tăng cường, đặc biệt là các công trình trọng
điểm của tỉnh33. Công tác thanh, quyết toán vốn đầu tư thực hiện đúng quy
định. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư phát triển năm 2019 dự ước đến ngày
30/6/2019 đạt 42% kế hoạch.
Các dự án ODA: Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự
án ODA theo kế hoạch34. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công
trung hạn vốn nước ngoài ngân sách trung ương tỉnh Quảng Bình theo yêu cầu
30
Tiếp tục có các gói tín dụng ưu đãi, đồng hành với doanh nghiệp, đẩy mạnh cho vay phát triển nông nghiệp,
nông thôn.
31 Ước tính đến 30/6/2018, tổng nợ thuế toàn tỉnh là 370 tỷ đồng, tăng 1,1% so với thời điểm 31/12/2017, chiếm
10,9% dự toán thu ngân sách nội địa giao năm 2018, trong đó: Nợ khó thu (không có khả năng thu) của các đơn
vị giải thể, phá sản, bỏ địa điểm kinh doanh là 148 tỷ đồng, chiếm 40% ; Nợ có khả năng thu là 222 tỷ đồng,
chiếm 60%.
32 Trong đó, vốn ngân sách Trung ương quản lý ước tính thực hiện 490 tỷ đồng; vốn ngân sách địa phương quản
lý ước tính thực hiện 1.152 tỷ đồng.
33 Hệ thống đường từ cầu Nhật Lệ 2 đến đường Hồ Chí Minh nhánh Đông, Trụ sở Thành ủy, UBND thành phố, các dự
án quan trọng khác cũng đang tích cực triển khai thực hiện dự án.
34 Tập trung thẩm định, trình phê duyệt điều chỉnh Kế hoạch chi tiết năm 2019; phê duyệt Kế hoạch lựa chọn nhà
thầu, Hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu các gói thầu của các dự án ODA trên địa bàn.
9
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Trong 6 tháng đầu năm 2019, thực hiện các thủ tục để
thu hút, vận động 03 dự án ODA, với tổng mức đầu tư dự kiến trên 278 tỷ đồng35.
Các dự án NGO: Công tác vận động thu hút và tiếp nhận nguồn viện trợ
NGO được triển khai tích cực. Phê duyệt, tiếp nhận Dự án “Hỗ trợ trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn tỉnh Quảng Bình năm 2019” với tổng kinh phí thực hiện
2,76 tỷ đồng do tổ chức Zhishan Foundation Taiwan (Đài Loan) tài trợ.
Hợp tác công - tư (PPP): Trên địa bàn tỉnh hiện có 05 dự án đang triển
khai thủ tục đầu tư, trong đó 01 dự án đã lựa chọn được nhà đầu tư; 01 dự án
đang lựa chọn nhà đầu tư; 03 dự án đang triển khai các thủ tục. Hiện nay, các
dự án BT đang tạm dừng theo Văn bản số 3515/BTC-QLCS ngày 28/3/2018
của Bộ Tài chính.
7.3. Đầu tư từ ngoài ngân sách: 6 tháng đầu năm đã phê duyệt chủ trương
đầu tư 19 dự án của nhà đầu tư trong nước với tổng mức đầu tư hơn 2.595 tỷ
đồng. Các dự án FDI tiếp tục được đầu tư và triển khai hoạt động theo tiến độ36.
7.4. Giám sát đầu tư tiếp tục được tăng cường, việc quản lý tiến độ và chất
lượng công trình được chú trọng; tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện
các dự án đã được cấp chủ trương đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Bên cạnh những kết quả đạt được, do một số quy định của Trung ương còn
bất cập, một số đơn vị, địa phương chưa quyết liệt thực hiện đã ảnh hưởng đến
tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công (Tỷ lệ giải ngân nguồn vốn ODA
và các CTMT Quốc gia đạt thấp). Do giải phóng mặt bằng một số dự án còn khó
khăn, chậm trể và vướng mắc Nghị định 167/2017/NĐ-CP của Chính Phủ nên
một số dự án chưa được tổ chức đấu giá đất và tài sản trên đất dẫn đến các nhà
đầu tư chậm thực hiện dự án. Việc xây dựng cơ chế hỗ trợ cho nhà máy xử lý rác
thải chậm được triển khai.
8. Hoạt động đối ngoại và xúc tiến đầu tư:
8.1. Công tác ngoại vụ:
Chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, các tổ chức
quốc tế. Việc quản lý đoàn vào, đoàn ra đã được thực hiện chặt chẽ, đúng quy
định37. Tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn công tác, phóng viên báo chí nước
ngoài đến tác nghiệp tại tỉnh. Đã xử lý kịp thời 06 vụ việc xảy ra ở nước ngoài
liên quan đến công dân của tỉnh, 05 vụ việc liên quan đến người nước ngoài xả ra
trên địa bàn tỉnh.
8.2. Công tác xúc tiến và hỗ trợ đầu tư:
Ban hành Kế hoạch hành động số 740/KH-UBND ngày 22/5/2019 thực hiện
35
Gồm: (i) Dự án “đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ y tế tuyến cơ sở (WB): 174,385 tỷ
đồng; (ii) Tiểu dự án cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia tỉnh Quảng Bình, giai đoạn 2018-2020 –EU tài trợ:
72,9 tỷ đồng; (iii) Dự án Hỗ trợ Việt Nam thực hiện Thỏa thuận Paris (Hoạt động thích ứng dựa vào hệ sinh thái
tại Quảng Bình): 31,666 tỷ đồng.
36
Hiện nay, trên địa bàn có 24 dự án FDI được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký đầu tư là
782,02 triệu USD.
37
Trong 6 tháng đầu năm, có 49 đoàn ra với 324 lượt người xuất cảnh ra các nước với mục đích tham dự hội nghị, hội
thảo quốc tế, khảo sát, trao đổi, học tập kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ , chúc Tết cổ truyền, đào tạo sau
đại học,… và đã có 42 đoàn vào với 185 lượt khách nước ngoài đến tỉnh với mục đích MIA, tài trọ chương trình học bổng,
chúc Tết cổ truyền, hoạt động báo chí, thăm và làm việc với các cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh.
10
Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện
những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao
năng lực cạnh tranh Quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021. Tiếp tục
triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ
về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Chỉ đạo các đơn vị tập trung
phối hợp với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp để hoàn thiện thủ tục các dự án đã
được cấp phép đấu tư và ký biên bản hợp tác đầu tư tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư
vào tỉnh Quảng Bình năm 2018. Hướng dẫn các thủ tục cho nhà đầu tư để hưởng
các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư của tỉnh. Thực hiện các thủ tục về ký quỹ và
hoàn ký quỹ cho nhà đầu tư đảm bảo đúng tiến độ. Tiếp tục tập trung rà soát, đôn
đốc tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, qua đó tháo gỡ những khó khăn vướng
mắc cho các nhà đầu tư38. Tiếp và làm việc với nhiều doanh nghiệp trong và
ngoài nước đến tìm hiểu hợp tác đầu tư tại tỉnh39. Phê duyệt Đề cương nhiệm vụ
và dự toán kinh phí xây dựng và triển khai Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh
tranh sở, ban, ngành và cấp huyện (DDCI) tỉnh Quảng Bình40. Đang triển khai
xây dựng chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp
nông thôn theo quy định tại Nghị định 57/2018/NĐ-CP.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
(PCI) tuy có tăng điểm nhưng ở thứ hạng thấp... Nguồn ngân sách tỉnh còn hạn
chế nên chưa thực hiện đồng bộ các hoạt động xúc tiến đầu tư theo kế hoạch;
Các dự án được cấp phép đầu tư do nhiều lý do triển khai còn chậm so dự kiến.
Việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp còn nhiều hạn chế; xử lý tài sản công
chậm trể; không có nhiều diện tích đất sạch để đưa vào đấu giá hoặc giao cho
nhà đầu tư; việc thỏa thuận đền bù, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án giữa
người dân và nhà đầu tư vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập ảnh hưởng đến tiến độ
triển khai thực hiện dự án.
9. Phát triển doanh nghiệp và các thành phần kinh tế:
9.1. Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp: Chỉ đạo 05 đơn vị sự nghiệp công lập
đã được Thủ tướng phê duyệt danh mục chuyển sang công ty cổ phần triển khai
thực hiện cổ phần hóa đảm bảo đúng tiến độ quy định; chỉ đạo tháo gỡ khó khăn
cho các doanh nghiệp chuyển sang cổ phần hóa, đến nay các doanh nghiệp
chuyển sang cổ phần hóa đã ổn định và tiếp tục phát triển. Tiếp tục hướng dẫn,
chỉ đạo 03 doanh nghiệp tổ chức thực hiện đúng kế hoạch thoái vốn nhà nước
năm 2019 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Hiện nay, các đơn vị tư vấn và
03 công ty cổ phần đang thương thảo hợp đồng về tư vấn xác định giá trị phần
38
Dự án của Tập đoàn FLC: Các sở, ngành, đơn vị, địa phương đã tích cực phối hợp, hỗ trợ Tập đoàn FLC
triển khai thực hiện Dự án theo phân công nhiệm vụ được giao. Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I:
Đang thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, tái định cư. Dự án Nhiệt điện Quảng Trạch II: Đã
hoàn thành công tác khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi trình cấp thẩm quyền phê duyệt. Các Dự án
điện mặt trời và điện gió: Dự án điện mặt trời của Tập đoàn Dohwa đang thực hiện GPMB; Dự án điện mặt
trời của Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải đã trình Bộ Công Thương thẩm định, phê duyệt bổ sung vào quy
hoạch phát triển điện lực của tỉnh;…
39 Đón tiếp và làm việc với đoàn Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền tại Việt Nam; Tham dự Hôi nghị "Gặp gỡ Nhật Bản -
Khu vực Bắc Trung Bộ năm 2019" tại tỉnh Nghệ An; Tổ chức Đoàn công tác tại Lào; Hội nghị đối thoại doanh
nghiệp và chính quyền để tạo thuận lợi thương mại xuyên biên giới tại tỉnh Khăm Muộn – CHDCND Lào...
40 với mục tiêu đo lường chất lượng điều hành kinh tế ở cấp Sở, ban, ngành và cấp huyện - các cấp triển khai thực
hiện các thủ tục hành chính đến doanh nghiệp nhằm nghiên cứu giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh những năm tiếp theo xếp vào nhóm khá của cả nước
11
vốn nhà nước41 theo quy định. Hướng dẫn trình tự, thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ
đối với Công ty CP Lệ Ninh Quảng Bình để cấp đổi giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh và thực hiện đăng ký giao dịch cổ phiếu trên hệ thống UPCOM.
Đã triển khai xây dựng Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định
của Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư xin ý kiến
để trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua.
9.2. Công tác đăng ký kinh doanh: Trong 6 tháng đầu năm 2019, đã cấp
giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 371 doanh nghiệp với số vốn đăng
ký 5.298 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 06/2019, tổng số doanh nghiệp đăng ký
trên địa bàn tỉnh là 6.103 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 69.177 tỷ đồng.
9.3. Kinh tế tập thể có bước phát triển, tiếp tục phát huy vai trò, vị trí của
kinh tế hợp tác trong giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Nhiều mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã, kinh tế trang trại, liên kết hộ trong sản
xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có hiệu quả, góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn42. Công tác tuyên truyền, vận
động, hướng dẫn và chỉ đạo thành lập các tổ hợp tác được đẩy mạnh43.
Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày
18/03/2002, Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về
tiếp tục đổi mới, phát triển nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Xây dựng chương
trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2025.
Bên cạnh đó, quy mô doanh nghiệp của tỉnh còn nhỏ, năng lực tài chính và
sức cạnh tranh thấp, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao. Các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng vẫn
gặp nhiều khó khăn. Kinh tế HTX phát triển chưa mạnh, chưa phát huy hết được
vai trò, vị trí, hiệu quả.
10. Tài nguyên và môi trường:
Công tác quản lý tài nguyên, khoáng sản và môi trường có nhiều chuyển
biến tích cực. Lĩnh vực đất đai được quan tâm44, tập trung chỉ đạo, thực hiện kịp
thời tháo gỡ những vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, đặc biệt là
các công trình, dự án trọng điểm của tỉnh45. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất được triển khai quyết liệt46; đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở dữ liệu về
đất đai phục vụ cho việc quản lý đất đai theo hướng hiện đại47. Đã tập trung chỉ
41
Đến thời điểm 30/5/2019, Công ty cổ phần Môi trường và Phát triển đô thị Quảng Bình và Công ty cổ phần
Quản lý, bảo trì đường thủy nội địa Quảng Bình đã gửi biên bản thương thảo hợp đồng về Sở Tài chính.
42 Tính đến nay, toàn tỉnh có 190 hợp tác xã (HTX) nông lâm nghiệp và thủy sản hoạt động theo Luật HTX 2012
(183 HTX nông nghiệp, 07 HTX thủy sản), tăng 05 HTX so với đầu năm 2019.
43 Tính đến 31/5/2019, toàn tỉnh có 863 tổ hợp tác nông, lâm nghiệp và thủy sản (không thay đổi so với đầu năm),
tổng số tổ viên là 11.892 người, bình quân 14 người/tổ.
44 Tập trung chỉ đạo Văn phòng Đăng ký đất đai và các huyện, thị xã, thành phố thực hiện thống kê đất đai năm
2018. Đến nay, công tác thống kê đất đai cấp xã cơ bản đã hoàn thành và đang hoàn thiện Báo cáo thuyết minh
kết quả thống kê đất đai năm 2018 toàn tỉnh để tham mưu UBND tỉnh báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường theo
quy định. Triển khai công tác chuẩn bị triển khai công tác thống kê, kiểm kê đất đai năm 2019.
45 Dự án của Tập đoàn FLC, Dự án mở rộng Quốc lộ 1A, Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch...
46
Đến nay, kết quả cấp giấy chứng nhận QSD đất chung toàn tỉnh đã thực hiện được 544.103 giấy với diện tích
593.924,46 ha/618.550,50 ha, đạt 96,13%.
47 Tích hợp, vận hành thử cơ sở dữ liệu đất đai huyện Bố Trạch; tiếp tục vận hành, cập nhật kịp thời cơ sở dữ liệu
đất đai của huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn; đồng thời thường xuyên thực hiện cập nhật chỉnh lý hồ sơ địa
chính theo quy định của pháp luật.
12
đạo đẩy mạnh công tác phát triển quỹ đất, tổ chức đấu giá, giao quyền sử dụng
đất; tình hình thị trường bất động sản 6 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh diễn ra
sôi động, giá đất tăng cao48.
Lĩnh vực khoáng sản được tăng cường kiểm soát chặt chẽ đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Lĩnh vực môi trường được quan tâm từ hoạt
động cấp phép cho đến công tác kiểm tra, kiểm soát49. Công tác quản lý chất thải
rắn, các lĩnh vực đo đạc, bản đồ, viễn thám, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn,
biến đổi khí hậu và quản lý tổng hợp biển, hải đảo được quan tâm, đẩy mạnh.
Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường được tăng
cường, triển khai quyết liệt.
Bên cạnh những kết quả đạt được, thị trường bất động sản một số nơi trên
địa bàn tỉnh có dấu hiệu phát triển nóng,… tiềm ẩn nhiều rủi ro; công tác cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mặc dù đã có nhiều chuyển biến nhưng số hồ
sơ tồn đọng vẫn còn nhiều; công tác giải phóng mặt bằng một số công trình, dự án
gặp khó khăn,vướng mắc do người dân khiếu kiện50; Vấn đề ô nhiễm môi trường
trong sản xuất, kinh doanh, quản lý đô thị trên địa bàn tỉnh vẫn còn xảy ra, chưa
xử lý triệt để; Tình trạng khai thác cát sạn trái phép mặc dù đã được ngăn chặn
nhưng vẫn còn xẩy ra ở một số địa phương.
11. Giáo dục đào tạo:
Công tác xây dựng cơ sở vật chất, kiên cố hoá trường lớp học, xây dựng
phòng học bộ môn, thư viện, mua sắm trang thiết bị dạy học tiếp tục được quan
tâm, xây dựng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa51; Mạng lưới trường học toàn
tỉnh ổn định, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân52; Một số trường quy mô quá
nhỏ đã được điều chỉnh sắp xếp lại phù hợp với tình hình thực tế53. Hoàn thành
việc sắp xếp các đơn vị sự nghiệp giáo dục theo Đề án đã được phê duyệt. Thực
hiện tốt quyền chủ động của cơ sở trong phân cấp quản lý giáo dục và phối hợp
quản lý trong hệ thống giáo dục. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cơ
48 Dự kiến đến hết tháng 6, thu từ tiền đất đạt 1.991 tỷ đồng/kế hoạch tỉnh giao 2.400 tỷ đồng (đạt 82,9%)
49
Phê duyệt 24 hồ sơ trong lĩnh vực môi trường; thực hiện xác nhận 16 kế hoạch bảo vệ môi trường. Kiểm tra
việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại 41 cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh và yêu cầu
02 đơn vị tạm dừng hoạt động sản xuất để khắc phục ô nhiễm môi trường.
51
Tỷ lệ phòng học văn hóa được kiên cố hoá toàn Ngành đạt 83% (MN 65,1%; TH 77,27%; THCS 90,18%;
THPT 93,63%); tỷ lệ kiên cố hóa phòng học bộ môn đạt 86%; tỷ lệ kiên cố hóa các phòng chức năng, thư viện,
thiết bị, thí nghiệm thực hành đạt 71%; 100% các trường phổ thông có thư viện. Tập trung đầu tư trang thiết bị
dạy học, đồ chơi ngoài trời cho các lớp MN 5 tuổi, phòng học ngoại ngữ, phòng học bộ môn; có 17 trường MN
được trang cấp thiết bị đồ dùng trong lớp, đồ chơi ngoài trời hỗ trợ xây dựng Nông thôn mới; có 87 trường phổ
thông được trang cấp bộ thiết bị dạy học môn thể dục;...
52
Toàn tỉnh hiện có 618 trường và CSGD, trong đó 184 trường MN (công lập: 173; dân lập: 02; tư thục: 09,
tăng 02 trường tư thục), 203 trường TH (trong đó, tư thục: 01; TTTKT: 03; PTDTBT: 02), 24 trường
TH&THCS (trong đó, PTDTBT: 08, PTDTNT: 04), 142 trường THCS (trong đó, PTDTBT: 01), 06 trường
THCS&THPT (trong đó, tư thục: 01), 27 trường THPT (trong đó: THPT Chuyên: 01, DTNT tỉnh: 01), 08
trung tâm GDDN, 01 trung tâm GDTX tỉnh, 16 Trung tâm ngoại ngữ, 04 trung tâm Ngoại ngữ -Tin học, 02
Trung tâm tin học và 159/159 xã có trung tâm học tập cộng đồng.
53
Sáp nhập trường 02 trường TH ở huyện Quảng Ninh thành 01 trường TH, 02 trường TH tại huyện Tuyên
Hóa thành 01 trường TH; có 05 trường TH, trường THCS sáp nhập thành trường liên cấp TH&THCS (Lệ thủy:
01, Bố Trạch: 02; Quảng Trạch: 01; Ba Đồn: 01); chuyển đổi trường TH Trường Sơn thành trường PTDTBT
Trường Sơn.
13
bản đảm bảo tỷ lệ theo quy định của UBND tỉnh54. Công tác vận động, huy động
số lượng được tiến hành tích cực55; Đẩy mạnh phổ cập giáo dục các bậc học và
xóa mù chữ56. Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến tích cực; kỹ
năng thực hành, chủ động sáng tạo của người học từng bước được nâng lên.
Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được quan tâm chỉ đạo, thực
hiện lồng ghép xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia gắn với tiêu chí Nông thôn
mới và xây dựng trường học thân thiện57. Tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh việc
dạy thêm, học thêm, việc tổ chức các lớp chọn trong trường học; khắc phục tình
trạng lạm thu các khoản đóng góp trái quy định. Chỉ đạo tổ chức kỳ thi chọn học
sinh giỏi cấp quốc gia tại tỉnh đúng kế hoạch, an toàn58; Công tác tổ chức kỳ thi
THPT Quốc gia 2019 và công tác tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2019-
2020 được triển khai tích cực. Đào tạo đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên
nghiệp tiếp tục đa dạng hóa các ngành nghề, các loại hình đào tạo phù hợp nhu
cầu thực tế, công tác quản lý chất lượng được chú trọng và chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2019-2020 đã để xảy
ra trường hợp bất thưởng59 phải tổ chức thi lại môn Văn. Việc giảm định mức
giáo viên/lớp, nhân viên/trường ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giáo dục của
nhà trường; vẫn còn tình trạng quá tải về số lượng trẻ/nhóm, lớp ở cấp học mầm
non; Vẫn có sự chênh lệch về chất lượng ở các vùng miền. Năng lực giáo viên và
CSVC chưa đáp ứng việc đổi mới phương pháp dạy học. Việc vi phạm nghiêm
trọng đạo đức nhà giáo, bạo hành với học sinh tại tỉnh ta đã xảy ra.
12. Khoa học và công nghệ:
Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ tiếp tục được tăng
cường. Tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, đề tài, dự án khoa học và
công nghệ cấp tỉnh và cấp Quốc gia, các mô hình, nhiệm vụ khoa học và công
nghệ liên kết với doanh nghiệp theo đúng kế hoạch. Đẩy mạnh hoạt động kiểm
định đo lường, thử nghiệm chất lượng đáp ứng yêu cầu QLNN và nhu cầu của
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn60. Công tác thống kê, thông
tin, truyền thông và phổ biến các kết quả KH&CN được chú trọng đúng mức,
đáp ứng nhu cầu xã hội. Hỗ trợ công tác quảng bá và xây dựng thương hiệu cho
các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thành công Hội thảo khoa học “
54 Hiện nay, toàn Ngành có 18.684 cán bộ, giáo viên, nhân viên (trong đó: CBQL: 1.453, giáo viên: 14.123, nhân
viên: 3.108).
55
Năm học 2018-2019, toàn Ngành có 227.312 học sinh MN và phổ thông (MN: 61.078, TH: 78.985, THCS:
54.284, THPT: 31.584, GDTX: 1.381), tăng 5.467 em so với năm học trước.
56 Có 156/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGDTH mức độ 3; 127/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGD
THCS mức độ 3; 157/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2.
57
Tính đến nay, tổng số trường MN, phổ thông được công nhận đạt chuẩn quốc gia là 369/585 trường, đạt tỷ lệ
63,1% (trong đó, có 88/184 trường MN, tỷ lệ 47,8%; 169/203 trường TH, tỷ lệ 83,3%; 98/166 trường THCS, tỷ lệ
59,0% và 14/32 trường THPT,THCS&THPT, tỷ lệ 43,8%).
58
Toàn tỉnh có 61 học sinh dự thi/9 môn; kết quả: có 32/61 thí sinh dự thi đạt giải; có 04 học sinh được Bộ
GD&ĐT chọn bồi dưỡng để dự thi chọn học sinh tham gia đội tuyển dự các kỳ thi Olympic Toán khu vực và
quốc tế.
59 Đề thi chính thức môn Văn có nhiều nội dung, câu hỏi giống như đề kiểm tra học kỳ II năm học 2018-2019 của
Phòng Giáo dục và Đào tạo Đồng Hới và 2 cán bộ coi thi trong một phòng thi đã ký nhầm vào ô cán bộ chấm thi,
sau một thời gian mới phát hiện sai sót, đã yêu cầu học sinh làm bài vào giấy thi khác, đã làm ảnh hưởng đến thời
gian làm bài của thí sinh.
60 Trong 6 tháng, đã kiểm định được 3.646 phương tiện đo và thử nghiệm được 5.065 mẫu hóa sinh - môi trường,
cơ điện - vật liệu xây dựng các loại.
14
Quảng Bình – 30 năm Đổi mới và Phát triển”. Đây là hoạt động có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc hướng tới kỷ niệm 30 năm Ngày tái lập tỉnh (01/7/1989
- 01/7/2019) và 70 năm Ngày Quảng Bình quật khởi (15/7/1949 - 15/7/2019).
Triển khai kế hoạch kiểm tra nhà nước về đo lường chất lượng và nhãn hàng hóa
Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019 theo công văn số 10/TĐC-QLCL ngày
04/01/2019 của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng. Kết quả kiểm tra
cho thấy hầu hết các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn đã chấp hành đúng
các quy định của pháp luật.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xã hội hóa các hoạt động khoa
học công nghệ còn chậm; đầu tư của xã hội, nhất là của các doanh nghiệp cho
hoạt động khoa học và công nghệ còn thấp; năng lực khoa học công nghệ còn
hạn chế, chưa đáp ứng kịp thời thực tiễn đổi mới.
13. Y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân:
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân tiếp tục được đẩy mạnh. Tiếp
tục duy trì và phát huy tốt hoạt động khám chữa bệnh tại các tuyến. Công tác tiếp
đón, theo dõi chăm sóc người bệnh có nhiều chuyển biến tích cực hướng tới sự
hài lòng của người bệnh, kịp thời đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân
dân. Đã chủ động triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh theo mùa, chú
trọng phòng chống dịch cúm, tay chân miệng, sởi, sốt xuất huyết và các dịch
bệnh nguy hiểm khác61. Chỉ đạo tăng cường thực hiện các quy định về quản lý
thuốc tại các trạm y tế và trung tâm y tế. Hoàn thiện thủ tục cấp chứng chỉ hành
nghề dược và giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc cho các cá nhân và
cơ sở. Xây dựng Đề án thành lập Trung tâm Kiểm soát bệnh tật. Thực hiện sáp
nhập Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện, thị xã, thành phố về thuộc Trung tâm
Y tế huyện, thị xã, thành phố.
Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm được tăng cường và chú trọng triển khai
thực hiện62. Triển khai tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
năm 2019. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra chuyên đề diện rộng về vệ sinh
an toàn thực phẩm, hành nghề y, dược tại các cơ sở trên địa bàn quản lý, thực
hiện thanh tra đột xuất, thường quy việc chấp hành các quy định về khám chữa
bệnh, thuốc giả, giá thuốc... Tiếp tục duy trì tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới
1 tuổi; triển khai chiến dịch tiêm phòng Sởi – Rubela trên địa bàn toàn tỉnh.
Hoàn thành tập huấn về an toàn tiêm chủng cho toàn bộ 159 trạm y tế xã,
phường, thị trấn và 8 Trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố.
Bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng khám chữa bệnh ở một số cơ
sở y tế vẫn chưa được nâng cao; đầu tư, nâng cấp trang thiết bị chưa đáp ứng yêu
cầu; đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn sâu thuộc các
chuyên ngành...
14. Văn hoá, Thể thao:
Công tác quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và gia đình tiếp tục được
tăng cường. Các hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi phục vụ tốt nhiệm vụ
61 Tính đến 31/5/2019 số ca sốt xuất huyết 629, tay chân miệng 14 ca, sởi có 9 ca mắc. Các dịch bệnh khác không
biến động lớn so với cùng kỳ năm 2018.
62
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn toàn tỉnh không có vụ ngộ độc thực phẩm. Số ca lẻ tẻ: 100 ca, không có tử
vong xảy ra.
15
chính trị của địa phương và chào mừng các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước63.
Đẩy mạnh công tác chỉ đạo, quản lý, tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh, chú trọng
công tác tuyên truyền các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt nếp sống văn minh tại
các điểm di tích, các lễ hội đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp
với thuần phong mỹ tục và lịch sử văn hóa truyền thống của địa phương64.
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đã được triển khai tích cực65.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” được
quan tâm chỉ đạo66. Phát triển sự nghiệp trên các lĩnh vực nghệ thuật chuyên
nghiệp, nghệ thuật quần chúng, chiếu phim, tạp chí văn hóa và thư viện được
đẩy mạnh67. Tiếp tục tuyên truyền về Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Chỉ
đạo thực hiện Bộ tiêu chí Ứng xử trong gia đình.
Phong trào thể dục thể thao diễn ra sôi nổi trên địa bàn tỉnh, đã tổ chức
thành công ngày chạy OLYMPIC vì sức khỏe toàn dân năm 201968; Tổ chức phát
động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước năm trên địa bàn toàn
tỉnh69. Tổ chức thành công nhiều giải thi đấu, hội thao, như: giải Karatedo các
CLB mở rộng tỉnh Quảng Bình lần thứ Nhất, năm 2019; giải Quần vợt tranh cúp
Vietinbank lần thứ II năm 2019;… Các đội tuyển thể thao thành tích cao của tỉnh
đã dành được nhiều huy chương danh giá mang vinh dự về cho quê hương
Quảng Bình70. Đặc biệt, tại giải Bơi - Lặn vô địch quốc gia năm 2019, các vận
động viên Quảng Bình đã lập 8 kỷ lục quốc gia.
Bên cạnh đó, công tác phối hợp liên ngành trong phòng, chống bạo lực gia
đình có lúc vẫn còn thiếu chặt chẽ, chưa thường xuyên; công tác đào tạo vận
63 Phối hợp với Cục Văn hóa cơ sở - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Triển lãm tranh cổ động tấm
lớn và Liên hoan tuyên truyền lưu động toàn quốc năm 2019 kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Đường Hồ
Chí Minh - Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19/5/1959-19/5/2019). Tổ chức chuỗi các hoạt động văn
hóa, thể thao kỷ niệm 30 năm Ngày tái lập tỉnh (01/7/1989 - 01/7/2019) và 70 năm Ngày Quảng Bình quật
khởi (15/7/1949 - 15/7/2019) như: Liên hoan nghệ thuật quần chúng “Câu hò nối những dòng sông”; Liên
hoan các tổ, nhóm, câu lạc bộ Bài chòi tỉnh Quảng Bình lần thứ Nhất và đón Bằng của UNESCO công nhận Nghệ
thuật Bài chòi Trung bộ Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; tổ chức cuộc vận động
sáng tác ca khúc về Quảng Bình; Triển lãm thành tựu kinh tế-xã hội tỉnh Quảng Bình; Liên hoan nghệ thuật quần
chúng Công-Nông-Binh tỉnh Quảng Bình; Vòng chung kết giải Bóng đá nam tỉnh Quảng Bình lần thứ II năm 2019
cũng như đăng cai tổ chức vòng bán kết giải bóng chyền Hạng A toàn quốc năm 2019;…
64
Lễ hội Chùa Hoàng Phúc, huyện Lệ Thủy; Lễ hội Rằm tháng Ba, huyện Minh Hóa; Lễ hội Đền Thánh mẫu
Liễu Hạnh, huyện Quảng Trạch; Lễ hội Đập trống của người Ma Koong, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch; Lễ
hội Danh thắng Thần Đinh, huyện Quảng Ninh;...
65 Nổi lên là lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang,
huyện Lệ Thủy và Lễ hội Đập trống người Ma Coong, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch để đề nghị Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; tiếp nhận nhiều hiện vật có giá trị để
đưa vào trưng bày phục vụ nhu cầu thăm quan và tìm hiểu của nhân dân và du khách (xe ZIN 157 tiếp nhận từ
Quân khu IV, cuốn sách “Đại tướng của nhân dân – Võ Nguyên Giáp, những năm tháng cuộc đời” có trọng lượng
500kg, dày 260 trang được làm từ chất liệu gỗ và vải của nhà thư pháp – Nghệ nhân Võ Dương, thành phố Hồ
Chí Minh)…
66 Đã ban hành Quy định tiêu chuẩn, cách chấm điểm để xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Thôn văn hóa”,
“Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
67 Quan tâm hướng dẫn hệ thống mạng lưới thư viện cơ sở và đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động thư viện, luân chuyển
43.000 lượt sách báo về sơ sở; cấp đổi và cấp mới 375 thẻ đọc, phục vụ 28.650 lượt bạn đọc, đạt 52% kế hoạch năm.
Tạp chí Văn hóa phát hành 6 số với 4.200 cuốn, đăng tải 96 bài đúng tôn chỉ mục đích. Năm đội chiếu bóng miền
núi thực hiện 390 buổi chiếu phục vụ khoảng 75 ngàn lượt người xem, đạt 55% kế hoạch năm.
68 Có 8/8 địa phương cấp huyện với 149/159 xã, phường, thị trấn (chiếm 93,7), thu hút gần 86 ngàn người tham gia.
69 Lễ phát động cấp tỉnh có sự tham dự của hơn 600 người.
70
6 tháng đầu năm, các đội tuyển tập huấn và tham gia thi đấu 8 giải trong nước dành 59 huy chương các loại,
trong đó có 20 HCV, 17 HCB, 22 HCĐ.
16
động viên của một số môn còn thiếu tính kế cận giữa các lứa tuổi, dẫn tới nguy
cơ thiếu hụt vận động viên mũi nhọn trong thời gian tới;…
15. Thông tin và truyền thông:
Hoạt động quản lý nhà nước lĩnh vực thông tin truyền thông, báo chí, xuất
bản được đẩy mạnh. Tập trung triển khai công tác thông tin, tuyên truyền chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, các hoạt động
chỉ đạo điều hành của Lãnh đạo các cấp; Công tác quản lý thông tin, báo chí và
xử lý những vấn đề bức xúc được chú trọng đặc biệt xử lý thông tin thiếu chính
xác trên mạng xã hội. Tổ chức Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa,
Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại huyện Bố
Trạch. Tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Sách Việt Nam lần thứ 6 với
nhiều nội dung phong phú nhằm khơi dậy, thúc đẩy phong trào đọc sách, hướng
tới xây dựng xã hội học tập.
Hạ tầng, dịch vụ viễn thông được tăng cường quản lý71, công tác chỉnh
trang cáp thông tin được triển khai thực hiện72. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện lộ
trình số hóa truyền hình, tích cực khảo sát, cung cấp số liệu hộ nghèo, hộ cận
nghèo đủ điều kiện nhận hỗ trợ đầu thu kỹ thuật số. Tiếp tục xây dựng chính
quyền điện tử tỉnh Quảng Bình; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong cải cách hành
chính, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,473; Triển khai thực hiện ký số và gửi,
nhận văn bản điện tử trên môi trường mạng cho các sở, ngành, địa phương; Triển
khai ứng dụng chứng thư số trên địa bàn tỉnh74.
Bên cạnh đó, một số cơ quan, đơn vị chưa chú trọng việc ứng dụng CNTT
trong quản lý, điều hành đảm bảo an toàn thông tin. Xếp hạng chỉ số ứng dụng
CNTT trong cải cách hành chính của tỉnh Quảng Bình còn thấp, ảnh hưởng đến
thứ hạng của tỉnh về chỉ số CCHC.
16. Lao động, Thương binh và Xã hội:
Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình Giảm nghèo và giải
quyết việc làm, tăng cường đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời
hạn; thẩm định, cấp giấy phép cho lao động người nước ngoài vào làm việc trên
địa bàn tỉnh theo quy định76. Tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện chính sách hỗ
trợ đào tạo nghề cho lao động bị ảnh hưởng sự cố ô nhiểm môi trường biển. Phê
duyệt Đề án “ Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất
tại thôn Vịnh Sơn, xã Quảng Đông”.
71 Tổ chức Hội nghị tập huấn thông tin liên lạc trên biển; tập huấn công tác quản lý đại lý Internet, điểm truy nhập
Internet công cộng và điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng tại các huyện, thị xã, thành phố;
72
Tổ chức Hội nghị chỉnh trang cáp thông tin năm 2019; thực hiện tổng rà soát các tuyến cáp và tổ chức triển
khai chỉnh trang cáp thông tin năm 2019.
73 Tổ chức xây dựng Hệ thống thông tin kinh tế, xã hội tỉnh Quảng Bình; nâng cấp Trung tâm dữ liệu điện tử và
Phần mềm theo dõi thực hiện nhiệm vụ;…
74
Thực hiện đăng ký và cấp chứng thư số cho 686 tổ chức, cá nhân; tổ chức hướng dẫn ứng dụng chứng thư số
cho các đơn vị triển khai.
75 Ban hành Quyết định phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo năm 2018.
76 Xuất khẩu lao động khoảng 1.700 lao động (đạt 51,37% kế hoạch năm), chủ yếu là đi Nhật Bản, Đài Loan, Hàn
Quốc (chiếm khoảng 62% lao động xuất cảnh). Chấp thuận nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài của 15
doanh nghiệp, tổ chức; cấp, cấp lại 41 giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn
tỉnh. Trung tâm Dịch vụ việc làm tổ chức 18 phiên giao dịch việc làm, có 11.936 lượt người lao động được tư
vấn, 2.148 lượt người được giới thiệu việc làm.
17
Chỉ đạo triển khai thực hiện các biện pháp giảm nghèo trên địa bàn tỉnh,
trong đó tập trung vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện phân bổ sớm
nguồn kinh phí thực hiện Chương trình giảm nghèo; tổ chức tập huấn, tuyên
truyền về công tác giảm nghèo đối với các xã thuộc Chương trình 30ª và Chương
trình 135. Với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành và các địa phương, 6
tháng đầu năm 2019 tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,84% (2.087 hộ, tỷ lệ hộ nghèo toàn
tỉnh còn 6,14%) và tỷ lệ hộ cận nghèo giảm 1,25% (3.084 hộ).
Giải quyết kịp thời các chế độ chính sách, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa,
chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ,
người có công với cách mạng đạt kết quả tốt77. Tổ chức tiếp nhận và an táng 09
hài cốt liệt sĩ trong tỉnh, 17 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt
Nam hy sinh tại Lào về nước tại Nghĩa trang liệt sỹ Ba Dốc. Công tác phòng,
chống tệ nạn xã hội được triển khai tích cực78. Công tác an sinh xã hội, bảo trợ xã
hội tiếp tục được quan tâm79. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các hoạt động bảo vệ
và chăm sóc trẻ em80. Tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức,
thay đổi hành vi về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ trên địa bàn toàn tỉnh.
Tuy vậy, đã để xảy ra nhiều vụ trẻ em bị tai nạn, thương tích, đuối nước thương
tâm, 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh có 31 em bị tai nạn thương tích, trong đó có
27 em bị đuối nước (20 em chết và 07 em bị thương); việc phối hợp giữa các cấp,
ngành về lĩnh vực người có công, an sinh xã hội chưa chặt chẽ, tích cực...
17. Thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo:
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thông qua việc
triển khai các chương trình, dự án, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và vật
chất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi81. Các lĩnh vực y tế, giáo dục,
văn hóa vùng dân tộc và miền núi có nhiều chuyển biến tích cực, bộ mặt nông
thôn vùng dân tộc và miền núi có nhiều khởi sắc.
Trong 6 tháng đầu năm 2019, tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh ổn định.
Công tác QLNN về tôn giáo được chú trọng, tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn
giáo cơ bản đúng quy định82. Phần lớn các chức sắc, chức việc, giáo dân, tín đồ
77 6 tháng đầu năm, đã giải quyết chế độ trợ cấp hàng tháng cho 95 trường hợp, trợ cấp 1 lần 1.185 trường hợp, ưu đãi
giáo dục - đào tạo 14 trường hợp. Điều dưỡng tập trung được 11 đợt với 991 người tham gia.
78 Phê duyệt mô hình thí điểm “Hỗ trợ tăng cường năng lực của các nhóm đồng đẳng, nhóm tự lực, câu lạc bộ của
người bán dâm trong việc tiếp cận, truyền thông và hỗ trợ giảm hại phòng chống bạo lực giới” năm 2019. Tổ
chức 22 lớp tập huấn phòng chống mua bán người, phòng chống tệ nạn xã hội và tư vấn điều trị nghiện ma túy tại
gia đình và cộng đồng với 680 người tham gia. Thành lập 02 nhóm “tự lực” có 30 đối tượng tham gia sinh hoạt,
trao đổi các vấn đề sau cai nghiện và dự phòng tái nghiện…
79
Đã thực hiện phân bổ 1.832 tấn gạo cứu đói cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán và thời kỳ giáp hạt; cấp
kinh phí để tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho 67 cụ 100 tuổi và 881 cụ 90 tuổi với kinh phí 636 triệu đồng. Hiện
nay, Trung tâm Bảo trợ xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng 57 người; Trung tâm Chăm sóc và Phục hồi chức năng cho
người tâm thần chăm sóc, nuôi dưỡng 68 người.
80 Ban hành Kế hoạch thực hiện Dự án phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em; Tổ chức phát động Tháng hành động vì
trẻ em năm 2019; phát động Phòng, chống đuối nước trẻ em và tai nạn thương tích; tổ chức thăm và tặng quà cho
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nghèo và các cơ sở trợ giúp trẻ khuyết tật trên địa bàn tỉnh;…
81
Như: chương trình 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân vùng
khó khăn,...
82
Chấp thuận cho Ban Trị sự GHPGVN tỉnh tổ chức các hoạt động nhân dịp Đại lễ Phật đản năm 2019. Các hoạt
động tôn giáo quan trọng như lễ chầu lượt, lễ quan thầy, lễ Phục sinh… (đạo Công giáo); Lễ Thượng Nguyên, Lễ
18
phật tử tuân thủ quy định của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi
đua yêu nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh trật tự ở
các địa phương.
Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất ở một số địa bàn đồng bào dân
tộc vẫn chậm phát triển; tỷ lệ hộ nghèo cao và nguy cơ tái nghèo lớn; công tác
giảm nghèo chưa bền vững. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo một số nơi
hoạt động chưa thật sự hiệu quả và chưa chấp hành theo đúng pháp luật.
18. Công tác tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền:
18.1.Tổ chức bộ máy:
Công tác xây dựng chính quyền được quan tâm, đã tập trung chỉ đạo xây
dựng củng cố và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở. Đã quyết định giao biên
chế công chức hành chính, số lượng người làm việc năm 201983. Công tác tinh
giản biên chế tiếp tục được thực hiện84. Đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương
thực hiện Đề án sắp xếp, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị
sự nghiệp công lập của tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2017-2020 đảm bảo nội dung
và thời gian. Công tác thẩm định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các tổ chức
được thực hiện theo quy định85. Việc thực hiện sáp nhật, hợp nhất thôn, tổ dân
phố được thực hiện theo đúng quy định; báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chủ
trương về sáp nhật, hợp nhất thôn, tổ dân phố trong toàn tỉnh; trình Bộ Nội vụ
thẩm định phương án sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã tỉnh
Quảng Bình trong giai đoạn 2019-2021. Thực hiện điều động, bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại, kéo dài thời gian giữ chức vụ, thực hiện chế độ, chính sách đối với cán
bộ, công chức, viên chức theo đúng quy định86.
18.2. Công tác CCHC và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức
tiếp tục được chú trọng. Công tác Cải cách hành chính được tổ chức triển khai
quyết liệt, đồng bộ, toàn diện trên các nội dung. Đã ban hành các quyết định, kế
hoạch về công tác CCHC năm 201987; Quyết định ban hành quy tắc ứng xử của
cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Mở các lớp bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức theo kế hoạch88. Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục được nâng cao.
hội Di tích lịch sử chùa Hoằng Phúc lần thứ IV, lễ Phật đản, Phật lịch 2563 Dương lịch 2019…(đạo Phật giáo) được
tổ chức theo đúng nội dung, chương trình đăng ký và được chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi…
83 Gồm: 1.800 biên chế công chức, 22.347 biên chế sự nghiệp và 283 chỉ tiêu hợp đồng lao động theo Nghị định
số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ.
84 trong 6 tháng đầu năm 2019, đã tham mưu UBND tỉnh phê duyệt 39 trường hợp thuộc đối tượng tinh giản biên
chế
85 Trung tâm Ứng dụng và Thống kê khoa học và công nghệ; Bảo tàng tổng hợp tỉnh; TT Huấn luyện và Thi đấu Thể
dục Thể thao tỉnh; Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của TT Giám định Y khoa –
Pháp y.
86 Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 06 trường hợp, kéo dài thời gian giữ chức vụ 06 trường hợp diện Ban Thường vụ Tỉnh
ủy quản lý; quyết định bổ nhiệm 08 trường hợp, bổ nhiệm lại 06 trường hợp, kéo dài thời gian giữ chức vụ 04
trường hợp, quyết định nghỉ hưu 03 trường hợp, thông báo nghỉ hưu 06 trường hợp diện Ban Cán sự Đảng UBND
tỉnh quản lý;..
87
Quyết định ban hành Kế hoạch kiểm tra công tác CCHC năm 2019 tại các cơ quan, đơn vị, địa phương; kế
hoạch tổ chức cuộc thi tìm kiếm sáng kiến, giải pháp CCHC tỉnh năm 2019;...
88 Đã phối hợp với các đơn vị trong và ngoài tỉnh mở 9/61 lớp bồi dưỡng cho 794 cán bộ, công chức, viên chức.
19
18.3. Công tác thi đua khen thưởng:
Quyết định khen thưởng cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích cao89 theo
quy định; ban hành Hướng dẫn về việc tôn vinh, khen thưởng các tập thể, cá nhân
có nhiều công lao đóng góp trong 30 năm xây dựng và phát triển, nhân kỷ niệm 30
năm Ngày tái lập tỉnh (01/7/1989 - 01/7/2019). Đề nghị TW tặng thưởng Huân
chương Độc lập hạng Nhất cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhân dịp
kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh. Đề nghị Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương
truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho 10 Mẹ.
Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chưa đồng
đều, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức năng lực phát hiện vấn đề, tham
mưu, đề xuất các biện pháp giải quyết, thực thi công vụ hiệu quả chưa cao; công
tác cải cách hành chính tại một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa quyết liệt
nên chưa có nhiều đột phá, cải cách; việc đánh giá hiệu quả, chất lượng công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức còn chung chung; bộ máy chính
quyền cơ sở một số nơi hoạt động chưa thật sự hiệu quả; cải cách hành chính còn
xếp thứ hạng thấp.
19. Công tác thanh tra, tư pháp, phòng chống tham nhũng:
19.1. Công tác tư pháp:
Công tác thẩm định, góp ý dự thảo văn bản QPPL ngày càng đi vào nền
nếp; chất lượng được nâng cao; Công tác rà soát, kiểm tra, tự kiểm tra văn bản
QPPL được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc90. Công tác tuyên truyền phổ
biến, giáo dục pháp luật đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, hướng về
cơ sở, quan tâm các đối tượng đặc thù, địa bàn trọng điểm, vừa thực hiện đại trà,
vừa có trọng tâm91; chú trọng tuyên truyền các văn bản pháp luật mới ban hành,
các văn bản tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế xã hội, đến bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, tổ chức, doanh nghiệp. Các hình thức tuyên truyền phổ
biến ngày càng đa dạng, phong phú, quan tâm ứng dụng công nghệ thông tin trong
phổ biến giáo dục pháp luật92. Công tác quản lý nhà nước về theo dõi thi hành
pháp luật, pháp chế, xử lý vi phạm hành chính, quản lý nhà nước về luật sư, giám
định, giao dịch bảo đảm, bồi thường nhà nước, công chứng, chứng thực, đấu giá
tiếp tục được triển khai thực hiện có nền nếp93. Công tác đăng ký quản lý hộ tịch,
89
Khen thường xuyên :Tập thể Lao động xuất sắc: 285 tập thể; Đơn vị Quyết thắng: 39 tập thể; Cờ thi đua của
UBND tỉnh: 64 tập thể; Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 136 tập thể và 319 cá nhân; Chiến sỹ thi đua cấp
tỉnh: 139 cá nhân; Khen chuyên đề: Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 39 tập thể và 27 cá nhân; Khen đột
xuất: Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 05 tập thể và 119 cá nhân; Khen đối ngoại: Bằng khen của Chủ
tịch UBND tỉnh cho 01 tập thể và 02 cá nhân.
90
06 tháng đầu năm 2019, đã thực hiện thẩm định, góp ý 53 văn bản QPPL và cá biệt của Trung ương và địa
phương, tăng 17,8% so với cùng kỳ 6 tháng đầu năm 2018; tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền 19 văn bản; rà
soát 28 văn bản QPPL liên quan đến lĩnh vực Phòng, chống tham nhũng; Quốc phòng…
91
Tổ chức 30 hội nghị, lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật với hơn 3000 lượt người tham gia; in ấn, xuất
bản, phát hành 35.500 tài liệu, bản tin tư pháp.
92
PBGDPL thông qua tổ chức hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, qua sinh hoạt Ngày Pháp luật;
thi tìm hiểu pháp luật; qua youtube, Trang Thông tin điện tử, qua phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống loa
truyền thanh cơ sở; Bản tin Tư pháp, tờ gấp, tài liệu; tủ sách pháp luật; qua hòa giải ở cơ sở, sinh hoạt Câu lạc bộ,
sinh hoạt cộng đồng; qua xét xử lưu động; đối thoại trực tiếp; tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại,
tố cáo; tư vấn pháp luật, Trợ giúp pháp lý…
93
Đã thực hiện 2.683 việc làm công chứng, tổng số phí thu được 1,4 đồng, tăng 27,04% so cꢀng kỳ, nộp vào ngân
sách 560 triệu đồng; đã ký kết 37 Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, tổ chức 292 cuộc đấu giá, tổng giá trị tài sản
bán được hơn 380 tỷ đồng, tăng 177% so cꢀng kỳ,chênh lệch tăng trên 105 tỷ đồng.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục thực hiện kế hoạch năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bao_cao_tinh_hinh_kinh_te_xa_hoi_6_thang_dau_nam_nhiem_vu_gi.pdf

