Báo cáo Đề tài Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục cho giảng dạy và học tập học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THƢƠNG MẠI  
------------o0o------------  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG  
Nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phƣơng pháp giáo dục  
cho giảng dạy và học tập học phần tƣ tƣởng Hồ Chí Minh  
Chủ nhiệm đề tài: Ngô Thị Huyền Trang  
Hà Nội, năm 2017  
MỤC LỤC  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN  
ĐỀ TÀI  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu  
Nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, Ngưꢁi đặc biệt quan tâm  
đến vấn đề giáo dục, coi đó là nhiệm vụ cơ bản, không thể tách rꢁi của cách mạng Việt  
Nam. Với triết lý đã trở thành niềm tin sâu sắc “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”,  
ngay từ những ngày đầu cách mạng, Hồ Chí Minh đã lên án “chính sách ngu dân” và  
“nền giáo dục nô lệ” của chính quyền thực dân áp dụng ở Việt Nam. Năm 1930, trong  
lꢁi kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, Ngưꢁi đã nêu khẩu hiệu  
“thực hành giáo dục toàn dân”, để ai cũng có được hưởng nền giáo dục dân chủ mới.  
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đꢁi của Nước Việt  
Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nền giáo dục Việt Nam  
mới. Ngưꢁi đã xác định đúng vai trò quan trọng của giáo dục trong việc đào tạo nguồn  
nhân lực phục vụ sự phát triển đất nước. Ngưꢁi đã xây dựng chương trình giáo dục  
thực sự khoa học, trong đó có sự kết hợp hài hòa giữa “đức” và “tài”. Đáng chú ý là  
Ngưꢁi đã đưa nền giáo dục Việt Nam mới đi theo phương pháp giáo dục mới: Lý luận  
gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trưꢁng phối hợp với gia đình và xã hội,  
nhằm mục đích đào tạo nên những công dân hữu ích cho đất nước. Hồ Chí minh không  
chỉ là vị lãnh tụ của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, Ngưꢁi còn  
là nhà chỉ đạo thực tiễn giáo dục nước nhà, là nhà sư phạm tài năng với mẫu mực trong  
sáng của một nhân cách vô cùng cao đẹp và những cử chỉ giáo dục hết sức nhân đạo,  
hết lòng vì ngưꢁi học. Di sản tư tưởng và thực tiễn chỉ đạo giáo dục của Ngưꢁi là kim  
chỉ nam cho việc thực hiện chiến lược giáo dục, phát triển con ngưꢁi của Đảng và Nhà  
nước ta.  
Khẳng định giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, Đảng ta chủ trương xây  
dựng một nền giáo dục thấm nhuần tính nhân dân, tính dân tộc và tính thꢁi đại, giữ gìn  
những giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại,  
phát huy tiềm năng con ngưꢁi Việt Nam. Một trong những giá trị văn hóa của dân tộc  
mà chúng ta cần phải kế thừa và phát huy về giáo dục, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về  
giáo dục nói chung và phương pháp giáo dục nói riêng.  
Nhận thức được tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ năm học 2003-  
2004, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương  
1
   
trình học bắt buộc của sinh viên các trưꢁng đại học và cao đẳng trong cả nước, cho đến  
nay đã đạt được những kết quả nhất định trong việc nâng cao nhận thức đối với tư  
tưởng Hồ Chí Minh cũng như vận dụng những tư tưởng của Ngưꢁi trong học tập và  
công tác. Tuy nhiên, chất lượng dạy và học còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân  
khách quan và chủ quan, trong đó quan trọng nhất là hạn chế trong phương pháp giảng  
dạy và học tập học phần này. Một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất  
lượng giảng dạy và học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là vận dụng chính những  
phương pháp giáo dục mà Ngưꢁi đã đề ra vào giảng dạy và học tập học phần Tư tưởng  
Hồ Chí Minh. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả chọn đề tài:  
“Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục cho giảng dạy và học  
tập học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh”.  
1.2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài  
- Mục đích: Đề tài nghiên cứu sâu hơn và có hệ thống hơn phương pháp giáo  
dục theo quan điểm Hồ Chí Minh, từ đố đề xuất những giải pháp đꢀi mới phương pháp  
giảng dạy và học tập học phần tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.  
- Đề tài có những nhiệm vụ sau:  
+ Xác định nguyên tắc xây dựng phương pháp giáo dục của Hồ Chí Minh; làm  
rõ quan điểm Hồ Chí Minh về những phương pháp giáo dục cụ thể; khẳng định giá trị  
của phương pháp giáo dục theo quan điểm Hồ Chí Minh đối với giáo dục Việt Nam  
hiện nay.  
+ Làm rõ sự cần thiết phải đꢀi mới phương pháp dạy và học môn tư tưởng Hồ  
Chí Minh hiện nay.  
+ Chỉ ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp để vận dụng quan điểm Hồ  
Chí Minh về phương giáo dục cho giảng dạy và học tập học phần Tư tưởng Hồ Chí  
Minh.  
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu  
+ Các quan điểm của Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục được thể hiện qua  
các bài nói, bài viết của Ngưꢁi đã được đưa vào Hồ Chí Minh toàn tập.  
+ Quá trình đꢀi mới phương pháp dạy và học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh  
- Phạm vi nghiên cứu:  
2
   
+ Trong đề tài này, tác giả không nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục  
nói chung mà chỉ tập trung nghiên cứu, trình bày một cách có hệ thống, đầy đủ và sâu  
sắc hơn quan điểm Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục.  
+ Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng phương pháp giảng dạy và học tập tư  
tưởng Hồ Chí Minh tại các trưꢁng đại học khối ngành kinh tế trên địa bàn thành phố  
Hà Nội trong năm 2016, 2017.  
1.4. Đóng góp mới và ý nghĩa của đề tài  
Đề tài có những đóng góp mới như sau:  
- Nghiên cứu sâu sắc hơn và có hệ thống hơn quan điểm Hồ Chí Minh về  
phương pháp giáo dục so với các công trình khoa học trước đó.  
- Từ việc nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục, đề tài  
đề xuất những giải pháp đꢀi mới phương pháp dạy và học học phần tư tưởng Hồ Chí  
Minh.  
Với đóng góp mới đó, đề tài có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn:  
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần làm sáng tỏ quan điểm Hồ Chí Minh về  
phương pháp giáo dục đã và đang được giới nghiên cứu tìm hiểu, tranh luận.  
- Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần vào việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh  
nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói riêng.  
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy các mộn khoa học khác  
như: Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Đưꢁng lối cách mạng của  
Đảng cộng sản Việt Nam.  
3
 
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC  
2.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài  
- Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả giáo dục đại học, đã có rất nhiều công trình  
nghiên cứu về phương pháp giáo dục đại học:  
+ Lê Đức Ngọc (2005): Giáo dục đại học: phương pháp dạy và học, Nxb. Đại  
học Quốc gia, Hà Nội. Tác giả dựa trên kinh nghiệm về phương pháp dạy và học của  
một số nước trên thế giới và của bản thân đã đưa ra các phương pháp dạy và học phù  
hợp với chương trình giáo dục đại học ở nước ta hiện nay.  
+ Nguyễn Quang Huỳnh (2006): Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp  
và đổi mới phương pháp dạy- học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. Tác giả trình bày  
một số vấn đề lý luận trong dạy- học ở các bậc giáo dục chuyên nghiệp như cao đẳng,  
đại học, từ đó đưa ra một số phương pháp chung giáo dục đối với bậc học này.  
- Từ năm 1991, với việc Đảng ta khẳng định vị trí, vai trò nền tảng tư tưởng,  
kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, giới nghiên cứu trong và ngoài nước đã đi  
sâu nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục  
nói chung và quan điểm Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục nói riêng đã được các  
nhà khoa học nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.  
+ GS. Nguyễn Lân trong cuốn “Hồ Chí Minh- nhà giáo dục vĩ đại” (Nxb. Khoa  
học xã hội, Hà Nội, 1990) tập hợp những chỉ thị, những lá thư, bài phát biểu của Chủ  
tịch Hồ Chí Minh với các vấn đề như: đấu tranh chống chính sách ngu dân của thực  
dân Pháp; tác dụng và nhiệm vụ của giáo dục; việc diệt giặc dốt; giáo dục thiếu nhi;  
giáo dục thanh niên; giáo dục cán bộ…  
+ Kỷ yếu Hội thảo khoa học- Thực tiễn nhân kỷ niệm 35 năm ngày Bác Hồ gửi  
bức thư cuối cùng cho ngành giáo dục Việt Nam (15/10/1968- 25/10/2003) “Chủ tịch  
Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục”- do Bảo tàng Hồ Chí Minh và đại học sư phạm  
Hà Nội phối hợp tꢀ chức, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2005. Kỷ yếu đã tập hợp nhiều  
bài viết, bài nghiên cứu về vấn đề giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh của các nhà  
khoa học như: GS viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn, Vũ Đình Hòe, GS. TS Phạm Minh Hạc,  
GS Đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mậu Hãn, GS Phan Ngọc Liên .v.v. Đặc biệt, bài viết  
của ThS Ngyễn Thanh Minh đề cập đến tư tưởng và phương pháp giáo dục của thầy  
giáo Nguyễn Tất Thành ở trưꢁng Dục Thanh, thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (tr  
144- 154).  
4
   
+ PGS. TS Nghiêm Đình Vỳ (2008), “Hồ Chí Minh về giáo dục- toàn thư”,  
Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, đã tập hợp những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ  
Chí Minh liên quan đến mọi lĩnh vực của công tác giáo dục, bao gồm: Giáo dục trong  
nhà trưꢁng cho thế hệ trẻ- từ xác định mục tiêu giáo dục, nội dung và phương pháp  
giáo dục đến những quan điểm lớn về xây dựng một nền giáo dục cách mạng, tiên tiến;  
giáo dục mọi công dân trên các lĩnh vực công tác, trong các tꢀ chức xã hội, đoàn thể  
khác nhau.  
+ Đặng Quốc Bảo (2009), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”, Nxb. Giáo  
dục, Hà Nội. Cuốn sách đã đề cập tới những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo  
dục, xây dựng nền giáo dục làm phát triển những năng lực sẵn có của học sinh Việt  
Nam, kế hoạch giáo dục gắn liền với kế hoạch kinh tế, giáo dục lòng nhân ái, phẩm  
cách con ngưꢁi Việt Nam. Tác giả cũng bàn về con đưꢁng, phương pháp và tấm gương  
lớn về tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  
+ Hoàng Anh (chủ biên- 2013) “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận  
dụng vào đào tạo đại học Việt Nam hiện nay”, Nxb. Chính trị quốc gia. Cuốn sách đã  
phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, khẳng định tầm quan trọng của  
việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc nâng cao chất lượng đào tạo  
đại học hiện nay và đề xuất một số giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo  
dục vào nâng cao chất lượng giáo dục đại học hiện nay.  
+ Bên cạnh những cuốn sách chuyên khảo đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo  
dục cũng được các luận văn, luận án nghiên cứu. Chẳng hạn như Luận văn Thạc sỹ  
triết học năm 2010: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào xây dựng xã  
hội học tập ở nước ta trong giai đọan hiện nay”, tác giả Hoàng Thị Tuyết Thanh trình  
bày một cách có hệ thống và khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí  
Minh về giáo dục .v.v.  
+ Các công trình công bố trên các tạp chí khoa học có: Vũ Ngọc Hải, “Hệ  
thống giáo dục quốc dân hướng tới xây dựng xã hôi học tập suốt đời ở nước ta”, Tạp  
chí Giáo dục, số 63- 2003; Võ Văn Lộc, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong học  
tập”, Tạp chí Giáo dục, số 57- 2003.  
Bàn về phương pháp giảng dạy học phần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại học Quốc  
gia Tp. Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tꢀ chức Hội thảo khoa học  
Quốc gia “Nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị trong  
5
các trường đại học, cao đẳng”. Các bài viết trong Kỷ yếu hội thảo đã đề cập đến  
những yếu tố tác động đến chất lượng giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị ở  
các trưꢁng đại học, cao đẳng trong bối cảnh đꢀi mới và hội nhập quốc tế; Thực trạng  
và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chất lượng giảng dạy, học tập lý  
luận chính trị ở các trưꢁng đại học, cao đẳng; Phương án biên soạn chương trình, giáo  
trình dùng cho đào tạo chuyên ngành lý luận chính trị trong đó có học phần Tư tưởng  
Hồ Chí Minh.  
Nhìn chung, những công trình trên, tác giả đã nêu lên một cách tꢀng quát về Tư  
tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục và phương pháp giáo dục, đã cho tác giả đề tài có  
cách nhìn toàn diện hơn về tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh, từ đó bắt đầu đi vào  
nghiên cứu sâu hơn quan điểm Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục. Thông qua các  
công trình nghiên cứu, khảo sát đã cung cấp cho tác giả một khối lượng tư liệu phong  
phú và quý giá. Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về một lĩnh vực cụ  
thể của giáo dục là phương pháp giáo dục và đặc biệt là vận dụng tư tưởng đó vào quá  
trình giảng dạy và học tập học phần tư tưởng Hồ Chí Minh thì tác giả chưa thấy một  
công trình nào thực hiện ở mức độ một đề tài khoa học.  
Kế thừa những thành quả mà các nhà khoa học đã đạt được, chúng tôi đi vào  
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục, làm rõ những luận cứ  
khoa học để từ đó rút ra ý nghĩa đối với việc giảng dạy và học tập học phần tư tưởng  
Hồ Chí Minh tại các trưꢁng đại học nước ta hiện nay.  
2.2. Các khái niệm cơ bản  
2.2.1. Giáo dục  
Giáo dục là một trong những lĩnh vực không thể thiếu của đꢁi sống xã hội. Sự  
phát triển của nền giáo dục phản ánh trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nó tỷ lệ  
thuận với sự phát triển kinh tế- xã hội của từng nước. Nhiều quốc gia trên thế giới coi  
phát triển giáo dục là chiến lược ưu tiên hàng đầu nhằm xây dựng đội ngũ lao động có  
trình độ tri thức phục vụ cho sự phát triển đất nước. Theo Từ điển Tiếng Việt, giáo dục  
được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh  
thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những  
phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra1. Các nhà giáo dục học quan niệm: Giáo dục  
là “quá trình tác động có mục đích, có hệ thống, liên tục của nhà sư phạm đến toàn bộ  
1 Trung tâm Từ điển học (2008): Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 492  
6
 
cuộc sống của học sinh để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách”1. Từ đó có  
thể thấy: Giáo dục là quá trình hai mặt: Mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp  
nhận của ngưꢁi được giáo dục. Giáo dục được thực hiện trong nhà trưꢁng và cả ngoài  
xã hội với những hình thức đa dạng và phương pháp phong phú. Giáo dục là quá trình  
có mục đích và xuất phát từ những yêu cầu của xã hội, từ mong muốn của các nhà giáo  
dục dẫn dắt thế hệ trẻ vươn tới chuẩn mực văn hóa đạo đức xã hội phù hợp với truyền  
thống dân tộc và thꢁi đại, tức là giáo dục có vai trò định hướng giá trị xã hội. Giáo dục  
là quá trình lâu dài, cần được thực hiện suốt đꢁi và ở mọi lúc, mọi nơi. Giáo dục luôn  
gắn với những đối tượng cụ thể do mỗi đối tượng có đặc điểm, thói quen và trình độ  
nhận thức khác nhau. giáo dục chịu ảnh hưởng của môi trưꢁng chính trị, xã hội, trình  
độ kinh tế, văn hóa, tập quán, thói quen của dân tộc, địa phương, gia đình, nhà trưꢁng,  
đoàn thể xã hội. Giáo dục gắn liền với tự giáo dục. Giáo dục chỉ có hiệu quả khi mỗi  
ngưꢁi tự ý thức được mục đích cuộc sống và tích cực hoạt động vì cuộc sống của  
mình. Giáo dục có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp, chủ yếu thông qua hoạt  
động dạy học. Giáo dục gắn liền với cuộc sống lao động sáng tạo, thông qua hoạt  
động, giao lưu xã hội của con ngưꢁi nên giáo dục cũng được thực hiện bằng con  
đưꢁng lao động, thông qua lao động để hình thành kỹ năng hoạt động sáng tạo.  
2.2.2. Phương pháp và phương pháp giáo dục  
Trong đꢁi sống, các hoạt động của con ngưꢁi đều mang tính mục đích. Để đạt  
được mục đích, con ngưꢁi cần có sự định hướng và điều chỉnh hoạt động của mình.  
Cách thức giúp con ngưꢁi định hướng và điều chỉnh hoạt động để đạt được một mục  
đích nhất định, đó là phương pháp.  
Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con  
đưꢁng, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì vậy, phương pháp  
là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp  
với mục đích đã định.  
Phương pháp là cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của tự nhiên và  
đꢁi sống xã hội, hay đó là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào  
đó2. Phương pháp do con ngưꢁi tìm kiếm, lựa chọn, sử dụng, do đó, nó mang tính chủ  
quan. Song, sự lựa chọn, tìm kiếm và sử dụng phương pháp của con ngưꢁi phải xuất  
phát từ cơ sở khách quan, tức là phương pháp không có mục đích tự thân mà bao giꢁ  
1 Phạm Viết Vượng (2007): Giáo dục học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 123  
2 Trung tâm Từ điển học (2008): Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 983  
7
cũng nhằm tác động vào những đối tượng, khách thể nhất định nhằm thực hiện mục  
tiêu đã đặt ra. Mặt khác, phương pháp còn mang tính khách quan, vì nó gắn với đối  
tượng, khách thể mà con ngưꢁi muốn tác động bằng hoạt động của mình (cả hoạt động  
nhận thức và hoạt động thực tiễn). Con ngưꢁi muốn tìm ra được phương pháp đúng  
đắn, thích hợp để tác động vào đối tượng một cách có hiệu quả thì cần phải hiểu rõ đối  
tượng, khách thể cần tác động với những quy luật khách quan quy định sự tồn tại và  
vận động của nó. Điều đó có nghĩa là để có một phương pháp đúng đắn, khoa học thì  
cần có sự phù hợp giữa hai mặt chủ quan và khách quan khi tìm kiếm, lựa chọn và sử  
dụng phương pháp. Phương pháp không đúng đắn, không khoa học khi nó được xác  
định không căn cứ trên những cơ sở thực tế khách quan, lựa chọn một cách duy ý chí  
và sử dụng một cách tùy tiện.  
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Phương pháp là toàn bộ những cách thức với  
tính chất là một hệ thống các nguyên tắc xuất phát từ các quy luật tồn tại và vận động  
của đối tượng, khách thể đã được nhận thức, để định hướng và điều chỉnh hoạt động  
(hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn) của con ngưꢁi, tác động vào đối tượng,  
khách thể để đạt được mục đích nhất định. Từ khái niệm trên ta thấy phương pháp có  
cấu trúc phức tạp, bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt  
động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành,  
phương tiện trí tuệ), quá trình làm biến đꢀi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp  
(mục đích đạt được). Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định.  
Nếu mục đích không đạt được thì có nghĩa là phương pháp không phù hợp với mục  
đích hoặc nó không được sử dụng đúng.  
Mỗi lĩnh vực hoạt động của đꢁi sống xã hội đều cần sử dụng những phương  
pháp phù hợp. Giáo dục cũng cần phải có phương pháp. Phương pháp giáo dục là  
“cách thức tác động qua lại giữa nhà giáo dục và ngưꢁi được giáo dục, trong đó nhà  
giáo dục giữ vai trò chủ đạo nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục đã đề ra”1.  
“Phương pháp giáo dục bao gồm một tꢀ hợp những cách thức phối hợp các tác động sư  
phạm của nhà giáo dục và tác động tự giáo dục của chủ thể được giáo dục nhằm tạo sự  
chuyển hóa tích cực những yếu tố của nội dung giáo dục thành những phẩm chất, năng  
lực cần thiết và phát triển toàn diện nhân cách phù hợp những yêu cầu của mục tiêu  
1 Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) (2008): Giáo trình giáo dục học, tập 2, Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, tr. 92  
8
giáo dục và các nhiệm vụ giáo dục”1. Theo quan điểm của các nhà giáo dục học, các  
phương pháp giáo dục được phân thành 3 nhóm:  
- Nhóm phương pháp thuyết phục: Gồm các phương pháp cụ thể: phương pháp  
khuyên giải; phương pháp tranh luận, đối thoại; nêu gương.  
- Nhóm các phương pháp tꢀ chức hoạt động: Bao gồm phương pháp luyện tập  
trong học tập, lao động, vui chơi và giao tiếp xã hội nhằm hình thành thói quen hành vi  
và hoạt động sáng tạo của ngưꢁi học; phương pháp đưa con ngưꢁi vào cuộc sống xã  
hội để hình thành các kỹ năng cần thiết.  
- Nhóm phương pháp kích thích hành vi: Bao gồm phương pháp khen thưởng,  
phương pháp trách phạt, phương pháp thi đua.  
Như vậy, phương pháp giáo dục là những cách thức để định hướng và điều  
chỉnh hoạt động giáo dục (bao gồm cả hoạt động dạy và học) của con ngưꢁi nhằm đạt  
được những mục đích đã đặt ra.  
2.2.3. Phương pháp Hồ Chí Minh  
Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn chú trọng  
đến phương pháp. GS.TS Hoàng Chí Bảo đánh giá: “Phương pháp Hồ Chí Minh là  
phương pháp ở tầm tư tưởng, ở trong triết lý nhân sinh và hành động của Ngưꢁi; ở sự  
gắn liền tính khoa học, tính cách mạng và nhân văn trong con ngưꢁi và hoạt động của  
Ngưꢁi”2. “Phương pháp Hồ Chí Minh là hệ thống chỉnh thể, thống nhất hữu cơ giữa  
phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy, phương pháp hành động”3. Thông  
thưꢁng, khi bàn về phương pháp Hồ Chí Minh, các tác giả thưꢁng đề cập nhiều đến  
phương pháp cách mạng. Song, trên thực tế, chúng ta thấy, Hồ Chí Minh quan tâm,  
chú trọng đến việc giải quyết các vấn đề của đꢁi sống xã hội: Từ giải phóng dân tộc  
đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục. Trong mỗi lĩnh vực đó, Ngưꢁi đều có  
những ý kiến, những quan điểm nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định. Do đó, ta  
có thể khẳng định sự tồn tại của quan điểm Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục.  
Quan điểm Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục chính là những ý kiến, những lꢁi  
chỉ bảo, hướng dẫn của Ngưꢁi về những cách thức nhằm định hướng cho nền giáo dục  
Việt Nam đạt tới mục tiêu đề ra.  
1 Trần Anh Tuấn (chủ biên) (2009): Giáo dục học đại cương, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 223  
2 Hoàng Chí Bảo (2005): Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, tr. 29  
3 Hoàng Chí Bảo (2005): Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, tr. 34  
9
2.3. Cơ sở hình thành quan điểm Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục  
2.3.1. Phương pháp giáo dục trong truyền thống giáo dục Việt Nam  
Gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành những nét nhân cách đầu  
tiên. Gia đình là một chủ thể tiêu biểu trong nền giáo dục phong kiến. Tất cả những lễ  
nghĩa, quy tắc, đức hạnh đều được các bậc cha mẹ chú ý dạy cho con cái ngay từ trong  
gia đình. Giáo dục gia đình đã trở thành nền nếp, truyền thống được lưu giữ qua nhiều  
thế hệ, góp phần hình thành truyền thống hiếu học của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh  
sinh ra trong một gia đình Nho học yêu nước, lại mang ảnh hưởng duy tân, coi trọng  
đạo lý, học vấn và coi trọng việc giáo dục con cái. Tuꢀi nhỏ, Nguyễn Sinh Cung đã  
được nuôi dưỡng trong môi trưꢁng giáo dục có nền nếp của gia đình. Trước khi được  
học trong nhà trưꢁng, Ngưꢁi đã được cha dạy cho những nét chữ đầu tiên. Nguyễn  
Sinh Sắc theo truyền thống gia đình, trong khi dạy chữ cho con đã chú trọng giáo dục  
lòng yêu nước, yêu thương con ngưꢁi, yêu nhân dân lao động. Mẹ Ngưꢁi là bà Hoàng  
Thị Loan là một ngưꢁi đôn hậu, đảm đang. Đối với các con, bà thưꢁng dạy những điều  
“đói cho sạch, rách cho thơm”, “có công mài sắt, có ngày nên kim” và những bài ca  
dao, điệu ví dặm mang nặng nghĩa tình nước non, thấm đượm đạo lý làm ngưꢁi. Tiếp  
nhận sự giáo dục tốt đẹp từ gia đình, Hồ Chí Minh đã noi gương hiếu học của ngưꢁi  
cha, thương yêu đồng bào, sớm hình thành chí hướng cách mạng, quyết tâm ra đi tìm  
đưꢁng cứu nước. Gia đình không những đã hình thành những nét nhân cách tốt đẹp ở  
Hồ Chí Minh mà còn để lại những dấu ấn trong tư tưởng giáo dục của Ngưꢁi sau này:  
Coi trọng việc giáo dục đạo đức, tấm gương cần cù, hiếu học, giáo dục lòng yêu nước,  
thương dân, v.v.  
Cùng với những ảnh hưởng tốt đẹp được tiếp nhận từ gia đình, Hồ Chí Minh  
còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của các sĩ phu, nhà nho yêu nước thuộc thế hệ cha ông tại  
quê nhà. Quê hương Hồ Chí Minh- xứ Nghệ- là mảnh đất có truyền thống hiếu học từ  
lâu. Truyền thống ấy đã đi vào sử sách, là nơi “núi cao sông rộng, phong tục thuần  
hậu, cảnh tượng tươi sáng. Ngưꢁi thì thuần hậu mà chăm học. Được khí tốt của núi  
sông nên sinh ra nhiều bậc danh hiền”1. Ảnh hưởng khá sâu sắc đến Hồ Chí Minh thꢁi  
còn trẻ là thầy Vương Thúc Quý, con trai của tú tài Vương Thúc Mậu, ngưꢁi thủ lĩnh  
đội Chung nghĩa binh dựng cꢁ Cần Vương chống giặc Pháp năm 1885, đã hy sinh  
ngay trên mảnh đất Kim Liên để bảo toàn khí tiết. Học với thầy Quý, ngoài phần chịu  
1 Phan Huy Chú (1961): Lịch triều hiến chương loại chí (dư địa chí, bản dịch), Nxb. Sử học, Hà Nội, tr. 65  
10  
 
ảnh hưởng về mặt tư tưởng yêu nước, tình cảm thương dân, Nguyễn Sinh Cung còn rất  
tâm đắc với tính thức thꢁi của thầy, không nệ cꢀ, không bắt học trò nhồi sọ cꢀ văn  
theo lối “tầm chương trích cú”. Truyền thống hiếu học của quê hương và tấm gương  
những ngưꢁi thầy dạy tại quê nhà đã ảnh hưởng đến Ngưꢁi cả về mặt tư tưởng, tình  
cảm và góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục sau này: Giáo dục lòng  
yêu nước, giáo dục truyền thống dân tộc, phương pháp giáo dục không lệ thuộc vào  
sách vở.  
Ở nước ta, sự học xuất hiện từ việc tiếp nhận chữ Hán và tư tưởng giáo dục của  
Khꢀng giáo. Hán học vào Việt Nam đánh dấu sự phát triển của nền giáo dục Việt  
Nam: Giáo dục có trưꢁng lớp, chủ thể. Hán học du nhập vào Việt Nam được hiểu theo  
hai phương diện: Học về nghĩa lý, tức là học chữ thánh hiền; học từ chương khoa cử,  
tức là học để ra làm quan. Theo quan niệm của dân tộc Việt, ngưꢁi đi học có ba mục  
đích: “Một là để hiểu biết cương thưꢁng đạo lí; hai là học để thi ra làm quan, mang tài  
ra kinh bang tế thế, làm tròn sứ mạng của kẻ sĩ đối với vua, với nước và cũng là để  
hưởng công danh lâu dài; ba là đối với dân quê, dù chân lấm tay bùn cũng cố gắng cho  
con đi học năm ba năm lấy cái chữ để biết đọc gia phả của dòng họ, biết viết văn tự  
mua bán nhà cửa, trâu bò để khỏi bị ngưꢁi khác lừa gạt”1. Giáo dục Việt Nam chú  
trọng đạo làm ngưꢁi, những phương cách cư xử trong đꢁi sống, trong quan hệ xã hội,  
gia đình, bè bạn, truyền thống “tôn sư trọng đạo”.  
Truyền thống giáo dục của dân tộc còn được thể hiện qua tư tưởng của một số  
nhà giáo dục tiêu biểu như: Nguyễn Trãi (1380 –1442): đề ra nội dung giáo dục: Đạo lí  
làm ngưꢁi, phép ứng xử, trong đó ông rất chú trọng đến đạo đức nhân dân. Lê Quý  
Đôn (1726 -1784): Đưa ra phương châm giáo dục là: Học nhiều nhưng phải nắm lấy  
cái chính, học phải có óc suy luận, không câu nệ vào sách vở; học phải hành, phải giúp  
con ngưꢁi có năng lực để làm những việc có ích cho xã hội; chú trọng việc tự học2.  
Nguyễn Trưꢁng Tộ (1828 –1871): Ông được coi là một trong những nhà cải cách lớn  
của Việt Nam. Về giáo dục, ông phê phán lối “tầm chương trích cú”, thuộc làu tứ thư  
ngũ kinh để thi ra làm quan. Về nội dung và mục đích giáo dục, ông nêu rõ: “Giáo dục  
cho nhân dân biết làm ăn, biết yêu quý lao động, trừ bỏ óc danh lợi địa vị, biết yêu  
nước, không nên lén lút làm tay sai cho giặc. Đối với những kẻ gian tà bất chính, nền  
1 Nguyễn Quyết Thắng (2005): Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nxb. Tꢀng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tr. 59-  
60  
2 Xem: Đào Thanh Hải, Minh Tiến (sưu tầm và tuyển chọn)(2005): Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb.  
Lao động, Hà Nội, tr.37  
11  
giáo dục mới phảo có tác dụng giúp họ quay về con đưꢁng chính nghĩa: việc sửa kẻ tà  
đem họ về con đưꢁng chính, đó là một việc đại sự, còn cái học nào hơn, sao ta không  
học”1. Ông cũng đưa ra phương châm học gắn liền với hành, học thực dụng, học khoa  
học, học để phục vụ thực tế. Về nội dung giáo dục, ông chủ trương giáo dục thiên văn,  
toán học, kỹ xảo, chính trị, lịch sử, địa lý, địa chất, pháp lý, ngoại ngữ. Ông còn đề  
nghị dùng chữ viết riêng của nước mình (quốc âm) trong việc dạy học, làm sách và các  
giấy tꢁ2.  
Dưới thꢁi Pháp thuộc, để thực hiện chính sách ngu dân hòng dễ bề cai trị, chính  
quyền thực dân Pháp tiếp tục duy trì chế độ học tập và thi cử bằng chữ Hán (đến năm  
1919 mới bãi bỏ). Về sau, do yêu cầu của việc cai trị, khai thác thuộc địa, cần phải có  
một lực lượng có trình độ về khoa học kỹ thuật, ngôn ngữ, y học... nên ngưꢁi Pháp đã  
dần đưa vào nước ta nền giáo dục hiện đại của phương Tây để thay thế Nho học.  
Ngưꢁi Pháp đã dùng tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán. Nền giáo dục này  
(được gọi là tân học) dựa trên triết lý của tư tưởng khai sáng trong nền văn minh công  
nghiệp, với các tư tưởng về nhân quyền và dân quyền, về dân chủ với nhà nước pháp  
quyền. Thực dân Pháp đã mở một số trưꢁng tiểu học Pháp- Việt cho một số tỉnh, sau  
đó là trung học đệ nhất với một vài trưꢁng ở các thành phố lớn, tiếp đó, mở một vài  
trưꢁng cao đẳng, đại học.  
Khách quan đánh giá, mặc dù phát triển chậm chạp trong một xã hội thuộc địa  
nửa phong kiến, khi mà sự cai trị của chính quyền thực dân luôn trái ngược với các  
triết lý cao quý trên, nền giáo dục ở Việt Nam thꢁi kỳ này vẫn có những điểm sáng.  
Nhiều vị giáo sư chân chính ngưꢁi Pháp đã đem ánh sáng của triết học khai minh tiên  
tiến vào nền giáo dục còn lạc hậu của nước ta, khiến cho các nhà nho cấp tiến dần dần  
thức tỉnh, vượt qua được mặc cảm kỳ thị, bước đầu hướng theo nền giáo dục tiên tiến  
của phương Tây. Điển hình là phong trào Duy Tân và sự ra đꢁi của trưꢁng Đông Kinh  
Nghĩa Thục. Phan Châu Trinh đã đưa ra chủ trương nâng cao dân trí, dân khí, dân  
quyền; phê phán “hư học”, cꢀ động cho “thực học, thực nghiệp”, bỏ chữ Hán thay  
bằng chữ Quốc ngữ, coi trọng việc học nghề chuyên môn (kể cả nghề buôn bán) hơn là  
đọc kinh sách “thánh hiền” một cách máy móc. Chính sự chuyển biến về triết lý giáo  
dục đó trong xã hội Việt Nam đương thꢁi mà chúng ta đã đào tạo được một tầng lớp trí  
1 Đặng Huy Vận, Chương Thâu (1961): Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX, Hà Nội,  
tr. 105.  
2 Đào Thanh Hải, Minh Tiến, sdd, tr. 40-41.  
12  
thức tinh hoa, phù hợp với thꢁi đại văn minh công nghiệp. Trong đó, có cả những nhà  
yêu nước, chiến đấu chống thực dân Pháp, hy sinh vì độc lập, tự do của Tꢀ quốc.  
Những tư tưởng tiến bộ về giáo dục của Phan Chu Trinh đã được các sỹ phu  
yêu nước hưởng ứng và phát triển mạnh mẽ, Liên Thành Thư và Trưꢁng Dục Thanh  
đã được mở ra để phát triển kinh tế và “khai dân trí”. Chính Nguyễn Tất Thành, trong  
thꢁi gian làm trợ giảng tại Trưꢁng Dục Thanh đã đọc được những sách tân thư và đã  
nhận thức được con đưꢁng đi của mình: Phải đi sang phương Tây xem họ làm thế nào  
rồi trở về giúp đồng bào. Tuy nhiên, trưꢁng Đông Kinh Nghĩa Thục nhanh chóng bị  
thực dân Pháp đóng cửa, phong trào Duy Tân bị đàn áp, các nhà lãnh đạo Phong trào  
bị bắt đày ra Côn Đảo, vì thế triết lý giáo dục mới chưa có điều kiện phát triển. Mặc dù  
vậy, những nhân tố tiến bộ của nó đã được kế thừa và phát triển sau này khi phong trào  
truyền bá chữ Quốc ngữ phát triển mạnh. Đây cũng là yếu tố quan trọng trong việc  
hình thành triết lý giáo dục Hồ Chí Minh sau này.  
Truyền thống giáo dục của dân tộc đã góp phần quan trọng trong việc hình  
thành tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh. Ngưꢁi đã kế thừa những tinh hoa trong truyền  
thống giáo dục dân tộc cả về mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục để hình thành  
hệ thống tư tưởng riêng của mình về giáo dục.  
2.3.2. Tiếp thu những yếu tố hợp lý về phương pháp trong triết lý giáo dục  
phương Đông  
Trong các học thuyết tư tưởng phương Đông ảnh hưởng tới sự hình thành quan  
điểm Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục, đặc biệt phải kể đến tư tưởng giáo dục  
của Nho giáo. Ngay từ nhỏ, Ngưꢁi đã được hấp thụ vốn tri thức Nho học phong phú từ  
các bậc cha chú– những nhà Nho yêu nước thương dân. Ngưꢁi nói: “Tôi sinh ra trong  
một gia đình nhà nho An Nam. Những gia đình như thế ở nước chúng tôi không phải  
làm việc gì. Thanh niên trong những gia đình ấy thưꢁng học Khꢀng giáo”1. Cái học  
của Nho giáo thiên về đào tạo những hiền nhân, hiền giả thông thuộc kinh sử, thuộc và  
am hiểu các điển tích lịch sử. Khꢀng Tử- ngưꢁi sáng lập Nho giáo- là một nhà giáo  
dục tiêu biểu. Ông cho rằng, môi trưꢁng xã hội có tác động to lớn đối với việc hình  
thành và thay đꢀi tính ngưꢁi. Bản tính con ngưꢁi, thoạt tiên khi được sinh ra thì cũng  
gần giống nhau, nhưng do tập nhiễm xã hội mà thành ra khác nhau: “Tính tương cận  
1 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 461  
13  
dã, tập tương viễn dã”1 (tính ngưꢁi không phải là bẩm sinh mà là khả biến, bản tính  
con ngưꢁi được hình thành dưới ảnh hưởng của môi trưꢁng và giáo dục). Kế thừa tư  
tưởng của Khꢀng Tử, Hồ Chí Minh quan niệm: “Thiện, ác nguyên lai vô định tính/ Đa  
do giáo dục đích nguyên nhân”2 (Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục  
mà nên)  
Khꢀng Tử là ngưꢁi đầu tiên trong lịch sử nhân loại nêu lên chủ trương giáo dục  
không phân biệt chủng loại, giàu nghèo, sang hèn, thiện ác. Tư tưởng “hữu giáo vô  
loại”3 của Khꢀng Tử thể hiện tính chất tiến bộ trong điều kiện xã hội phân chia đẳng  
cấp rõ rệt khi đó. Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ  
trương phát động “Bình dân học vụ” để xóa mù chữ, mở mang tri thức cho tất cả mọi  
ngưꢁi. Điểm đặc biệt là nếu như trong Nho giáo, phụ nữ là đối tượng không được  
hưởng giáo dục thì Hồ Chí Minh quan niệm phụ nữ là phân nửa xã hội cho nên phụ nữ  
cũng cần được học tập như nam giới để tỏ rõ vai trò trong xã hội. Khꢀng Tử chú trọng  
giáo dục học trò hành vi đạo đức, ý thức trách nhiệm đối với quốc gia, đối với vua, với  
cha mẹ, với anh em, bạn bè. Điều này cũng phù hợp với nội dung giáo dục trong tư  
tưởng Hồ Chí Minh.  
Về nguyên tắc và phương pháp giáo dục, theo Khꢀng Tử, đối với việc học,  
trước tiên phải lập chí; ông còn chỉ ra thái độ thực hiện chí hướng của ngưꢁi học phải  
có tinh thần chủ động, tích cực, khiêm tốn, cầu thị tiến bộ, không lo ngưꢁi không biết  
mình mà chỉ lo mình không có tài đức, học vấn để ngưꢁi ta biết4. Chính vì lập chí là  
rất quan trọng nên Khꢀng Tử đã lựa chọn con đưꢁng tự học và thực hành đạo lý, gợi  
mở giáo dục học trò, cùng các môn đệ bàn về chí hướng để dẫn dắt họ tạo dựng nên  
một lý tưởng cao đẹp, nỗ lực phấn đấu vì một xã hội bình trị. Khꢀng Tử giảng dạy và  
giáo dục học trò không áp đặt bừa bãi, cứng nhắc, không rập khuôn, sáo rỗng. Ông  
khuyến khích học trò phát huy sở trưꢁng, sở đoản, ý thích và khả năng của từng ngưꢁi  
bằng cách luôn căn cứ vào tình hình thực tế, hoàn cảnh cụ thể và vấn đề ngưꢁi học  
quan tâm mà đưa ra những nội dung giáo dục phù hợp. Đây là một nguyên tắc giáo  
dục điển hình thể hiện một số khía cạnh cơ bản của nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức  
trong giáo dục. Khꢀng Tử đã nêu lên một câu có tính chất khái quát về nguyên tắc giáo  
1 Phan Văn Các (chú dịch)(2002): Luận ngữ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.38  
2
Hồ Chí Minh (2011): Sdd, tập 3, tr. 413  
3 Phan Văn Các: Sdd, tr. 38  
4 Phan Văn Các: Sdd, tr. 32  
14  
dục này như sau: “Từ ngưꢁi có trí lực bậc trung trở lên thì có thể bảo cho những đạo lý  
cao siêu. Từ ngưꢁi có trí lực bậc trung trở xuống thì không thể giảng những đạo lý cao  
siêu”1. Luận điểm này đã nêu lên tầm quan trọng trong việc nắm bắt trình độ của đối  
tượng giáo dục để ngưꢁi dạy chủ động sáng tạo và có những phương pháp truyền thụ  
thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong giáo dục. Khꢀng Tử đã tiến hành giáo dục  
học trò theo phương pháp học gắn liền với tập, học đi đôi với hành và ông đã sử dụng  
phương pháp đàm thoại, gợi mở, nêu gương trong dạy học. Ông đã nêu lên tư tưởng về  
quan hệ giữa học và tập: “Học mà thưꢁng xuyên thực tập, chẳng cũng vui sao?”2. Ông  
nói: “Nếu đọc thuộc ba trăm thiên Kinh Thi, mà trao quyền chính cho, không làm  
được thông suốt; đi sứ bốn phương không ứng đối nꢀi, thì dẫu học nhiều mà làm gì?”3.  
Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Học để hành: học với hành phải đi đôi. Học mà không  
hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”4.  
Khꢀng Tử coi trọng phương pháp nêu gương trong giáo dục. Khꢀng Tử thưꢁng  
lấy những nhân cách lớn làm gương giáo dục học trò và từ trong cử chỉ, hành động,  
việc làm của mình để ảnh hưởng tới học trò. Hồ Chí Minh sớm nhận ra rằng đối với  
các dân tộc phương Đông thì “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài  
diễn văn tuyên truyền”5, cho nên trong phương pháp giáo dục, Ngưꢁi lưu ý: “Dạy các  
cháu thì nói với các cháu chỉ là một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho  
nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng”6. Về tinh thần hiếu học, Hồ Chí Minh  
quan niệm rằng: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đꢁi... Không ai có thể tự cho  
mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi”7. Ngưꢁi nói: “Khẩu hiệu “Học không biết chán, dạy  
không biết mỏi” treo trong phòng họp chính là của Khꢀng Tử. Tuy Khꢀng Tử là phong  
kiến và trong học thuyết của Khꢀng Tử có những điểm không đúng, song những điều  
hay trong đó thì chúng ta nên học”8. Như vậy, có thể thấy tưởng giáo dục Nho giáo có  
ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh cả về mục  
đích, nội dung và phương pháp giáo dục.  
1 Phan Văn Các: Sdd, tr.19  
2 Phan Văn Các: Sdd, tr.1  
3 Phan Văn Các: Sdd, tr. 5  
4 Hồ Chí Minh: Sdd,t. 6, tr.361  
5 Hồ Chí Minh: Sdd,t.1, tr. 284  
6 Hồ Chí Minh: Sdd,t. 12, tr. 77- 78  
7 Hồ Chí Minh: Sdd,t. 10, tr. 377  
8 Hồ Chí Minh: Sdd,t. 6, tr. 356  
15  
2.3.3. Tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của phương pháp giáo dục phương Tây  
Thꢁi kỳ phong kiến ở phương Tây, Vương quyền (nhà vua) và thần quyền (giáo  
hội) đã dựa vào nhau và câu kết chặt chẽ để thống trị nhân dân, đồng thꢁi cũng là rào  
cản lớn nhất cho giáo dục phát triển. Chủ nghĩa nhân văn trong thꢁi kỳ văn hóa phục  
hưng là cơ sở cho việc nở rộ những thành tựu khoa học và giáo dục. Giáo dục đã tách  
khỏi nhà thꢁ khi nội dung học tập là các môn khoa học, thầy giáo là những nhà khoa  
học và nhà sư phạm chứ không phải là các thầy tu như trước. Các nhà giáo dục đã  
giảng dạy cho học trò và lý giải các vấn đề chuyên môn một cách khoa học, không bị  
ràng buộc bởi giáo lý tôn giáo. Nội dung dạy học trong các trưꢁng ngoài các môn khoa  
học xã hội nhân văn như văn học, hùng biện, triết học... còn có cả các môn khoa học tự  
nhiên như toán, lý, kỹ thuật và đặc biệt rất chú trọng đến phương pháp quan sát, thí  
nghiệm, thực hành trong dạy học. Đây là một chương trình giáo dục rất bao quát với  
triết lý thực dụng: dạy học phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, như tuyên  
bố của Thomas More: Thực thi một chế độ giáo dục mới, tiến bộ để thay thế cho trật tự  
đương thꢁi của chế độ phong kiến về giáo dục.  
Trên cơ sở những tư tưởng nhân văn thꢁi Phục hưng, chủ nghĩa khai sáng, giáo  
dục cận đại châu Âu chủ trương giải phóng con ngưꢁi. Họ đề cao lý luận sư phạm, tôn  
trọng nhân cách của học sinh, đặc biệt là nội dung giáo dục con ngưꢁi được chú trọng  
nhiều mặt: từ đức dục, trí dục, thể dục là những phẩm chất và năng lực cần có của  
ngưꢁi lao động trong một nền công nghiệp hiện đại.  
Mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cho trẻ em kiến thức, mà dạy cho trẻ  
biết làm thế nào để có kiến thức. “Vấn đề là chỉ ra cho nó cần làm thế nào để luôn  
khám phá ra sự thật hơn là bảo cho nó biết một sự thật”1. Trong cuốn sách Émile hay  
là bàn về Giáo dục, Rousseau muốn đứa trẻ phải tự học hỏi, phải tự sử dụng lý trí của  
nó chứ không phải sử dụng lý trí của ngưꢁi khác; ông không dạy đứa trẻ khoa học mà  
dạy nó “tiếp thu khoa học theo nhu cầu”2. Ông mong muốn đứa trẻ có một đầu óc “phꢀ  
quát”, cởi mở, thông minh, sẵn sàng cho tất cả.  
Mục tiêu của giáo dục là dạy đứa trẻ làm ngưꢁi tự do chứ không đào tạo đứa trẻ  
thành ông này bà khác trong xã hội, hay làm công dân của một chế độ nào đó nhất  
định. Con ngưꢁi tự do là con ngưꢁi khi tư duy, khi hành động không bị ràng buộc bởi  
1 Jean- Jacques Rousseau (Lê Hồng Sâm, Trần Quốc Dương dịch) (2010): Émile hay là bàn về giáo dục, Nxb.  
Tri thức, Hà Nội, tr. 273  
2 Jean- Jacques Rousseau: Sdd, tr. 276  
16  
vật chất, thành kiến hay dư luận, không bị những đam mê nhục dục khống chế. Tức là  
con ngưꢁi trưởng thành và độc lập trong tư duy trong phán đoán, biết sử dụng lý trí  
của mình để suy xét, quyết định và hành động một cách hợp lẽ trong sự tôn trọng “tự  
nhiên” và sự thật, tôn trọng ngưꢁi khác chứ không chịu lụy thuộc bất cứ thứ gì.  
Con ngưꢁi tự do không “phục tùng luồn cúi của một nô lệ”, cũng không có  
“giọng điệu hách dịch của một chủ nhân”1 kiểu thượng đội hạ đạp. Là con ngưꢁi luôn  
sống và tỏ ra chính là mình, không hào nhoáng bên ngoài, không thêm không bớt.  
Giáo dục cũng phải tạo ra con ngưꢁi có đạo đức, biết rung cảm, biết thương xót,  
có lòng trắc ẩn. Giáo dục phải dạy cho học sinh làm những việc tốt, không chỉ là việc  
bỏ một số tiền túi ra bố thí cho những ngưꢁi nghèo khó mà bằng sự chăm sóc đối với  
họ, dạy cho học sinh lấy lợi ích của họ làm lợi ích của mình, phục vụ họ, bảo vệ họ,  
dành cho họ cả con ngưꢁi và thì giꢁ.  
Phương pháp là tự học: “chắc chắn là ngưꢁi ta rút ra được những khái niệm rõ  
ràng hơn nhiều và vững vàng hơn nhiều từ những sự vật mà ta tự học hiểu lấy như vậy,  
hơn là từ những sự vật được ngưꢁi khác giáo huấn; và, ngoài việc ta không hề làm cho  
lý trí mình quen phục tùng một cách nô lệ trước uy quyền, ta còn khiến mình thành  
giỏi giang hơn trong việc tìm ra các quan hệ, kết nối các ý tưởng, sáng chế các dụng  
cụ, so với trưꢁng hợp ta tiếp nhận tất cả những điều này y như ngưꢁi ta đem lại cho  
mình, và để đầu óc mình tiêu trầm trong trạng thái uể oải”2.  
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển  
đến đỉnh cao, thì các nền giáo dục phương Tây lại một lần nữa đề ra những yêu cầu  
mới cho giáo dục. Nền “giáo dục mới”, “nhà trưꢁng mới” là những thuật ngữ được nêu  
ra trong thꢁi gian này. Ngưꢁi ta đã giành cho giáo dục những gì tốt nhất với những nội  
dung hết sức thực tế là chuẩn bị cho ngưꢁi lao động vốn tri thức và kỹ năng tối thiểu  
nhằm đem lại năng suất lao động và lợi nhuận cao nhất cho nhà tư bản. Đã xuất hiện  
nhiều tư tưởng mới về giáo dục như: “Nhà trưꢁng mới" của Reddie (Anh); “Nền giáo  
dục công dân” và “Nhà trưꢁng lao động” của Kerschensteiner (Đức); “Giáo dục thực  
nghiệm” của Alfred Binet (Pháp); “Giáo dục thực dụng” của John Dewey, James (Mỹ).  
Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của giáo dục phương Tây để  
đưa ra những quan điểm của mình về một nền giáo dục dân chủ mới ở Việt Nam, ở đó,  
giáo dục quan tâm, phát huy năng lực của ngưꢁi học, hướng đến xây dựng nên những  
1 Jean- Jacques Rousseau: Sdd, tr. 206  
2 Jean- Jacques Rousseau: Sdd, tr. 230  
17  
con ngưꢁi có đủ cả đức, trí, thể, mĩ; có năng lực tꢀ chức và làm chủ cuộc sống của  
chính bản thân.  
2.3.4. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phương pháp giáo dục  
Các nhà kinh điển mácxít thống nhất với nhau khi đề ra những nguyên lý,  
phương pháp, hình thức và nội dung giáo dục. Theo đó, các ông đều khẳng định dạy  
học phải lấy ngưꢁi học làm trung tâm; dạy học phải phát huy tối đa tính độc lập, sáng  
tạo và tích cực của ngưꢁi học; giáo dục phải kết hợp với tự giáo dục; đa dạng hoá các  
hình thức trong giáo dục; học tập thưꢁng xuyên và học tập suốt đꢁi. Các nhà mácxít  
chỉ rõ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo học đi đôi với hành, lý luận gắn liền  
với thực tiễn, giáo dục gắn liền với lao động, sản xuất, đảm bảo sự kết hợp giữa nhà  
trưꢁng, gia đình và xã hội trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục. Trong đó,  
phương pháp giáo dục phải tꢀng hợp các phương pháp dạy và học. Dạy phải đảm bảo  
đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp; kết hợp giữa học tập với vui chơi.  
Phương pháp dạy học trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa phải linh động cho từng đối  
tượng của ngưꢁi học dựa theo lứa tuꢀi, cấp học, bậc học của từng học sinh. Phương  
pháp dạy học này hoàn toàn khác với phương pháp “nhồi sọ” của nền giáo dục phong  
kiến, nền giáo dục tư bản chủ nghĩa. Để đạt được những yêu cầu của nền giáo dục mới  
này, hình thức giáo dục phải được thay đꢀi tương xứng. Việc dạy và học phải kết hợp  
nhuần nhuyễn cả hình thức truyền thống lẫn hình thức hiện đại, theo đó, dạy và học  
không chỉ diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi: Học ở trưꢁng, học ở sách vở, học tập lẫn nhau,  
học tập ở nhân dân, trong lao động v.v. Trên tinh thần đó, các nhà sáng lập chủ nghĩa  
Mác đã đưa ra nội dung của nền giáo dục toàn diện là phải bao gồm: Đức dục, trí dục,  
thể dục và mỹ dục. Các ông đặc biệt quan tâm đến giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đạo  
đức cách mạng, giáo dục lý luận chính trị cho giai cấp công nhân và nhân dân lao  
động.  
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển các quan điểm của  
chủ nghĩa Mác- Lênin về giáo dục vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Với tinh thần đó,  
Ngưꢁi chủ trương xây dựng những con ngưꢁi phát triển toàn diện. Muốn đạt được mục  
tiêu này, nội dung giáo dục phải đảm bảo tính dântộc, tính quần chúng và tính hiện đại.  
Trong đó, Ngưꢁi đặc biệt chú trọng đến giáo dục- đào tạo trên cả hai mặt “đức” và  
“tài”, lấy “đức” làm cơ sở vững chắc cho tài năng phát triển. Dưới ánh sáng tư tưởng  
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, trong đó có quan điểm Hồ Chí Minh  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 96 trang yennguyen 21240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục cho giảng dạy và học tập học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_nghien_cuu_tu_tuong_ho_chi_minh_ve_phuong_pha.pdf