Xử lý nước thải sản xuất tinh bột sắn bằng quá trình keo tụ điện hóa

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
XỬ LÝ NƯỚC THẢI SẢN XUẤT TINH BỘT SẮN  
BẰNG QUÁ TRÌNH KEO TỤ ĐIỆN HÓA  
*
Tề Minh Sơn , Đặng Thị Thanh Lộc, Hoàng Thị Mỹ Hằng  
Khoa Môi trường - Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 8/01/2020; ngày hoàn thành phản biện: 24/02/2020; ngày duyệt đăng: 02/7/2020  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng loại bỏ COD và SS trong nước thải sản  
xuất tinh bột sắn bằng phương pháp keo tụ điện hóa. Nguồn điện một chiều kết nối  
với các tấm điện cực nhôm dạng hình hộp chữ nhật đã được sử dụng trong thí  
nghiệm. Khả năng xử lý COD và SS được đánh giá thông qua thí nghiệm dạng mẻ  
với các điều kiện pH của nước thải, mật độ dòng điện và thời gian phản ứng. Đối  
với nước thải đầu vào có COD là 7325±83 mg/L, SS là 2120±62 mg/L, hiệu quả xử lý  
2
tối ưu đã được ghi nhận tại pH=6, mật độ dòng 0,039 A/cm và trong khoảng 20 phút  
hệ thống hoạt động. Hiệu quả xử lý COD và SS lần lượt đạt khoảng 82,1% và 89,4%.  
Từ khóa: Điện cực nhôm, Keo tụ điện hóa, nước thải sản xuất tinh bột sắn  
1. MỞ ĐẦU  
Việt Nam là một đất nước đang phát triển, với các ngành kinh tế mũi nhọn như  
trồng trọt, chăn nuôi. Trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày  
càng tăng của cả nước, ngành chế biến lương thực, thực phẩm ngày càng phát triển,  
đặc biệt là sản xuất tinh bột sắn (SXTBS) với nguồn nhiên liệu dồi dào. Tuy nhiên,  
bên cạnh các lợi ích về kinh tế mang lại, quá trình sản xuất tinh bột sắn còn phát sinh  
các vấn đề về môi trường, không những ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng dân  
cư gần khu vực nhà máy mà còn ảnh hưởng đến sinh thái môi trường, đặc biệt là môi  
trường nước và môi trường không khí [1, 2]  
3
Nước thải sinh ra từ dây chuyền SXTBS thường dao động từ 20 – 60 m /tấn tinh  
bột được sản xuất, có các thông số đặc trưng như: pH thấp, nhu cầu oxy hóa học (COD)  
và chất rắn lơ lửng (SS) ở mức cao, vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn môi trường. Cyanua  
tự do là một chất độc cũng được tìm thấy trong dòng nước thải, bởi vì cyanoglucosides  
trong củ sắn được giải phóng trong quá trình chế biến, nhanh chóng thủy phân thành  
hydro cyanua [1, 2]. Một số nhà máy SXTBS lớn ở châu Á xử lý nước thải bằng cách sử  
233  
Xử lý nước thải sản xuất tinh bột sắn bằng quá trình keo tụ điện hóa  
dụng các bể phản ứng kỵ khí có nguyên tắc hoạt động khác nhau, ví dụ: Bể phản ứng  
kỵ khí dòng chảy ngược (UASB), bể phản ứng kỵ khí dạng mẻ (ASBR), hồ kỵ khí, thường  
được vận hành mà không cần tiền xử lý [2]. Tại Việt Nam, một quy trình xử lý đã được  
đề xuất từ 20 năm trước bởi P.G. Hiền và L.T.K. Oanh (1999) bao gồm các quá trình lắng  
cơ cấp → xử lý kỵ khí trong bể phản ứng UASB → xử lý hiếu khí → hệ thống hồ sinh  
học. Tuy nhiên do chi phí đầu tư cho hệ thống này chiếm khoảng 20% chi phí đầu tư ban  
đầu của các công ty, đây là điểm khó khăn lớn ở Việt Nam [3].  
Ô nhiễm môi trường do nước thải SXTBS là một nguồn gốc của suy thoái môi  
trường, chúng tôi đề xuất sử dụng kỹ thuật keo tụ điện hóa để xử lý loại nước thải này.  
Ảnh hưởng của pH nước thải đầu vào, mật độ dòng điện, thời gian phản ứng là những  
điều kiện được khảo sát, bên cạnh đó hiệu quả của các quá trình được đánh giá thông  
qua hiệu quả loại bỏ COD và SS.  
Keo tụ điện hóa (EC) là một quá trình điện phân được thiết kế để tăng cường quá  
trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ và vô cơ trong chất điện phân, quá trình này được sử  
dụng như một phương pháp xử lý chất thải. Quá trình này xử lý các chất ô nhiễm được  
thực hiện bằng hai cơ chế: oxy hóa gián tiếp và trực tiếp [4]. Oxy hóa gián tiếp là điện  
hóa một chất oxy hóa và giải phóng nó vào dung dịch nơi xảy ra các phản ứng oxy hóa  
[4]. Quá trình EC cũng sửa đổi các tính chất vật lý của các chất keo tụ được hình thành  
và làm tăng các đặc tính mất ổn định và hấp phụ của chúng, ví dụ: tăng diện tích bề mặt  
của các hạt keo [5]. EC là một quá trình linh hoạt vốn có bao gồm một số thông số thiết  
kế và vận hành như mật độ dòng điện, vật liệu điện cực, khoảng cách điện cực, nồng độ  
chất điện phân, pH, nồng độ cơ chất giúp tối ưu hóa hiệu quả của quá trình. EC và các  
quá trình điện hóa khác có thể được áp dụng trong các hình thức bể phản ứng cũng như  
cách sắp xếp điện cực khác nhau. Lĩnh vực ứng dụng của quy trình EC khá rộng: dệt  
may, công nghiệp dầu khí, dầu, nước thải có độ đục, các chất rắn lơ lửng, hóa chất hữu  
cơ, florua, nitrat, kim loại nặng, asen là những ví dụ [5].  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Lý thuyết keo tụ điện hóa  
Tất cả hệ thống keo tụ điện hóa đều là sự sắp xếp các điện cực tiếp xúc với môi  
trường nước thải. Dưới tác dụng của dòng điện, các điện cực dương (thường sử dụng là  
3+  
nhôm hoặc sắt) sẽ bị ăn mòn và giải phóng ra các chất có khả năng keo tụ (cation Al  
3+  
hoặc Fe ) vào trong môi trường nước thải, kèm theo đó là các phản ứng điện phân sẽ  
tạo ra các bọt khí ở các điện cực được làm lạnh thành bong bóng. Những ion được tạo  
ra do điện cực tan liên kết các chất ô nhiễm trong nước, tương tự như việc bổ sung các  
hóa chất keo tụ như phèn nhôm và cho phép loại bỏ dễ dàng hơn của các chất ô nhiễm  
bởi quả trình lắng và tuyển nổi.  
234  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
Nhôm là một loại vật liệu được sử dụng thông dụng nhất để làm điện cực dương,  
trong quá trình phản ứng sẽ xảy ra quá trình dương cực tan như phương trình (1):  
3+  
-
Al →  
Al + 3e  
(1)  
Sự tạo thành khí Oxy xảy ra ở cực dương:  
-
-
4OH  
→
O2  
+ 2H O + 4e  
2
(2)  
Đồng thời, một phản ứng liên quan tại cực âm là sản sinh ra khí hydro, phản ứng  
này phụ thuộc vào pH của môi trường. Ở pH trung tính hoặc kiềm khí hydro được tạo  
thành thông qua phương trình (3).  
-
-
2H  
2O + 2e  
→
2OH + H  
2
(3)  
Trong khi pH của dung dịch là môi trường acid, là điều kiện tốt nhất để tạo thành  
khí H  
2
tại cực dương theo phương trình (4):  
+
-
2H + 2e → H  
2
(4)  
3+  
-
Các ion Al và OH được hình thành bởi các phản ứng ở các điện cực để hình  
thành các chất có tính keo tụ khác nhau, mà cuối cùng biến đổi thành Al(OH) , phụ thuộc  
3
vào nồng độ kim loại và pH trong dung dịch.  
3+  
-
2+  
Al + H  
2
O + e  
Al(OH) + ½ H  
2
(5-a)  
(5-b)  
(5-c)  
(6)  
→
→
→
→
2+  
2+  
+
Al(OH) + H  
2
O
O
Al(OH) + H  
2+  
+
Al(OH) + H  
2
Al(OH)  
Al(OH)  
3
+ H  
3+  
+
Al (aq) + 3H  
2
O
3
+ 3H  
Cả cực dương và cực âm đều được làm bằng nhôm sẽ xảy ra các phản ứng với  
-
các ion OH theo quan điểm về tính lưỡng tính của nhôm [6].  
-
-
2Al (s) + 6H  
2
O + 2(OH) (aq)  
→
2Al(OH)  
4
(aq) + 3H (g) (7)  
2
Theo đó, hai cơ chế chính được đề xuất, đó là: Keo tụ và hấp thụ, mỗi cơ chế đề  
xuất cho một phạm vi pH riêng biệt. Phản ứng keo tụ xảy ra ở mức pH thấp, khi môi  
trường pH cao (>6,5) là hấp thụ.  
2.2. Lắp đặt hệ thống thí nghiệm  
Hệ thống thí nghiệm được thiết kế cho các thử nghiệm được thể hiện trong (hình  
1). Hai bản điện cực được làm bằng nhôm, hình hộp chữ nhật có kích thước 9cm×2,5cm,  
bề dày của điện cực là 0,2 cm. Diện tích ảnh hưởng đến môi trường nước thải là 37,8  
cm2, khoảng cách giữa cực dương và cực âm là 1,5 cm. Hệ thống bao gồm một nguồn  
adapter điều chỉnh dòng điện xoay chiều thành dòng một chiều, đồng thời có một bộ  
điều chỉnh giá trị điện áp sử dụng cho hệ thống. Mạch điện được mắc nối tiếp với một  
ampe kế, hiển thị giá trị cường độ dòng điện của hệ thống.  
235  
Xử lý nước thải sản xuất tinh bột sắn bằng quá trình keo tụ điện hóa  
1) Nguồn điện  
3) Cực dương  
5) Cốc phản ứng  
2) Ampe kế  
4) Cực âm  
6) Máy khuấy từ  
Hình 1. Hệ thống keo tụ điện hóa quy mô phòng thí nghiệm  
2.3. Mô tả thí nghiệm  
Trong nghiên cứu này, nước thải từ quá trình chiết tinh bột của nhà máy tinh bột  
sắn FOCOCEV Thừa Thiên Huế được lựa chọn làm đối tượng khảo sát, thời gian thu  
mẫu vào tháng 10 năm 2019. Nước thải đựng trong cốc thủy tinh 1 L, lượng nước thải  
của mỗi lần thí nghiệm là 0.8 L. Bố trí các loạt thí nghiệm được mô tả trong bảng 1.  
Ở mỗi loạt thí nghiệm, lấy mẫu nước thải đầu vào và đầu ra tiến hành phân tích  
các chỉ tiêu COD, SS. Đối với COD được phân tích theo phương pháp trắc quang hồi lưu  
kín với thuốc thử K  
2Cr  
2
O7. SS được phân tích theo phương pháp trọng lượng sử dụng  
giấy lọc sợi thủy tinh có kích cỡ lỗ 0.45µm. Các mẫu thí nghiệm được phân tích lặp lại 3  
lần để lấy giá trị trung bình và tính sai số. Các phương phân tích sử dụng trong nghiên  
cứu được viện dẫn theo các phương pháp chuẩn phân tích nước và nước thải [8].  
Bảng 1. Bố trí các loạt thí nghiệm  
Nội dung khảo sát  
Các mức giá trị thay đổi  
5±0,1, 6±0,1, 7±0,2, 8±0.1, S = 37.8 cm , 0.013 A/cm , khoảng các  
9±0.1  
Điều kiện thí nghiệm  
2
2
pH  
giữa 2 điện cực 1.5 cm, t = 20 phút.  
Mật độ dòng điện 0.013, 0.026, 0.039, 0.052,  
pH chọn ở thí nghiệm trên, t = 20 phút  
2
2
(A/cm )  
0.065 A/cm  
Thời gian lưu  
10 phút, 15 phút, 20 phút, 25 pH, mật độ dòng chọn ở những thí  
phút, 30 phút, 35 phút nghiệm trên  
(phút)  
Các điện cực được thay thế sau mỗi lượt thí nghiệm, hiệu suất xử lý chất hữu cơ  
tính theo % được tính như sau:  
236  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
Hiệu suất (%) = [(Ci - Cf)/Ci] × 100%  
Trong đó Ci là COD và SS của nước thải đầu vào, Cf là COD và SS nước thải đầu  
ra.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1.Ảnh hưởng của pH nước thải lên hiệu quả xử lý SS và COD  
pH là một yếu tố quan trọng của hệ thống EC, nó ảnh hưởng đến độ dẫn điện  
của dung dịch, độ hòa tan các điện cực, thế điện hóa của các chất ô nhiễm. Các Hydroxit  
và ion nhôm hình thành làm cho các chất ô nhiễm mất ổn định. Đối với điện cực nhôm,  
các bông keo tụ hình thành tốt nhất trong môi trường pH acid.  
Các điều kiện khảo sát ảnh hưởng pH được nghiên cứu trong khoảng từ pH 5 -  
2
9 và mật độ dòng là 0.013 A/cm , thời gian phản ứng trong 20 phút. Sử dụng NaOH 1N  
để điều chỉnh pH của nước thải đầu vào, đồng thời trong tất cả các thí nghiệm pH không  
được kiểm soát trong quá trình hệ thống hoạt động. Nước thải đầu vào sử dụng cho loạt  
thí nghiệm này có giá trị pH 3.3±0.1, COD và SS lần lượt là 7769±48 mg/L, 2840±35 mg/L.  
Hiệu quả xử lý của phương pháp keo tụ điện hóa ở các giá trị pH khác nhau được  
trình bày trong bảng 2, hình 2.  
Bảng 2. Hiệu quả xử lý nước thải SXTBS ở các giá trị pH khác nhau  
Thông  
số  
Đầu  
vào  
Đầu ra  
pH = 7  
2841±30  
63.4±0.2  
952±35  
66.5±4.5  
Đơn vị  
pH = 5  
2397±24  
69.2±0.6  
633±21  
pH = 6  
2586±41  
66.7±0.4  
781±34  
pH = 8  
3063±52  
60.6±0.5  
994±18  
pH = 9  
3408±43  
56.1±0.0  
1080±27  
62.5±2.7  
C (mg/L) 7769±48  
H (%)  
C (mg/L) 2840±35  
H (%)  
COD  
SS  
77.7±0.7  
72.5±5.4  
65.0±1.9  
100  
80  
60  
40  
20  
0
Đầu vào  
5
6
7
8
9
pH  
Hiệu suất xử lý SS (%)  
Hiệu suất xử lý COD (%)  
Hình 2. Sự thay đổi của hiệu quả xử lý theo các giá trị pH khác nhau  
237  
Xử lý nước thải sản xuất tinh bột sắn bằng quá trình keo tụ điện hóa  
Sau 20 phút, hiệu quả xử lý của quá trình EC đối với thông số COD là 69.2%,  
66.7%, 63.4%, 60.6% và 56.1% ở các pH tương ứng từ 5 đến 9. Đối với hiệu quả xử lý SS  
thu được tại pH 5 và 6 tương ứng đạt 77.7% và 72.5%, hiệu suất giảm dần theo pH 7 – 9  
tương ứng 66.5%, 65% và 62.5%. Hiệu quả tốt nhất được ghi nhận tại pH 5 vì sự thủy  
3+  
-,  
phân Al phụ thuộc vào pH. Tại pH cao hơn, hợp chất trội là Al(OH)  
4
không có khả  
năng keo tụ các chất ô nhiễm [6, 7]. Khi so sánh hiệu suất xử lý COD và SS tại 2 giá trị  
pH, tại pH 5 tương là 69.2% và 77.7% so với pH 6 là 66.7% và 72.5% có kết quả loại bỏ  
không quá chênh lệch. Đồng thời nước thải sau xử lý có pH ở mức trung tính, thuận lợi  
cho các quá trình xử lý tiếp theo, cụ thể như là các hệ thống bùn hoạt tính hiếu khí hoặc  
bãi lọc ngập nước. Mặc dù hiệu quả cao nhất tại pH 5, tuy nhiên nhóm tác giả lựa chọn  
pH 6 cho các loạt thí nghiệm tiếp theo.  
3.2.Ảnh hưởng của mật độ dòng điện lên hiệu quả xử lý SS và COD  
Một trong những yếu tố quan trọng nữa ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình EC  
là cường độ dòng điện áp dụng, không chỉ liên quan đến lượng chất keo tụ được tạo ra  
mà còn ảnh hưởng đến số lượng và kích thước các bong bóng khí được tạo ra. Những  
yếu tố này sẽ tác động đến sự phát triển của các hạt keo, quá trình trộn lẫn dung dịch.  
Các điều kiện khảo sát ảnh hưởng mật độ dòng điện là 0.013, 0.026, 0.039, 0.052  
2
và 0.065 A/cm , thời gian phản ứng trong 20 phút. Sử dụng NaOH 1N để điều chỉnh pH  
của nước thải đầu vào đến pH 6, đồng thời trong tất cả các thí nghiệm pH không được  
kiểm soát trong quá trình hệ thống hoạt động. Nước thải đầu vào sử dụng cho loạt thí  
nghiệm này có giá trị pH 3.4±0.1, nồng độ COD và SS lần lượt là 6304±38 mg/L, 2200±47  
mg/L.  
Hiệu quả xử lý của phương pháp keo tụ điện hóa ở các giá trị I khác nhau được  
trình bày trong bảng 3, hình 3.  
Bảng 3. Hiệu quả xử lý nước thải SXTBS ở các mật độ dòng điện khác nhau  
Đầu ra  
Thông  
số  
Đầu  
vào  
Đơn vị  
0.013  
A/cm  
0.026  
A/cm  
0.039  
0.052  
A/cm  
0.065  
A/cm  
2
2
2
2
2
A/cm  
C (mg/L) 6304±38  
H (%)  
C (mg/L) 2200±47  
H (%)  
2163±30  
65.7±0.6  
656±36  
70.2±1.6  
1963±58  
68.9±0.0  
475±24  
78.4±1.1  
1441±38  
77.1±0.9  
260±28  
88.2±1.3  
1408±19  
77.7±0.6  
210±16  
90.5±0.7  
1397±33  
77.8±0.3  
230±25  
89.5±0.7  
COD  
SS  
238  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
100  
80  
60  
40  
20  
0
0.5  
Hiệu suất xử lý SS (%)  
1
1.5  
2
2.5  
Đầu vào  
A
Hiệu suất xử lý COD (%)  
Hình 3. Hiệu quả xử lý nước thải SXTBS ở các giá trị mật độ dòng điện khác nhau  
Dữ liệu trong hình 3 cho thấy hiệu suất xử lý COD và SS tăng dần khi mật độ  
2
dòng điện tăng, với mật độ dòng điện tại 0.013 A/cm (hiệu suất xử lý COD và SS lần  
2
lượt đạt 65.7 và 70.2%). Khi tăng mật độ dòng gấp 3 lần (0.039 A/cm ) hiệu quả loại COD  
và SS tăng rõ rệt lần lượt đạt mức 77.1% và 88.2%. Điều này ứng với thực tế khi hệ thống  
3+  
hoạt động ở mật độ cao hơn, sự hòa tan của ion Al tăng theo định luật Faraday. Các  
3+  
ion Al bị thủy phân tạo thành Al(OH)  
3, khả năng tạo thành các hạt keo tụ nhiều hơn.  
Hơn nữa, nhiều bong bóng hydro được tạo ra ở cực âm với mật độ dòng ngày càng tăng,  
những bong bóng này cải thiện mức độ hòa trộn của Al(OH) và tăng cường khả năng  
3
tuyển nổi, do đó nâng cao hiệu quả loại bỏ các chất ô nhiễm. Tuy nhiên, khi tăng mật độ  
2
dòng lên 0.052 và 0.065 A/cm với cùng điều kiện thời gian phản ứng 20 phút cho thấy  
hiệu xử lý COD và SS không thay đổi. Điều này có thể được giải thích do hệ thống đã  
2
đạt trạng thái cân bằng [4]. Đồng thời, với mật độ dòng 0.039 A/cm được sử dụng cho  
các thí nghiệm tiếp theo, bởi khả năng đạt được các yêu cầu về hiệu suất xử lý và tiết  
2
kiệm năng lượng hơn khi áp dụng tại 0.052 và 0.065 A/cm .  
3.3.Ảnh hưởng của thời gian lên hiệu quả xử lý SS và COD  
Cùng với mật độ dòng, thời gian xử lý chính là một trong những thông số quan  
trọng nhất trong quá trình điện hóa, thời gian càng ta  
anot càng nhiều, hiệu suất cũng tăng lên. Nhưng cũng giống với mật độ dòng, thời  
gian càng dài nang lượng sinh ra càng lớn (định luật Faraday), tốn thêm chi phí đồng  
̆ng lượng ion kim loại thoát ra từ  
̆
thời làm gia nhiệt phản ứng. Vì thế việc xác định được thời điểm dừng thích hợp cho  
quá trình xử lý là một trong những yêu cầu cơ bản của xử lý bằng dòng điện.  
Hiệu quả xử lý của phương pháp keo tụ điện hóa ở các thời gian xử lý khác  
nhau được trình bày trong bảng 4, hình 4.  
239  
Xử lý nước thải sản xuất tinh bột sắn bằng quá trình keo tụ điện hóa  
Bảng 4. Hiệu quả xử lý nước thải SXTBS ở các thời gian khác nhau  
Thông  
số  
Đầu  
vào  
Đầu ra (Phút)  
Đơn vị  
10  
15  
20  
25  
30  
35  
C(mg/L) 7325±83 2452±38 1445±12 1311±23 1171±31 1111±42 1058±20  
COD  
SS  
H (%)  
C(mg/L) 2120±26  
H (%)  
66.5±0.5 80.3±0.2 82.1±0.3  
690±35 380±30 225±33  
84±0.4  
165±16  
84.8±0.6 85.6±0.3  
150±11 120±15  
67.5±1.7 82.1±1.4 89.4±1.1 92.2±0.8 92.9±0.5 94.3±0.7  
Khi thời gian điện phân tăng lượng ion nhôm và các hydroxyt sẽ được giải  
phóng nhiều hơn dẫn đến mật độ phân bố của các cấu tử keo tụ tăng lên. Kết quả là hiệu  
-
suất xử lý giảm. Tuy nhiên, khi thời gian phản ứng quá dài, lượng ion OH sinh ra từ  
quá trình điện phân nước ở catot cũng tăng theo, làm cho pH của dung dịch tăng lên.  
Bên cạnh đó, khi thời gian xử lý quá dài, sẽ hình thành lớp màng hydroxyt phủ lên bề  
mặt điện cực, điều này làm cho điện cực trở nên thụ động, lượng các ion kim loại bám  
vào điện cực và lớp phủ hydroxyt ngày càng lớn. Điều này dẫn đến hiện tượng kết tủa  
-
-
-
Al(OH)  
3
bị hòa tan và tồn tại dưới dạng ion Al(OH)  
4
, Fe(OH) và AlO , các ion này có  
4
2
khả nang keo tụ kꢀm, do đó làm giảm hiệu quả xử lý.  
̆
100  
80  
60  
40  
20  
0
Đầu vào  
10  
15  
20  
25  
30  
35  
Thời gian  
Hiệu suất xử lý SS (%)  
Hiệu suất xử lý COD (%)  
Hình 4. Kết quả thí nghiệm với các thời gian lưu khác nhau  
Từ hình 4, ta thấy rằng khi tăng thời gian xử lý từ 10 lên 35 phút, hiệu quả  
xử lý COD, SS, đều có xu hướng tăng dần và đạt giá trị lớn nhất tại T= 35 phút với hiệu  
suất xử lý COD và SS lần lượt là 85.6%; 94.3%. Tuy nhiên khi tăng thời gian xử lý từ 10  
– 15 - 20 phút, quan sát được hiệu quả xử lý SS tăng nhanh từ 67.5% lên 82.1% và 89.4%.  
Đối với thông số COD, hiệu suất xử lý tăng từ 66.5% lên 80.3% khi thời gian xử lý từ 10  
– 15 phút, khi tăng lên 20 phút hiệu suất xử lý tăng ít đạt 82.1%. Hiệu suất xử lý cả 2  
thông số được nghiên cứu đều tăng thấp, đạt trạng thái cân bằng khi tăng thời gian xử  
lý từ 20 – 35 phút. Từ các phân tích trên, giá trị thời gian xử lý tốt nhất trong điều kiện  
thí nghiệm được chọn là T = 20 phút. Về cảm quan, nước thải SXTBS ban đầu có màu  
trắng đục trở nên trong khi đã loại bỏ SS và COD bằng quá trình keo tụ điện hóa với cặp  
điện cực nhôm.  
240  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
4. KẾT LUẬN  
Từ kết quả của nghiên cứu này, có thể rút ra kết luận như sau:  
1) Keo tụ điện hóa đã ứng dụng thành công cho xử lý nước thải sản xuất tinh bột  
sắn. Hiệu suất loại bỏ COD và SS lần lượt đạt 82.1 và 89.4%. Quá trình khuấy trộn nên  
được thực hiện trong khoảng thời gian đầu hệ thống hoạt động, không nên thực hiện  
trong quá trình lắng và tuyển nổi. So với các phương pháp sinh học trong các nghiên  
cứu [2, 3], thì quá trình EC đã rút ngắn thời gian xử lý, diện tích sử dụng cho hệ thống  
tối giản hơn.  
2) Phương pháp keo tụ điện hóa có khả năng xử lý tốt đối tượng nước thải SXTBS.  
Hiệu suất xử lý tốt nhất đạt trên 80% đối với chỉ tiêu COD, trên 90% đối với SS trong  
khoảng 20 – 35 phút hoạt động. Tuy nhiên, các thông số này vẫn chưa đạt mức giới  
hạn quy định trong QCVN 63:2017/BTNMT về nước thải chế biến tinh bột sắn (Cột B),  
và QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B) về nước thải công nghiệp. Cụ thể, đối với thông số SS  
vượt khoảng 1.5 lần so với quy chuẩn, thông số COD vượt 8.7 lần so sánh với QCVN  
40:2011/BTNMT và 5.2 lần so với QCVN 63:2017/BTNMT. Do đó, cần phải có những quá  
trình xử lý tiếp theo để nước thải SXTBS đạt được mức dưới ngưỡng của các quy định  
hiện hành.  
3) Cần nghiên cứu thêm một số yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình keo tụ  
điện hóa như: các anion (như sulphate hoặc flouride), nhiệt độ, diện tích bản cực, các  
điều kiện thủy động, tốc độ khuấy, thời gian khuấy…Đồng thời, nghiên cứu khả năng  
xử lý các thông số Cyanua, T-P, T-N trong nước thải SXTBS, làm cơ sở để đưa ra những  
thay đổi, cải tiến trong hệ thống để có thể nâng cao hiệu quả xử lý nước thải bằng keo  
tụ điện hóa.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. M.R. Grace (1977), Cassava Processing. Xuất bản lần thứ 3, Publications Division, Food and  
Agriculture Organization of the United Nations, tr. 8 – 10.  
[2]. James BeMiller và Roy Whistler (2009). Starch: Chemistry and Technology, xuất bản lần thứ 3,  
copyright © 1984, 2009 Elsevier Inc, tr. 544 – 545.  
[3]. P.G. Hien, L.T.K. Oanh, N.T. Viet và G. Lettinga (1999). Closed waste system in the tapioca  
industry in VietNam, Wat. Sci. Tech. Vol. 39, No. 5, pp. 89 – 96.  
[4]. Olcay Tünay, Işık Kabdaşlı, Idil Arslan-Alaton và Tuğba Ölmez-Hancı (2010). Chemical  
Oxidation Applications for Industrial Wastewaters, International Water Association, tr. 95 – 98.  
[5]. AlaaEldin Mohamed Hisham Elnenay (2016). Treament of Drilling fluids wastewater by  
electrocoagulation, Egyptian Journal of Petroleum, Vol 26, Issue 1, tr. 203 – 208.  
[6]. Trần Văn Nhân – Ngô Thị Nga (2002), Giáo trình Công nghệ xử lý nước thải, xuất bản lần thứ 2,  
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ Thuật, tr. 162 – 168.  
241  
Xử lý nước thải sản xuất tinh bột sắn bằng quá trình keo tụ điện hóa  
[7]. Tezcan Un U và Oduncu E (2014). Electrocoagulation of landfill leachate with monopolar aluminum  
electrodes, Journal of Clean Energy Technologies, Vol. 2, No. 1, Tr. 15 -17.  
[8]. Edited by Lenore S. Clesceri, Arnold E. Greenberg và Andrew D. Eaton (2012). Standard  
th  
Methods for the Examination of Water and Wastewater, 22 Ed, APHA, AWWA, WPCF, USA.  
[9]. M. Errami và R. Salghi (2013). Electrochemical treament of wastewater industrial cartons, Int. J.  
Electrochem. Sci., vol 8, tr. 12672 – 12682.  
[10]. E-S.Z. El-Ashtoukhy và Y.A. El-Taweel (2013). Treatment of Petrochemical Wastewater  
Containing Phenolic Compounds by Electrocoagulation Using a Fixed Bed Electrochemical Reactor,  
Int. J. Electrochem. Sci., vol 8, tr. 1534 - 1550.  
TREATMENT OF CASSAVA WASTEWATER BY ELECTROCOAGULATION  
*
Te Minh Son , Dang Thi Thanh Loc, Hoang Thi My Hang  
Faculty of Environmental Science, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
This study is aimed evaluating the possibility of removing COD and SS in cassava  
production wastewater by electrocoagulation method. Direct current power  
connected to the rectangular aluminum electrode plates was used in the  
experiments. Assess the ability to remove COD and SS through batch testing with  
pH conditions of wastewater, current density and electrolysis time. For effluent with  
a COD concentration of 7325±83 mg/L, SS of 2120±62 mg/L, the optimal treatment  
2
efficiency was recorded at pH= 6, current density of 0,039 A/cm and in about 20  
minutes the system operates. COD and SS treatment efficiency was reached  
approximately 82,1% and 89,4%, respectively.  
Keywords: Aluminium electrode, Cassava wastewater, Electrocoagulation.  
242  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
Tề Minh Sơn tốt nghiệp cử nhân ngành Khoa học Môi trường năm 2017  
tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Hiện ông đang theo học Thạc  
sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường tại trường Đại học Khoa học, Đại  
học Huế. Hiện nay ông công tác tại khoa Môi trường, trường Đại học  
Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Kỹ thuật xử lý nước thải.  
Đặng Thị Thanh Lộc tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Khoa học Môi  
trường tại trường Đại học Khoa học, Đại học Huế; nhận bằng thạc sĩ  
chuyên ngành Khoa học Môi trường tại trường Đại học Khoa học, Đại  
học Huế; nhận bằng tiến sĩ ngành Khoa học và Kỹ thuật Môi trường tại  
trường Đại học Yamaguchi, Nhật Bản. Hiện nay giảng dạy và nghiên cứu  
tại bộ môn Khoa học và Kỹ thuật Môi trường, Khoa Môi trường, trường  
Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Quá trình khử trùng, cấp thoát nước.  
Hoàng Thị Mỹ Hằng sinh ngày 23/01/1988. Bà tốt nghiệp cử nhân Khoa  
học Môi trường năm 2011 và thạc sỹ Khoa học Môi trường năm 2013 tại  
trường Đại học Khoa học, ĐH Huế. Hiện bà là nghiên cứu sinh tại Vương  
quốc Bỉ. Từ năm 2011 đến nay, bà là giảng viên khoa Môi trường, Trường  
Đại học Khoa học, ĐH Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Các quá trình xử lý nước thải.  
243  
pdf 11 trang yennguyen 12800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xử lý nước thải sản xuất tinh bột sắn bằng quá trình keo tụ điện hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxu_ly_nuoc_thai_san_xuat_tinh_bot_san_bang_qua_trinh_keo_tu.pdf