Báo cáo Chuyên đề: Bê tông xỉ thép

Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
MỤC LỤC  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 1  
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
GIỚI THIỆU CHUNG  
Ở Việt Nam hiện nay, nguồn vật liệu có nguồn gốc tự nhiên (như cát, đá) đang  
ngày một khan hiếm dần, xỉ thép lại có nhiều tính chất cơ lý tương tự như đá nghiền,  
nên việc nghiên cứu ứng dụng xỉ thép thành vật liệu thay thế dùng cho các công trình  
xây đựng giao thông là một vấn đề cần sớm được giải quyết.  
Mục đích của chuyên đề là nghiên cứu thay thế xỉ thép cho cốt liệu đá trong bê  
tông xi măng để xem xét so sánh cường độ của bê tông xỉ thép và bê tông xi măng.  
Thông qua đó, so sánh cường độ của bê tông xỉ thép với chỉ tiêu cường độ của bê tông  
xi măng hiện tại. Nó sẽ là cơ sở vững chắc, góp phần giúp cho việc nghiên cứu ứng  
dụng xỉ thép thay thế cho các vật liệu khác dùng trong các công trình giao thông được  
giải quyết triệt để hơn.  
Báo cáo gồm các chương chính như sau:  
- Chương I: Tổng quan về xỉ thép  
- Chương II: Các chỉ tiêu cơ lí về BTXM cốt liệu Xỉ thép thay đá  
- Chương III: Kết luận.  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 2  
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ XỈ THÉP:  
I.1: Xỉ thép là gì:  
- Xỉ là phế thải trong công nghiệp luyện kim, làm phế phẩm trong quá trình sản  
xuất kim loại từ quặng sắt hay quá trình tinh chế kim loại không nguyên chất.  
Trong quặng sắt thường có lẫn những tạp chất sét và cát nên khi sản xuất người ta  
thường cho vào cùng với quặng sắt một hàm lượng đá vôi thích hợp nhất định vào  
lò nung;  
Hình1.1: Đá núi lửa và xỉ thép  
- Ở nước ta, theo ước tính có khoảng 1-1,5 triệu tấn xỉ thép thải ra mỗi năm từ các  
nhà máy sản xuất thép lớn. Các bãi chất thải rắn này chiếm chỗ trên diện tích đất rất lớn  
và dẫn đến tác động môi trường nghiêm trọng với hàm lượng bụi lớn và rỉ sét, kim loại  
nặng. Vì vậy, việc tái chế xỉ thép được đánh giá là thực sự cần thiết để đáp ứng đồng  
thời mục tiêu về kinh tế lẫn môi trường. Để tái chế ở quy mô lớn, xỉ thép có thể được  
sử dụng như chất độn xi- măng hoặc cốt liệu san lấp nền hay cốt liệu cho bê- tông nhựa  
đường. Cốt liệu xỉ thép làm san lấp nền giúp cải thiện cơ tính và tính bền nhờ phản ứng  
kết dính khi gặp nước, bùn. Tuy nhiên nhìn chung trong số các trường hợp ứng dụng  
thực tế hiện nay đều không tận dụng hết các tính chất của xỉ từ quan điểm khoa học vật  
liệu.  
Hơn 90% lượng xỉ vẫn đang đổ đống trong bãi thải tại chỗ trong các nhà máy hay  
chôn lấp sâu.  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 3  
   
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
Hình1.2: Hàng tấn xỉ thép đổ đi mỗi năm  
I.2: Các dạng Xỉ thép:  
- Xỉ được làm lạnh chậm bằng không khí, chất nấu chảy dần chuyển sang màu  
xám, kết tinh và tạo dạng cục, tảng lớn. Cấu trúc xỉ rất đặc sít.  
- Khi làm lạnh nhanh hơn có kèm theo một lượng nước có hạn, sau đó hơi nước bị  
thu hồi lại, để lại các lỗ rỗng, rỗ tổ ong trong cấu trúc xỉ, gần tương tự như đá bọt.  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 4  
 
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
I.3: Quy trình sản xuất xỉ thép lò điện hồ quang:  
- Theo các báo cáo nghiên cứu khoa học về xỉ thép lò điện hồ quang (Heribert  
Motz Fehs, 2010), không có loại vật liệu nào có thành phần khoáng giống với lớp vỏ  
trái đất nhất như xỉ thép. Do đó, sau khi tiến hành một số giải pháp kỹ thuật đẩy nhanh  
quá trình lão hóa (ageing) xỉ thép như: kỹ thuật phun nước nóng ở nhiệt độ 100OC, hấp  
hơi hoặc để ngoài trời tự nhiên, xỉ thép sẽ trở thành vật liệu có ích sử dụng cho xây  
dựng, làm đường, xử lý chất thải, nông nghiệp,… và được xem là “đá nhân tạo”.  
- Sản phẩm xỉ thép sau khi được xử lý và phân loại được xem là đá nhân tạo với  
nhiều kích thước khác nhau, phục vụ cho các mục đích khác nhau.  
- Nhà máy sử dụng công nghệ S3R (Stainless Steel Scrap Recovery) của Hofung  
Technology Co., Ltd (China), RecCo BV (Hà Lan) và Evergoed NV (Hà Lan). Công  
nghệ này chủ yếu tách sắt trong xỉ thép có chứa nhiều sắt.  
- Công nghệ luyện thép bằng lò điện hồ quang sử dụng nguyên liệu đầu vào là sắt,  
thép phế liệu để luyện thép. Để tách các tạp chất có trong thép phế liệu đầu vào, sử  
dụng vôi và một số chất trợ dung đưa vào lò luyện, Trong quá trình nung, giữa quặng  
sắt và đá vôi có phản ứng tạo thành các hợp chất silicat canxi, silicat alumin và silicat  
aluminate canxi magie. Xỉ thép được nấu chảy ở nhiệt độ 1400 – 16000C. Ở nhiệt độ  
này, các hợp chất nóng chảy hoàn toàn. Khối lượng riêng của các hợp chất nóng chảy  
này nhỏ hơn so với gang nên nổi lên trên. Người ta tháo ra ngoài và gọi là xỉ. Sản phẩm  
xỉ thép có các dạng khác nhau, phụ thuộc vào quá trình nung luyện và chế độ làm lạnh  
sau khi nấu chảy xỉ sẽ nổi lên trên, thép lỏng nằm ở lớp phía dưới. Lớp xỉ được tháo ra  
khỏi lò, được làm nguội và chuyển sang trạng thái rắn. Khi nguội, xỉ được đưa tới bãi  
chứa và chuyển đến nhà máy xử lý, tái chế thành các sản phẩm có ích, phần thép trong  
lò được đúc thành phôi.  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 5  
 
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
Hình1.3: Quy trình sản xuất xỉ thép lò điện hồ quang  
I.4: Các thành phần có trong xỉ thép:  
- Thành phần hóa học của xỉ thép:  
-
Bảng 1.1: Thành phần hóa học của xỉ thép.  
STT  
1
Chỉ tiêu  
SiO2  
Kết quả (%)  
16.3  
2
Al2O3  
Fe2O3  
CaO  
6.07  
3
39.2  
4
28.9  
5
MgO  
SO3  
1.68  
6
0.723  
0.62  
7
P2O5  
TiO2  
Cr2O3  
MnO  
ZnO  
8
1.02  
9
1.34  
10  
11  
12  
4.02  
0.323  
0.0781  
SrO  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 6  
 
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
- So sánh tính chất cơ lí của xỉ thép với đá dăm  
Bảng 1.2: So sánh tính chất cơ lí của xỉ thép với đá dăm.  
Các tính chất  
Các tính chất vật lý  
Khối lượng riêng (g/cm3)  
Độ hút nước (%)  
Hàm lượng bụi bùn sét (%)  
Độ mài mòn (%)  
Thành phân hóa học  
CaCO3  
Đá vôi dăm  
Xỉ sắt  
2.54  
2.20  
0.65  
24.2  
3.51  
0.85  
0.12  
11.6  
95.0  
5.0  
10.0  
1.0  
SiO2  
Fe2O3  
0.0  
89.0  
I.5: Các tính chất cơ học của xỉ thép:  
- Xỉ thép có tính chất cơ học rất tốt do cấu trúc tinh thể đặc biệt, được so sánh  
tương tự hoặc tốt hơn so với cấu trúc của đá tự nhiên.  
- Xỉ thép có những ưu điểm sau:  
+ Nặng hơn so với hầu hết cốt liệu tự nhiên;  
+ Độ ma sát tốt hơn so với bê tông asphalt;  
+ Độ bền cao và chịu đựng tốt trong điều kiện thời tiết xấu.  
+ Thành phần chủ yếu là các khoáng chất tương tự như thành phần của xi  
măng.  
- Thay thế các loại vật liệu có nguồn gốc tự nhiên nhằm hạn chế khai thác tài  
nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng.  
I.6: Ứng dụng của xỉ thép:  
- Xỉ thép nếu đã qua quá trình xử lý, tái chế, sẽ cho ra các sản phẩm thay thế cho  
các vật liệu tự nhiên để làm đường bê tông asphalt, làm vật liệu trải đường hoặc làm  
móng các công trình giao thông;  
- Làm cốt liệu cho đổ bê tông làm nền nhà xưởng, kho bãi;  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 7  
   
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
- Xỉ thép thay thế cho đá để chống sạt lở các công trình đê, kè biển;  
- Xử lý nước mưa nhiễm bẩn hoặc lọc nước thải có chứa nhiều chất bẩn và kim  
loại nặng.  
- Do tính chất hóa lý đặc biệt, xỉ thép còn được sử dụng làm vật liệu để xử lý  
nước thải nhiễm Phốt pho, nhiễm a xít…  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 8  
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
- Ngoài ra, do hàm lượng đá vôi có nhiều trong xỉ thép và chứa một số khoáng  
chất đặc biệt nên nó còn có thể dùng làm phân bón, cải tạo đất hoặc phục hồi hệ sinh  
thái đáy biển, đáy sông bị tàn phá do các hoạt động nạo vét luồng tàu để làm cảng biển,  
cảng sông,…  
- Với những tích chất như trên, xỉ thép được xem như là một sản phẩm có ích,  
thân thiện với môi trường, không phải là chất thải cần phải loại bỏ hoặc đem chôn lấp  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 9  
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
I.7: Các nghiên cứu về Bê tông xỉ thép:  
Theo thống kê ở châu Âu 85% lượng xỉ BOS (Basic Oxygen Steelmaking  
slag) đã được tái sử dụng với nhiều mục đích khác nhau trong đó 42% được ứng dụng  
trong xây dựng. Còn ở Đức trong số 70% lượng xỉ EAF (Electric Arc Furnace slag)  
thì 66% được ứng dụng trong xây dựng còn lại 4% ứng dụng cho các mục đích khác  
nhau. Trong lĩnh `vực xây dựng xỉ được sử dụng chủ yếu làm cốt liệu cho  
bêtông và phụ gia khoáng chế tạo bêtông ximăng” (Theo nguồn tài liệu sách Vật  
liệu mới GS TS Phạm Duy Hữu).  
Theo TS. Minoru Fujiwara, Giám đốc Điều hành Hiệp hội xỉ Nhật Bản, quá  
trình sản xuất xỉ lò cao và xỉ thép đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước, đặc biệt  
là Nhật Bản. Theo số lượng thống kê trong ngành công nghiệp thép Nhật Bản,  
lượng xỉ lò cao trung bình là 290 kg/tấn gang và lượng xỉ thép trung bình cho 130  
kg/tấn thép. Tổng sản lượng xỉ lò cao và xỉ thép năm 2004 tại Nhật Bản là 37 triệu  
tấn. Những loại xỉ này đã, đang được sử dụng có hiệu quả như là vật liệu thô cho  
lĩnh vực xây dựng dân dụng ở Nhật Bản.  
Xỉ thép có tính chất vô hại, những thành phần cadmium, thuỷ ngân, crôm,  
chì, asen và sêlen không phát hiện được trong nước có xỉ. Xỉ này chứa silica và  
vôi nên nó được sử dụng làm phân bón ruộng lúa từ hơn 50 năm nay tại Nhật Bản,  
được nông dân đánh giá không chỉ cho sản lượng lúa mà còn cho chất lượng  
lúa tốt.  
Xỉ lò cao còn được cho xuống đáy biển khi bị che phủ bởi bùn để cải thiện  
môi trường sống cho các loài nhuyễn thể. Vì tính chất cơ học và hoá học của xỉ lò  
cao tương tự như đá nghiền nên nó được sử dụng để làm vật liệu phụ cho xây dựng  
đường và làm cốt liệu thô cho bê tông. Xỉ này cũng có những tính chất cơ học và  
hoá học tương tự như cát tự nhiên nên nó được sử dụng để làm cốt liệu mịn cho bê  
tông. Bằng cách nghiền thành dạng bột, xỉ lò cao được dùng làm nguyên liệu  
cho xi măng vì có độ cứng cao. Xi măng xỉ có cường độ tăng ở độ tuổi dài ngày  
và bền vững.  
Jigar P.Patel (2006) đã nghiên cứu thay thế từ 25% đến 100% cốt liệu sử  
dụng trong bêtông bằng xỉ thép. Nghiên cứu tập trung vào khảo sát ảnh hưởng của  
xỉ thép đến tính chất của hỗn hợp bê tông và tính chất cơ học của bêtông. Cấp phối  
bê tông nghiên cứu được trình bày ở bảng 1.3.  
Bảng 1.3. Bảng cấp phối bêtông nghiên cứu sử dụng xỉ thép thay thế cốt liệu  
Phần trăm xỉ  
thép thay  
Cốt liệu  
lớn, kg  
Tỷ lệ  
N/X  
Cốt liệu  
nhỏ, kg  
Cốt liệu xỉ  
thép, kg  
Khối lượng  
xi măng, kg  
thế, %  
0%  
25%  
50%  
75%  
100%  
576  
434  
289  
145  
0
730  
531  
354  
177  
0
0
272  
272  
272  
272  
272  
0.5  
0.5  
0.5  
0.5  
0.5  
383  
766  
1148  
1531  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 10  
 
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi hàm lượng xỉ thép thay thế cốt liệu tăng lên  
thì độ sụt của hỗn hợp bê tông giảm xuống (bảng 1.4).  
Bảng 1.4. Độ sụt của hỗn hợp bêtông khi sử dụng xỉ thép thay thế cốt liệu  
Tỷ lệ thay thế  
0%  
Độ sụt (mm)  
57  
50  
27  
24  
25%  
50%  
75%  
Ngoài ra, khi thay thế cốt liệu bằng xỉ thép thì khối lượng thể tích của hỗn hợp  
của bê tông cũng tăng lên, đặc biệt là khi sử dụng xỉ thép thay thế 100% cốt liệu, điều  
này được giải thích là do xỉ thép có khối lượng thể tích nặng hơn đáng kể so với cốt  
liệu tự nhiên. ( hình 1.2 và bảng 1.3).  
Hình 1.2. Biểu đồ thể hiện khối lượng thể tích của hỗn hợp bêtông  
Bảng 1.5. Khối lượng thể tích của hỗn hợp bêtông  
Tỷ lệ thay thế  
0%  
Tỷ trọng đạt được (Kg/m3)  
2352  
2443  
2489  
2508  
2717  
25%  
50%  
75%  
100%  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 11  
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
Tác giả cũng tập trung nghiên cứu tính chất cơ học của bêtông, ví dụ như cường  
độ chịu kéo và chịu nén. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc thay thế cốt liệu tự nhiên  
bằng cốt liệu xỉ thép không gây ảnh hưởng đáng kể, ngoại trừ thay thế tỷ lệ lớn hơn  
75%. Cỡ hạt và thành phần hạt của cốt liệu xỉ cũng giống như đối với cốt liệu đá tự  
nhiên. Cường độ nén của mẫu bê tông thường ở 28 ngày đạt 35 Mpa, trong khi mẫu bê  
tông thay thế 100% cốt liệu xỉ thì đạt 40 Mpa.  
Bảng 1.6. Kết quả cường độ nén bê tông sử dụng cốt liệu xỉ thép  
Phần trăm thay  
Cường độ nén ở tuổi 7 ngày,  
Cường độ nén ở tuổi 28 ngày,  
thế  
MPa  
MPa  
0%  
25%  
35  
32  
29  
23  
20  
37  
43  
29  
35  
29  
29  
42  
50%  
75%  
100a%  
100b%  
I.8: Nghiên cứu sử dụng xỉ thép là cốt liệu nhỏ thay cát trong Bê tông:  
Hisham Qasrawi (2009), nghiên cứu sử dụng xỉ thép phế thải không qua xử lý và  
có hàm lượng CaO thấp, hầu như không có tính chất hoạt tính, làm cốt liệu nhỏ thay  
cát trong bê tông. Xỉ thải sử dụng với hàm lượng thay thế cát từ 0%, 15%, 30%, 50%  
và 100% dùng chế tạo bê tông có mác 25 đến 45MPa.  
Hàm lượng xỉ thép thay thế (%)  
Hình 1.3. Sự thay đổi cường độ chịu nén của bêtông khi thay đổi hàm lượng xỉ sắt  
thay thế cốt liệu trong bêtông  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 12  
 
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
Hàm lượng xỉ thép thay thế (%)  
Hình 1.4. Sự thay đổi cường độ chịu nén của bêtông theo thời gian khi thay đổi  
hàm lượng xỉ sắt thay thế cốt liệu trong bêtông  
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, xỉ thải sử dụng với hàm lượng 30%-50% làm  
cho cường độ chịu nén tăng 1.2 lần, cường độ chịu kéo tăng 1.4 lần (hình 1.12 và  
1.13). Ngoài ra, độ sụt của hỗn hợp bê tông giảm xuống khi hàm lượng xỉ thép sử dụng  
tăng lên, khối lượng thể tích của hỗn hợp bê tông tăng khi hàm lượng xỉ thép sử dụng  
tăng.  
I.9: Ứng dụng của xỉ thép làm cốt liệu lớn trong bê tông.  
Thay thế đá bằng xỉ thép để làm cốt liệu bê tông cho các công trình xây dựng sẽ  
mang lại hiệu quả cao về kinh tế và bảo vệ môi trường, đồng thời công trình vẫn đảm  
bảo chất lượng cao.  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 13  
 
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
Hình 1.5. Bê tông cốt liệu xỉ và bê tông thông thường  
Trong bê tông cốt liệu xỉ, xỉ hoạt động như một chất cách điện tự nhiên, tăng  
hiệu quả sử dụng năng lượng trong sản phẩm xây dựng, xỉ còn hoạt động như một chất  
chống cháy tự nhiên, gia tăng an toàn xây dựng. Khi dùng cốt liệu xỉ, lượng xi măng  
tốn ít hơn so với cốt liệu đá. Sân vận động Beijing National Indoor Stadium – Trung  
Quốc phục vụ thế vận hội Olympics 2008 sử dụng 80.000 tấn xỉ thép để xây dựng và  
công trình này được xem như là một công trình tiêu biểu và nhãn môi trường xanh.  
Ngoài ra bê tông cốt liệu xỉ còn được dùng cho công trình nhà ga tàu điện ngầm Bắc  
Kinh – Trung Quốc, đổ bê tông nền kho bãi cảng Montreal – Canada,…  
I.10: Tình hình nghiên cứu và ứng dụng xỉ thép vào Bê tông ở Việt Nam.  
I.10.1.Nghiên cứu sử dụng xỉ thép làm cốt liệu thay thế cho đá dăm làm  
bêtông asphalt.  
Năm 2011, nhóm nghiên cứu tại Bộ môn Vật liệu Xây dựng – Trường Đại học  
Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh do TS. Trần Văn Miền chủ trì kết hợp với Công ty  
TNHH Lê Phan đã thực hiện nghiên cứu sử dụng xỉ thép làm cốt liệu thay thế cho đá  
dăm làm bêtông asphan ứng dụng làm lớp áo đường trong công trình giao thông. Kết  
quả nghiên cứu các tính chất đạt được có thể tóm tắt như sau:  
Về dung trọng: ở cùng một hàm lượng nhựa hấp phụ thì dung trọng của hỗn hợp BTN  
sử dụng xỉ thép làm cốt liệu cao hơn đáng kể so với hỗn hợp BTN sử dụng đá dăm làm  
cốt liệu. Xu hướng này đúng cho cả cốt liệu hạt mịn và cốt liệu hạt trung sử dụng cho  
BTN.  
Độ ổn định nhiệt độ: khi hàm lượng nhựa tăng lên thì độ ổn định tăng lên tương  
ứng (tuy nhiên với BTN sử dụng cốt liệu xỉ thì xu hướng này không rõ ràng bằng BTN  
nhựa sử dụng cốt liệu đá dăm). Trong hầu hết các trường hợp thí nghiệm 1h và 24h thì  
độ ổn định của BTN sử dụng cốt liệu xỉ thép đều cao hơn của BTN sử dụng đá dăm.  
Về cường độ chịu nén: BTN sử dụng cấp phối hạt mịn của xỉ thép và đá dăm, khi  
hàm lượng nhựa tăng từ 4.5%-5.0% thì cường độ nén tăng, tuy nhiên khi hàm lượng  
nhựa quá 5.0% thì cường độ nén bắt đầu giảm dần suy ra hàm lượng nhựa tối ưu có thể  
sử dụng cho BTN cấp phối hạt mịn là từ 4.5%-5.0%. BTN sử dụng cấp phối hạt trung  
của xỉ thép và đá dăm, khi hàm lượng nhựa tăng từ 5.0%-6.0% thì cường độ nén tăng,  
tuy nhiên khi hàm lượng nhựa quá 6.0% thì cường độ nén bắt đầu giảm dần suy ra  
hàm lượng nhựa tối ưu có thể sử dụng cho BTN cấp phối hạt mịn là từ 5.5%-6.0%.  
Khi nghiên cứu cường độ của BTN sử dụng cốt liệu đá dăm, xỉ thép ở hàm lượng nhựa  
tối ưu thì cường độ chịu nén của BTN sử dụng xỉ thép cao hơn hoặc tương đương BTN  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 14  
   
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
sử dụng cốt liệu đá dăm (hình 1.24). Điều này có nghĩa là có thể sử dụng xỉ làm cốt  
liệu thay thế đá trong BTN để đạt các chỉ tiêu cơ lý theo yêu cầu.  
Hình 1.6. So sánh cường độ chịu nén của BTN sử dụng  
xỉ thép và đá dăm làm cốt liệu  
Thương số Marshall của BTN sử dụng xỉ thép cao hơn hẳn BTN sử dụng đá  
dăm. Ở hàm lượng 5% của BTN hạt mịn thì độ chênh lệch chưa cao nhưng ở các hàm  
lượng còn lại của cả BTN cấp phối hạt mịn và hạt trung thì độ chênh lệch thương số  
Marshall thể hiện rõ rệt.  
Modun đàn hồi của BTN sử dụng cốt liệu xỉ thép cao hơn BTN sử dụng cốt liệu  
đá dăm. Ở hàm lượng nhựa 6.5% của BTN hạt mịn thì modun đàn hồi của BTN sử  
dụng xỉ thép là 7.88(kG/cm2) còn của BTN sử dụng đá dăm là 3.52 (kG/cm2). Ở hàm  
lượng nhựa 5.50% của BTN hạt trung thì modun đàn hồi của BTN sử dụng xỉ thép là  
11.38(kG/cm2) còn của BTN sử dụng đá dăm là 8.14 (kG/cm2) (hình 1.25). Vì vậy, có  
thể ứng dụng xỉ thép cho việc sản xuất BTN áp dụng vào thực tế.  
Hình 1.7. So sánh modun đàn hồi của BTN sử dụng xỉ thép  
và đá dăm làm cốt liệu  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 15  
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
I.10.2.Nghiên cứu sử dụng xỉ thép làm phụ gia khoáng cho BTXM trong  
xây dựng mặt đường giao thông.  
Năm 2011, đề tài thạc sĩ của Trần Hữu Bằng đã tiến hành nghiên cứu sử dụng xỉ  
thép làm phụ gia khoáng thay thế hàm lượng xi măng trong thành phần BTXM theo tỉ  
lệ 10%, 12%, 15% trong thành phần hỗn hợp của cốt liệu. Kết quả cường độ chịu nén  
và cường độ chịu kéo khi uốn của BTXM sử dụng phụ gia khoáng xỉ thép thu được có  
thể tóm tắt theo các bảng sau:  
Bảng 1.5. So sánh cường độ chịu nén của BTXM  
sử dụng phụ gia khoáng xỉ thép (Slag) và BTXM thông thường (Normal)  
R7  
R14  
R28  
R60  
R90  
Ký hiệu mẫu  
(N/mm2)  
(N/mm2)  
(N/mm2)  
(N/mm2)  
(N/mm2)  
25MPa Normal  
25MPa Slag 10%  
25MPa Slag 12%  
25MPa Slag 15%  
30MPa Normal  
19.6  
18.9  
17.8  
15.9  
23.8  
22.5  
21.4  
20.2  
26.5  
25.6  
24.8  
23.6  
23.3  
22.6  
21.7  
19.8  
27.4  
26.5  
25.9  
24.4  
31.7  
30.5  
29.5  
28.3  
28.1  
27.5  
26.5  
25.2  
33.5  
32.5  
31.4  
30.5  
38.5  
37.2  
36.7  
35.5  
30.1  
29.0  
28.5  
27.0  
35.9  
35.0  
34.2  
32.7  
40.6  
39.4  
38.9  
36.7  
30.8  
30.5  
29.5  
27.2  
36.1  
35.8  
34.4  
32.7  
40.7  
40.4  
38.9  
36.7  
30MPa Slag 10%  
30MPa Slag 12%  
30MPa Slag 15%  
35MPa Normal  
35MPa Slag 10%  
35MPa Slag 12%  
35MPa Slag 15%  
Kết quả cho thấy cường độ của của BTXM phụ gia khoáng xỉ thép có tốc độ  
phát triển cường độ thấp hơn so với BTXM thông thường, và hàm lượng phụ gia  
khoáng xỉ thép càng nhiều thì cường độ BTXM càng giảm. Tuy nhiên cường độ của  
BTXM sử dụng phụ gia khoáng xỉ thép sẽ đạt ở tuổi dài ngày hơn.  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 16  
 
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
Bảng 1.6. So sánh cường độ chịu kéo khi uốn của BTXM  
sử dụng phụ gia khoáng xỉ thép (Slag) và BTXM thông thường (Normal)  
R28  
R60  
Ký hiệu mẫu  
(daN/cm2)  
(daN/cm2)  
25MPa Normal  
25MPa Slag 10%  
25MPa Slag 12%  
25MPa Slag 15%  
30MPa Normal  
33.51  
32.58  
29.38  
28.31  
38.97  
36.28  
34.21  
32.28  
40.60  
38.91  
36.41  
33.56  
34.31  
33.64  
30.22  
29.02  
39.78  
37.73  
35.07  
33.02  
41.56  
40.40  
37.73  
34.71  
30MPa Slag 10%  
30MPa Slag 12%  
30MPa Slag 15%  
35MPa Normal  
35MPa Slag 10%  
35MPa Slag 12%  
35MPa Slag 15%  
Kết quả cho thấy cường độ chịu kéo khi uốn của BTXM phụ gia khoáng xỉ thép thấp  
hơn so với BTXM thông thường, và hàm lượng phụ gia khoáng xỉ thép càng nhiều thì  
cường độ chịu kéo khi uốn của BTXM càng giảm.  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 17  
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
CHƯƠNG II: TÌM HIỂU THÍ NGHIỆM CHỈ TIÊU CƯỜNG ĐỘ BÊ  
TÔNG XỈ THÉP THAY THẾ ĐÁ VÀ BÊ TÔNG THƯỜNG:  
II.1: Mẫu xỉ thép thí nghiệm  
Các mẫu xỉ thép dùng để nghiên cứu trong đề tài này được lấy của Công ty TNHH  
Vật Liệu Xanh, công ty đã đầu tư xây dựng dự án thu gom xỉ thép từ các nhà máy  
luyện thép trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, sử dụng công nghệ nghiền sàng di  
động để tái chế xỉ thép thành các sản phẩm sử dụng vào các mục đích khác nhau. Dự  
án đã được các Bộ ngành liên quan cho phép, sản phẩm xỉ thép sau khi tái chế bước  
đầu đã được ứng dụng trong thực tế song mới chỉ mang tính cục bộ, dưới đây là hình  
ảnh sản phẩm xỉ thép của Công ty Vật Liệu Xanh sau khi tái chế:  
Hình 2.1. Bãi chứa xỉ thép thành phẩm chưa phân loại của Công ty Vật Liệu Xanh  
Các mẫu xỉ thép được lấy trực tiếp từ bãi chứa của Công ty Vật Liệu Xanh tuân  
theo phương pháp lấy mẫu được quy định trong TCVN 7572-1:2006.Mẫu được lấy  
theo nhiều điểm khác nhau theo chiều cao đống vật liệu từ đỉnh xuống chân, sao cho  
mẫu lấy là đại diện của cả bãi vật liệu. Sau đó mẫu được đưa về Phòng thí nghiệm  
chuyên ngành để tiến hành thí nghiệm phân tích.  
Vật liệu dùng trong các công trình giao thông với các mục đích chính là làm cốt  
liệu cho bê tông xi măng, làm cốt liệu cho bê tông nhựa và làm cấp phối dùng để thi  
công các lớp móng đường giao thông. Trong phạm vi đề tài này, các chỉ tiêu cơ lý của  
xỉ thép được nghiên cứu chủ yếu là các chỉ tiêu cơ lý của vật liệu phục vụ cho mục  
đích làm cốt liệu cho bê tông xi măng và làm cấp phối cho lớp móng đường giao  
thông.  
II.2: Các kiểm tra chỉ tiêu xỉ thép trước khi đúc mẫu  
II.2.1.Thành phần hạt của xỉ thép  
Tiêu chuẩn áp dụng:TCVN 7572 - 06.  
Các thiết bị, dụng cụ:  
– Cân kỹ thuật; máy lắc sàng; tủ sấy;  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 18  
       
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
– Bộ sàng tiêu chuẩn bao gồm các kích thước mắt sàng: 40mm; 20 mm; 10mm;  
5 mm;  
Mẫu thử:  
Mẫu xỉ thép sau khi được lấy từ bãi chứa về được sấy khô đến khối lượng  
không đổi và để nguội đến nhiệt độ phòng thí nghiệm. Sau đó mẫu được lấy đến khối  
lượng cần thiết theo phương pháp chia tư. Khối lượng mẫu thí nghiệm phụ thuộc vào  
đường kính lớn nhất danh nghĩa Dmax của mẫu. Đối với mẫu xỉ thép, ta chọn khối  
lượng mẫu thí nghiệm tối thiểu là 10kg.  
Trình tự thí nghiệm:  
Cho mẫu vào máy lắc sàng với bộ sàng tiêu chuẩn như trên, tiến hành sàng đến  
khối lượng không đổi và cân khối lượng còn sót lại trên từng sàng.  
Tính toán kết quả:  
Hàm lượng sót trên từng sàng (ai) tính theo công thức:  
m i  
ai   
100 (%)  
m
Trong đó:  
mi : khối lượng trên từng sàng (g);  
m : tổng khối lượng mẫu thí nghiệm (g);  
Hàm lượng sót tích lũy (Ai) tính theo công thức:  
A   
a (%)  
i
i
Tỷ lệ lọt sàng theo % khối lượng tính theo công thức:  
Bi 100 Ai (%)  
Kết quả thí nghiệm mẫu xỉ thép được thống kê như sau:  
Kích thước  
lỗ sàng  
Khối lượng tích  
lũy trên sàng  
Phần trăm khối lượng  
Phần trăm khối lượng  
tích lũy trên sàng  
lọt sàng tích lũy  
(mm)  
40.0  
(g)  
0
(%)  
0.0  
(%)  
100.0  
87.0  
54.0  
4.0  
20.0  
982.5  
3465  
7234  
7534  
13.0  
46.0  
96.0  
100.0  
10.0  
5.0  
< 5.0  
0.0  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 19  
Báo cáo chuyên đề: Bê tông xỉ thép  
GVHD: TS VŨ HỒNG NGHIỆP  
Hình 2.2 Biểu đồ thành phần hạt của mẫu xỉ thép  
II.2.2.Khối lượng riêng, khối lượng thể tích của xỉ thép  
Tiêu chuẩn áp dụng: TCVN 7572-4:2006.  
Các thiết bị, dụng cụ:  
– Cân kỹ thuật; tủ sấy; bình dung tích; thùng ngâm mẫu; khăn thấm nước; khay  
chứa;bộ sàng;  
Mẫu thử:  
Mẫu được lấy đến khối lượng cần thiết theo phương pháp chia tư. Sau đó  
được đem ngâm trong thùng ngâm trong 24 ± 4h ở nhiệt độ 27 ± 2 oC trước khi tiến  
hành thí nghiệm. Sau khi ngâm mẫu được đưa về trạng thái bão hòa nước khô bề mặt  
(dùng khăn bông lau khô bề mặt);  
Trình tự thí nghiệm:  
Ngay sau khi làm khô bề mặt mẫu, tiến hành cân một lượng mẫu thử (khoảng  
1000g) và cho vào bình thử, cho thêm nước đầy bình rồi tiến hành cân;  
Sau đó đổ mẫu ra và tiến hành sấy khô mẫu, để nguội đến nhiệt độ phòng rồi cân;  
Đổ đầy nước vào bình thử cho đầy rồi cân.  
Tính toán kết quả:  
Khối lượng riêng (  
a )được tính theo công thức:  
m 4  
(g/cm3)  
a   
n  
m 4 (m 2 m 3 )  
Trong đó:  
m4 : khối lượng mẫu khô sau khi sấy (g);  
m2 : khối lượng mẫu + bình thử + nước (g);  
m3 : khối lượng bình thử + nước (g);  
n : khối lượng riêng của nước (g/cm3);  
Khối lượng thể tích khô (  
k )được tính theo công thức:  
m 4  
(g/cm3)  
k   
n  
m1 (m 2 m 3 )  
Trong đó:  
m1 : khối lượng mẫu bão hòa nước khô bề mặt (g);  
Khối lượng thể tích bão hòa nước ( bh )được tính theo công thức:  
SVTH: Nhóm 01  
Trang 20  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 52 trang yennguyen 27520 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Chuyên đề: Bê tông xỉ thép", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docbao_cao_chuyen_de_be_tong_xi_thep.doc