Về mối quan hệ giữa "Hoàng Việt luật lệ" và "Đại Thanh luật lệ"

VÕ mèi quan hÖ gi÷a...  
Th.s NguyÔn thÞ thu thuû  
§¹i häc S− ph¹m Hµ Néi  
“Hoàng Việt luật lệ” là bộ luật thành khuôn vàng thước ngọc không thể bỏ được, dù  
văn của triều Nguyễn - triều đại quân chủ có thể các điều luật ấy đã trở lên lỗi thời,  
cuối cùng ở Việt Nam. Mối quan hệ giữa không còn phù hợp với thực tiễn xã hội nữa.  
“Hoàng Việt luật lệ” với các bộ luật khác  
trong lịch sử chế độ quân chủ ở Việt Nam  
cũng như với các bộ luật ở Trung Hoa (nhất  
là luật nhà Thanh) đã được nhiều học giả  
trong nước và ngoài nước tìm hiểu ở những  
góc độ khác nhau.  
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi  
muốn tìm hiểu thêm mối quan hệ giữa  
“Hoàng Việt luật lệ” của nhà Nguyễn với  
“Đại Thanh luật lệ” của nhà Thanh, trên cơ  
sở khảo cứu một cách cụ thể văn bản của  
“Hoàng Việt luật lệ” và “Đại Thanh luật lệ”  
(từ cấu trúc bộ luật đến số lượng, tên gọi  
điều luật, nội dung các điều luật, điều lệ) để  
hy vọng có được cái nhìn khách quan hơn  
đối với “Hoàng Việt luật lệ”.  
Lệ không phải là tục lệ mà nguyên là  
những bản xử án trong thực tế, được xét là  
quan trọng nên đưa thêm vào bộ luật. Các  
điều lệ bổ sung kèm với các điều luật làm  
bớt đi tính lý thuyết của bộ luật, phù hợp hơn  
với thực tiễn xã hội đương thời. Vì thế, các  
điều lệ thường có tính thực tiễn hơn so với  
điều luật.  
Cách kết cấu điều khoản thành hai phần  
luật và lệ vừa bảo đảm được tính ổn định của  
luật pháp, vừa thể hiện sự linh hoạt trong  
quá trình thực hiện các quy định pháp luật,  
thuận tiện cho người thi hành và người chấp  
hành luật. Đây được đánh giá là bước tiến  
mới trong lịch sử lập pháp của nhà Minh -  
Thanh ở Trung Hoa. Do vậy, việc nhà  
Nguyễn tiếp thu cách kết cấu của bộ luật nhà  
Thanh cũng phần nào dễ lý giải. Cũng giống  
như cách nhà Thanh đã bảo lưu kết cấu của  
bộ “Đại Minh luật tập giải phụ lệ” cuối thời  
1. Kết cấu và tên gọi của bộ luật  
Xét về kết cấu, các điều khoản trong  
“Hoàng Việt luật lệ” chia làm luật và lệ. Kết Minh trong bộ luật của triều đại mình [1].  
cấu này mô phỏng bộ luật của nhà Thanh ở  
Trung Quốc, không giống với kết cấu của bộ  
“Quốc triều hình luật” nhà Lê trước đó.  
Theo quan niệm của người Trung Hoa, luật  
là “thường pháp muôn đời”, tức là các điều  
khoản chép từ các bộ luật cổ, được coi như  
Vì kết cấu bộ luật mô phỏng của nhà  
Thanh nên tên gọi của bộ luật nhà Nguyễn  
không phải là Hình thư như nhà Lý, nhà  
Trần hoặc Quốc triều hình luật của nhà Lê  
mà là “Hoàng Việt luật lệ”, như luật nhà  
Thanh là “Đại Thanh luật lệ”.  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
69  
NguyÔn thu thuû  
Giống như “Đại Thanh luật lệ”, “Hoàng  
Việt luật lệ” ngoài quyển đầu là mục lục các  
điều luật, bảng (hay đồ), thể lệ về phục tang,  
diễn giải thuật ngữ, các quyển còn lại được chia  
thành 6 thể loại, tương ứng với việc của 6 bộ:  
Lại, Bộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Chi tiết như sau:  
Quyển thứ 1: Mục lục điều luật, bảng  
(hay đồ), thể lệ về trang phục tang, diễn giải  
thuật ngữ; Quyển thứ 2 và 3: Danh luật lệ,  
45 điều; Quyển thứ 4 và 5: Lại luật, 27 điều;  
Quyển thứ 6, 7 và 8: Hộ luật, 66 điều; Quyển  
thứ 9: Lễ luật, 26 điều; Quyển thứ 10 và 11:  
Binh luật, 58 điều; Quyển thứ 12 đến 20:  
Hình luật, 166 điều; Quyển thứ 21: Công  
luật, 10 điều; Quyển thứ 22: Dẫn điều luật  
- Ở trên đầu trang giấy có những điều chú  
thích in bằng chữ nhỏ để cho biết nguồn gốc  
của các điều luật, hoặc cho biết những bản  
án có liên quan đến điều luật ấy.  
- Trong mỗi điều luật, điều lệ in chữ lớn  
thường có in xen chữ nhỏ để chú thích các  
lời lẽ hoặc danh từ trong điều luật.  
- Sau các điều luật còn có những điều chú  
giải chính văn, theo đó, các câu văn trong  
luật được trình bày lại dưới một hình thức  
khác cho dễ hiểu.  
Sự giống nhau về mặt hình thức như vậy  
dĩ nhiên sẽ đem đến những ảnh hưởng về  
mặt nội dung của bộ “Đại Thanh luật lệ” đối  
với bộ “Hoàng Việt luật lệ”.  
Trong từng phần Lại luật, Công luật, Hộ  
luật, Lễ luật, Binh luật, Hình luật thì các đề mục  
cũng giống hoàn toàn với bộ luật nhà Thanh.  
2. Số lượng, tên gọi và nội dung các  
điều luật  
Ngoài ra, cách trình bày in ấn của  
“Hoàng Việt luật lệ” cũng giống với bộ luật  
nhà Thanh. Ngoài các điều luật, điều lệ còn  
có mấy điểm đáng lưu ý sau đây:  
Về số lượng điều luật, “Hoàng Việt luật  
lệ” ít hơn “Đại Thanh luật lệ” 38 điều. 38  
điều luật này được chia ra các phần như sau:  
Bảng 1: So sánh số lượng điều luật giữa Hoàng Việt luật lệ và Đại Thanh luật lệ [2]  
Nội dung so sánh Hoàng Việt luật lệ Đại Thanh luật lệ  
Mục lục về tên gọi luật lệ  
45  
13  
11  
10  
16  
22  
2
46  
14  
15  
11  
17  
23  
8
Lại luật  
Hộ luật  
Chế độ quan chức  
Dân  
Điền trạch (ruộng, nhà)  
Hôn nhân  
Thương khố  
Hạn thuế  
Cấm buôn bán, họp chợ  
2
5
Binh luật Quân chính  
20  
5
21  
7
Đồn canh xét trên đất trên sông  
Chăn nuôi, chuồng trại  
Bưu dịch  
5
11  
16  
12  
11  
10  
9
12  
11  
9
Hình luật Kiện thưa  
Nhận của đút lót  
Phạm gian  
9
6
Công luật Xây cất  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
70  
VÕ mèi quan hÖ gi÷a...  
Về tên gọi của các điều luật, đại bộ phận tên gọi giống với các điều luật trong luật  
các điều luật trong luật nhà Nguyễn đều có Thanh. Có thể tham khảo bảng sau đây:  
Bảng 2: So sánh tên gọi giữa các điều luật của Hoàng Việt luật lệ và Đại Thanh luật lệ [3]  
Tổng số điều Số lượng điều Số lượng điều  
luật của  
luật có tên gọi luật có tên gọi  
Tên các mục  
Hoàng Việt  
giống luật  
khác luật  
luật lệ  
45  
13  
14  
11  
10  
16  
22  
2
Thanh  
44  
13  
14  
10  
9
Thanh  
Mục lục về tên gọi luật lệ  
1(điều 44)  
Chế độ quan chức  
Công chức thông dụng  
Dân  
Điền trạch  
Hôn nhân  
Thương khố  
Hạn thuế  
Cho vay tiền  
Cấm buôn bán, họp chợ  
Tế tự  
Nghi chế  
Vệ cấm  
Quân chính  
Đồn canh xét trên đất trên  
sông  
Chăn nuôi, chuồng trại  
Bưu dịch  
Giặc trộm  
0
0
Lại luật  
1(điều 74)  
1 (điều 90)  
16  
22  
2
0
Hộ luật  
0
0
3
3
0
2
2
0
6
6
0
Lễ luật  
20  
16  
20  
5
19  
16  
20  
5
1(điều 164)  
0
0
0
Binh luật  
5
12  
28  
20  
22  
8
11  
9
11  
9
11  
8
29  
6
4
5
12  
28  
20  
21  
8
11  
9
11  
9
11  
8
29  
6
4
0
0
0
0
Nhân mạng  
Đánh lộn  
Mắng nhiếc  
Kiện thưa  
Nhận của đút lót  
Trá ngụy  
Hình luật  
1(điều 274)  
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
Phạm gian  
Tạp phạm  
Bắt câu lưu  
Phán quyết  
Xây cất  
Công luật  
Đê điều  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
71  
NguyÔn thu thuû  
Trong số những điều luật khác tên kể trên ngoại trừ những điều kể trên, còn khoảng vài  
thì có hai điều (điều luật thứ 74 “Ẩn lậu dân chục điều trong luật Nguyễn không sao chép  
đinh” và điều luật thứ 164 “Trở nhân gia nguyên xi mà mô phỏng lại trên tinh thần  
sự”) là của riêng nhà Nguyễn, không tham giữ lại tên gọi và những nội dung cơ bản của  
khảo, sao chép luật nhà Thanh.  
các điều luật nhà Thanh có cải biến chút ít.  
Cụ thể như sau:  
Điều luật thứ 44 “Đồ lưu địa phương”  
của “Hoàng Việt luật lệ” bỏ đi hai chữ “thiên  
Phần “Danh luật lệ”, điều luật thứ 33  
đồ” so với điều luật thứ 45 “Đồ lưu thiên đồ “Hóa ngoại nhân hữu phạm” (Giáo hóa  
địa phương” của luật Thanh, trong nội dung người nước ngoài phạm tội) của “Hoàng Việt  
có thay đơn vị hành chính tỉnh bằng doanh luật lệ” tên gọi giống điều luật thứ 34 của  
trấn, lược bỏ một câu cuối và tên các địa “Đại Thanh luật lệ” nhưng nội dung thì hoàn  
phương lưu giữ người phạm tội lưu, tội đồ, toàn khác nhau. Luật Nguyễn quy định:  
còn đại thể nội dung của điều luật “Đồ lưu “Phàm người nước ngoài (đã hàng phục) mà  
thiên đồ địa phương” trong “Đại Thanh luật phạm tội thì đều căn cứ theo luật để xét.  
lệ” vẫn được bảo lưu [4].  
Người nước ngoài đã đến quy phụ thì là dân  
của nhà vua, nếu mắc tội cứ chiếu theo luật  
xét xử để chứng tỏ không phải là ngoài” [7].  
Trong khi đó, điều luật này của nhà Thanh  
nói về đối tượng những vùng còn lạc hậu  
phạm tội: “Những người vùng lạc hậu (đã  
hàng phục) nếu phạm tội vẫn chiếu theo luật  
mà xét xử. Bắt được những người ở những  
vùng lệ thuộc vẫn chiếu theo lệ đã định với  
người Mông Cổ để xét xử” [8].  
Điều luật thứ 90 “Đạo canh giá(稼)quan  
dân điền” của luật Nguyễn, so với điều luật  
thứ 96 “Đạo canh chủng(種) quan dân  
điền” trong luật Thanh tuy khác nhau một  
chữ nhưng nội dung hầu như không cải biến  
chút nào so với luật Thanh [5].  
Điều luật thứ 274 “Tôn thất thân bị ẩu”  
(Tôn thất, thân thuộc bị đánh) trong “Hoàng  
Việt luật lệ” và điều luật thứ 305 “Tôn thất  
giác la dĩ thượng thân bị ẩu” trong “Đại  
Thanh luật lệ” tuy tên gọi bỏ bớt đi bốn chữ  
“giác la dĩ thượng” nhưng trong nội dung  
điều luật chỉ bỏ bớt đối tượng “giác la dĩ  
Các điều luật còn lại trong “Hoàng Việt  
luật lệ” khác “Đại Thanh luật lệ” có thể  
phân thành mấy loại như sau:  
Thứ nhất, một số điều luật của “Hoàng  
thượng” còn hình phạt là giống điều luật của Việt luật lệ” chỉ thay đổi một chữ viết, các  
nhà Thanh [6].  
nội dung khác vẫn giữ nguyên. Những điều  
luật thuộc loại này chia thành hai loại nhỏ.  
Về nội dung của các điều luật, nếu làm  
một phép so sánh tỉ mỉ giữa “Hoàng Việt  
1. Những điều luật thay đổi một chữ viết  
luật lệ” và “Đại Thanh luật lệ” thì thấy, nhưng âm đọc và nghĩa vẫn giống nhau.  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
72  
VÕ mèi quan hÖ gi÷a...  
Bảng 3.1: Sự thay đổi chữ viết từ Đại Thanh luật lệ đến Hoàng Việt luật lệ [9]  
Đại Thanh  
luật lệ  
Hoàng Việt  
luật lệ  
Ý nghĩa  
Điều luật của  
Hoàng Việt luật lệ  
箇 (gè)  
逃 (táo)  
回 (huí)  
個 (gè)  
迯 (táo)  
囘 (huí)  
cái, con, quả…  
1, 8  
Trốn chạy, tháo chạy 24, 26, 168, 191, 198, 364  
trở về, quay lại… 65, 372  
Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng, không phải trong văn bản của hai bộ luật nhưng âm đọc  
trong mọi trường hợp chữ 箇 đều viết thành và nghĩa đều giống nhau. Do đó, sự thay đổi  
chữ 個, chữ 逃 viết thành chữ 迯, chữ 回 viết này không làm biến đổi nội dung của điều  
thành chữ 囘 trong “Hoàng Việt luật lệ”. luật nên có thể coi về cơ bản những điều luật  
Nhiều điều luật chữ 箇,逃 đều được giữ thuộc loại này vẫn giống điều luật của nhà  
nguyên giống như trong luật Thanh. Hoặc có Thanh.  
lúc chính luật Thanh cũng dùng chữ 個, chữ  
迯 và chữ 囘.  
2. Cùng một chữ trong “Đại Thanh luật  
lệ” nhưng được viết thành nhiều chữ khác  
Những chữ trên tuy được viết khác nhau nhau trong “Hoàng Việt luật lệ”.  
Bảng 3.2: Sự thay đổi chữ viết từ Đại Thanh luật lệ đến Hoàng Việt luật lệ [10]  
Đại Thanh luật lệ Hoàng Việt  
luật lệ  
Ý nghĩa  
Điều luật của Hoàng Việt  
luật lệ  
trở về, quay lại, quanh co, 14, 16, 75, 76, 77, 84, 94,  
還 (hái) – còn,  
囘 (huí)  
vòng vo, trả lời, báo đáp…  
95, 98, 103, 114, 115, 116,  
117, 124, 134, 157, 162,  
198, 209, 305, 317  
vẫn còn…  
囬 (huí)  
回 (huí)  
歸 (guī)  
trở về, quay lại…  
trở về, quay lại…  
trở về, quay về…  
106, 108, 143  
80, 91, 220  
12, 13, 23  
trùng lặp, sao chép, trở đi,  
復 (fù)  
10, 24  
trở lại  
紿 (dài)  
専 (zhuān)  
納 (nà)  
旋 (xuán)  
償 (cháng)  
仍 (réng)  
lừa bịp, lừa gạt  
chuyên  
nạp, tiếp cận, hưởng thụ  
xoay chuyển, trở về, trở lại  
đền, đền bù, bồi thường  
dựa vào, vẫn…  
109, 207  
123  
126, 137, 134, 194, 207  
198  
207, 392, 394  
231  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
73  
NguyÔn thu thuû  
合 (hé)  
hợp lại, tất cả, phù hợp…  
334  
vận chuyển, quyên tặng,  
輸 (shū)  
391, 393  
thua…  
訖 (qì)  
結 (jié)  
圑 (pǔ)  
備 (bèi)  
固 (gù)  
hoàn tất, xong xuôi, kết thúc 64  
kết quả  
vườn  
67  
完 (wán) –  
nguyên vẹn, kết  
thúc, hoàn thành  
77, 97, 98, 103, 108  
chuẩn bị, hoàn bị  
kiên cố, vững chắc…  
sáng sớm  
213  
394  
曉 (xiǎo) - sáng  
sớm  
旦 (dàn)  
200  
Sự khác nhau này đôi chỗ âm đọc khác thêm một mức tội. Tội đánh đến 100 roi thì  
nhau, nghĩa có khác biệt chút ít nhưng cũng thôi” [12]. Về nội dung này, điều luật 60  
không làm thay đổi những nội dung cơ bản trong “Hoàng Việt luật lệ” quy định: “Phàm  
của điều luật, thêm nữa chỉ có một chữ khác phụng chế thư để thi hành mà (cố tình) vi  
biệt nên những điều luật thuộc loại này cũng phạm (không thi hành) đánh 100 trượng.  
có thể coi là những điều luật giống luật Làm sai ý chỉ đều được giảm 3 mức tội. Thi  
Thanh.  
Thứ hai, một số điều luật trong “Hoàng  
Việt luật lệ” lược bớt một số câu chữ trong  
luật nhà Thanh.  
hành chậm trễ chế thư 1 ngày đánh 50 roi.  
Cứ chậm thêm một ngày tăng thêm một mức  
tội. Tội đánh đến 100 roi thì thôi” [13]. So  
với luật nhà Thanh, luật Nguyễn lược bỏ  
mệnh lệnh của Hoàng thái tử. Câu lược bỏ  
này không làm cho nội dung của điều luật  
thay đổi vì các mức án phạt đều giống nhau  
nhưng cũng cho thấy thời Thanh ở Trung  
Quốc quyền hành của Hoàng thái tử tương  
đối lớn. Những mệnh lệnh của Hoàng thái tử  
trong những điều kiện nhất định cũng có giá  
trị như mệnh lệnh của vua.  
Điều luật “Xuất sứ bất phụng mệnh” (Đi  
sứ về không tâu trình) trong “Đại Thanh luật  
lệ” quy định: “Phàm phụng chế sắc đi sứ  
(việc đi sứ đã xong) không về tâu trình mà  
tham dự vào việc khác (không liên quan đến  
việc đi sứ) thì bị đánh 100 trượng. Các nha  
môn đi sứ (đề đạt những việc tinh vi để phê  
chuẩn và những việc được giao phó việc đi  
Chẳng hạn, điều luật thứ 45 “Sung quân  
địa phương” trong luật Nguyễn bên cạnh  
việc thay thế đơn vị hành chính tỉnh bằng  
doanh, trấn và một số chữ trong nội dung  
chính đã lược bỏ một phần rất dài nói về các  
địa phương lưu giữ người bị sung quân đến  
trong luật Thanh.  
Điều luật về “Chế thư hữu vi” (Làm sai  
chế thư [11]) của “Đại Thanh luật lệ” có nội  
dung là: “Phàm phụng chế thư để thi hành  
mà (cố tình) vi phạm (không thi hành) đánh  
100 trượng, vi phạm mệnh lệnh của Hoàng  
thái tử cũng cùng tội. Làm sai ý chỉ đều  
được giảm 3 mức tội. Thi hành chậm trễ chế  
thư và mệnh lệnh của Hoàng thái tử 1 ngày  
đánh 50 roi. Cứ chậm thêm một ngày tăng  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
74  
VÕ mèi quan hÖ gi÷a...  
sứ đã xong) không về tâu trình lại tham dự  
vào việc khác (tham dự vào) việc bình  
thường bị đánh 70 trượng. Nếu là việc quân  
quan trọng thì bị đánh 100 trượng. Nếu (việc  
đi sứ chưa xong) vượt về lí (về lí không làm  
được), xâm phạm về phận (phận sự không  
được làm), xâm phạm vào chức năng làm  
việc của người khác, bị đánh 50 roi. Nếu trở  
về sau 3 ngày không giao nộp thánh chỉ (chế  
sắc) phạt 60 trượng, 2 ngày tăng thêm một  
bậc tội, tội đánh đến 100 roi thì thôi, nếu  
không giao nộp ấn tín đánh 40 roi, 3 ngày  
tăng thêm một bậc tội, tội đánh đến 80  
trượng thì thôi. Nếu (hoặc việc đi sứ không  
bình thường hoặc thánh chỉ, ấn tín bị hỏng)  
mà trốn tránh (không tâu trình không giao  
nộp) luận theo tội đồ nặng” [14].  
“Hoàng Việt luật lệ” về nội dung này quy  
định: “Phàm phụng chế sắc đi sứ (việc đi sứ  
đã xong) không về tâu trình mà tham dự vào  
việc khác (không liên quan đến việc đi sứ)  
thì bị đánh 100 trượng. Các nha môn đi sứ  
(đề đạt những việc tinh vi để phê chuẩn và  
những việc được giao phó việc đi sứ đã xong)  
không về tâu trình lại tham dự vào việc khác  
(tham dự vào) việc bình thường bị đánh 70  
kém tính chi tiết, cụ thể so với điều luật của  
nhà Thanh.  
Các điều luật 78, 89, 132, 138, 139, 234,  
355, 356, 391… của “Hoàng Việt luật lệ”  
cũng tương tự như vậy. Những điều luật này  
chỉ thêm vào hoặc bớt đi một vài từ, một vài  
câu còn nội dung cơ bản của điều luật trong  
luật Thanh hầu như vẫn được giữ lại nguyên  
vẹn và bản chất của điều luật là không thay  
đổi.  
Thứ ba, một số điều luật trong “Hoàng  
Việt luật lệ” đã lược bỏ, thay đổi một số tiểu  
tiết của luật nhà Thanh cho phù hợp hơn với  
Việt Nam.  
Chẳng hạn, điều luật “Ngũ hình” trong  
luật Thanh gậy trượng làm bằng “trúc” được  
thay bằng “song” trong luật Nguyễn. Một số  
điều luật thay đổi đơn vị hành chính tỉnh của  
Trung Quốc thành doanh, trấn của Việt  
Nam, chức danh lý trưởng của Trung Quốc  
bằng xã trưởng của Việt Nam. Điều này hợp  
lý với thiết chế xã hội Việt Nam đầu thế kỷ  
XIX khi “Hoàng Việt luật lệ” được ban  
hành. Những điều luật thuộc loại này như  
điều 32 “Xử quyết phản quân”, điều 44 “Đồ  
lưu địa phương”, điều 45 “Sung quân địa  
trượng. Nếu là việc quân quan trọng thì bị phương”, điều 80 “Đào tị sai dịch”, điều 141  
“Trí tế tự điển thần kỳ”…  
Luật Nguyễn, điều luật thứ 222 “Thừa  
quan súc sản xa thuyền phu tư vật” (Cưỡi  
đánh 100 trượng. Nếu (việc đi sứ chưa xong)  
vượt về lí (về lí không làm được), xâm phạm  
về phận (phận sự không được làm), xâm  
phạm vào chức năng làm việc của người ngựa, ngồi trên thuyền công mang kèm theo  
đồ riêng), chỉ bỏ bớt những loại súc vật (la,  
lừa, lạc đà…) và cối xay [16] còn lại nội  
dung và mức hình phạt giống hoàn toàn với  
điều luật 252 của luật Thanh. Điều luật thứ  
207 “Tể sát mã ngưu” (Đánh giết ngựa trâu)  
và điều 210 “Tư tá quan súc sản” (Lén  
khác, bị đánh 50 roi” [15]. So với điều luật  
của “Đại Thanh luật lệ” điều luật của nhà  
Nguyễn lược bỏ một đoạn dài phía sau. Việc  
lược bỏ này không làm thay đổi nội dung  
điều luật mà chỉ làm cho điều luật của  
“Hoàng Việt luật lệ” không dài dòng nhưng  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
75  
NguyÔn thu thuû  
mượn súc sản của nhà quan) của “Hoàng  
Thứ năm, sự khác biệt lớn nhất về mặt nội  
Việt luật lệ” chỉ loại bỏ một số con vật như: dung trong các điều luật của “Hoàng Việt  
la, lừa, lạc đà… còn về đại thể nội dung các luật lệ” và “Đại Thanh luật lệ” chính là ở  
mức hình phạt lần lượt giống với điều luật phần tiểu chú. Các điều luật của nhà Nguyễn  
thứ 233 [17] và 236 [18] của “Đại Thanh về cơ bản đều kế thừa tiểu chú của luật  
luật lệ”. Các điều luật 23, 209, 239, 317… Thanh, nhưng trong những trường hợp nhất  
của “Hoàng Việt luật lệ” cũng tương tự như định có thêm, bớt cho phù hợp hơn. Mục đích  
vậy.  
Thứ tư, hình phạt trong một số điều luật  
của “Hoàng Việt luật lệ” có thay đổi chút ít  
so với luật Thanh.  
của việc này là làm sáng rõ thêm nội dung  
của các điều luật chứ không nhằm thay đổi  
nội dung của điều luật. Số lượng chữ trong  
các tiểu chú tăng lên không nhiều nên không  
làm nội dung điều luật bị rườm rà.  
Điều 140 “Ải đại tự khưu đàn” (Phá hủy  
đàn tế lớn) của luật Nguyễn đã thay đổi hình  
phạt theo hướng tăng lên so với luật Thanh.  
Luật Thanh quy định: “Phàm phá hủy, làm  
hư hại đàn tế Đại tự không kể là vô tình hay  
cố ý đều xử phạt 100 trượng, bắt đi đày xa  
2000 dặm. Nếu là hạng Di môn (coi đắp đàn  
tế) thì giảm hai bậc (phạt 100 trượng, đồ hai  
năm rưỡi)” [19]. Trong khi đó, luật Nguyễn  
chỉ giảm một bậc cho hạng Di môn: “Phàm  
phá hủy, làm hư hại đàn tế Đại tự không kể  
là vô tình hay cố ý đều xử phạt 100 trượng,  
bắt đi đày xa 2000 dặm. Nếu là hạng Di môn  
(coi đắp đàn tế) thì giảm một bậc (phạt 100  
trượng, đồ hai năm rưỡi)” [20].  
Điều 237 “Bạch trú sang đoạt” (Cướp  
giật giữa ban ngày) luật Thanh quy định:  
“…Nguyên cùng người khác ẩu đả hoặc đi  
bắt tội phạm, nhân đó lấy trộm của cải, đồ  
vật thì tính số tang vật, chuẩn theo luật trộm  
cắp luận tội. Nhân đó cướp giật xử nặng  
thêm 2 mức, tội phạt mức cao nhất 100  
trượng, đày đi 2000 dặm, miễn thích chữ…”  
[21]. Mức hình phạt trong luật Nguyễn tăng  
lên so với luật Thanh từ “đày đi 2000 dặm”  
lên “đày đi 3000 dặm” [22].  
Lấy điều luật “Thượng thư trần ngôn”  
(Dâng thư bày tỏ ý kiến) làm ví dụ. Luật  
Thanh quy định: “Phàm các việc như chính  
lệnh đúng sai của quốc gia, hay dở của quân  
dân, hết thảy các việc hưng lợi trừ hại đều  
do các quan sáu bộ vào yết kiến tâu bày khu  
xử. Các quan khoa đạo, Đốc phủ ai nấy phải  
trình bày ý kiến một cách thẳng thắn, không  
được che giấu…” [23]. Luật Nguyễn quy  
định: “Phàm các việc như chính lệnh đúng  
sai của quốc gia, hay dở của quân dân, hết  
thảy các việc hưng lợi trừ hại đều do các  
quan sáu bộ vào yết kiến tâu bày khu xử.  
Các quan khoa đạo, Đốc phủ (Đốc phủ tức  
quan doanh trấn) ai nấy phải trình bày ý  
kiến một cách thẳng thắn, không được che  
giấu…” [24]. Câu giải thích “Đốc phủ tức  
quan doanh trấn” không có trong luật Thanh  
nhưng được bổ sung là tiểu chú trong luật  
Nguyễn để làm rõ hơn chức vụ Đốc phủ.  
Các điều luật 67, 128, 145, 183, 185, 188,  
196, 201, 206, 212… cũng tương tự như vậy.  
Đặc biệt, đôi khi, trong những trường hợp  
nhất định, luật Nguyễn không chỉ tiếp tục sử  
dụng các tiểu chú trong luật Thanh mà còn  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
76  
VÕ mèi quan hÖ gi÷a...  
biến các tiểu chú trong luật Thanh thành nội dưa chậm chạp và tất cả những việc công  
dung chính trong các điều luật của mình đều có kỳ hạn mà chậm trễ, vị phạm thời  
hoặc ngược lại những phần không phải là hạn, chậm trễ 1 ngày thì xử phạt 20 roi…”  
tiểu chú trong luật Thanh lại trở thành tiểu [27]. Luật Nguyễn quy định: “Phàm công  
chú trong luật Nguyễn.  
việc công có giải theo đồ vật công, tù nhân,  
súc vật mà những người sai nhân quản lý  
đưa đi mà dây dưa chậm chạp và những việc  
(tất cả là công) đều có kỳ hạn mà chậm trễ,  
vị phạm thời hạn, chậm trễ 1 ngày thì xử  
phạt 20 roi…” [28]. Câu “tất cả là công”  
trong luật Thanh không là tiểu chú thì trở  
thành tiểu chú trong luật Nguyễn. Các điều  
luật thuộc loại này còn có điều 271, 305,  
364, 383…  
Trong một số trường hợp, các tiểu chú dài,  
rườm rà trong luật Thanh cũng được nhà  
Nguyễn lược bớt một phần hoặc thay đổi cho  
phù hợp hơn với thực tiễn xã hội Việt Nam,  
chẳng hạn như các điều luật 156, 197, 222,  
321...  
Như vậy, trong tổng số 398 điều luật của  
“Hoàng Việt luật lệ”, ngoại trừ 2 điều luật là  
của riêng nhà Nguyễn, vài chục điều luật  
khác biệt chút ít so với các điều luật của nhà  
Thanh, các điều luật còn lại đều sao chép lại  
nguyên xi tên gọi lẫn nội dung kể cả các tiểu  
chú của các điều luật trong “Đại Thanh luật  
lệ”. Những điều luật được xem là khác biệt  
của “Hoàng Việt luật lệ” so với các điều luật  
của “Đại Thanh luật lệ” thì hoặc là thay đổi  
một vài chữ, hoặc là bỏ bớt một phần nội  
dung (một số câu trong điều luật), một số chi  
tiết không phù hợp với thực tế xã hội Việt  
Nam, hoặc là thay đổi hình phạt theo hướng  
tăng lên so với luật Thanh, hoặc là cải biến  
các tiểu chú... Sự khác biệt này theo chúng tôi,  
chưa đủ để tạo nên dấu ấn của nền lập pháp  
Chẳng hạn, điều luật “Phú dịch bất quân”  
(Thuế khóa, tạp dịch không đều), luật Thanh  
quy định: “Phàm các quan ti phân thu thuế  
lương và bắt phu phen tạp dịch đều phải căn  
cứ vào hiện số nhân đinh trong sổ mà định  
lập các hạng sai dịch cho đúng. Nếu tha  
người giàu, bắt người nghèo đổi thứ hạng  
thì gây ra tệ hại, nên cho phép dân nghèo bị  
bức hại đó đến cửa quan tố cáo các cấp từ  
dưới lên trên. Các quan ti này đều bị xử  
đánh 100 trượng (bắt phải sửa lại cho  
đúng)…” [25]. Luật Nguyễn quy định:  
“Phàm các quan ti phân thu thuế lương và  
bắt phu phen tạp dịch đều phải căn cứ vào  
hiện số nhân đinh trong sổ mà định lập các  
hạng sai dịch cho đúng. Nếu tha người giàu,  
bắt người nghèo đổi thứ hạng thì gây ra tệ  
hại, nên cho phép dân nghèo bị bức hại đó  
đến cửa quan tố cáo các cấp từ dưới lên  
trên. Các quan ti này đều bị xử đánh 100  
trượng, bắt phải sửa lại cho đúng…” [26].  
Câu cuối cùng “bắt phải sửa lại cho đúng”  
trong luật Thanh là tiểu chú, trong luật  
Nguyễn trở thành nội dung chính của điều  
luật. Các điều luật 108, 139, 140, 172, 173,  
352, 397… của luật Nguyễn cũng thuộc loại  
này.  
Điều luật “Công sự ứng hành kê trình”  
(Việc công cần kíp nhưng lại trậm trễ), luật  
Thanh quy định: “Phàm công việc công có  
giải theo đồ vật công, tù nhân, súc vật mà  
những người sai nhân quản lý đưa đi mà dây  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
77  
NguyÔn thu thuû  
Thanh luật lệ” cho thấy rõ ràng những nhà  
làm luật triều Nguyễn đã có những khảo sát,  
cân nhắc kỹ lưỡng để bớt đi những điều lệ  
không phù hợp của luật Thanh, giữ lại những  
điều lệ phù hợp với xã hội Việt Nam. Số  
lượng điều lệ của luật Nguyễn ít hơn so với  
luật Thanh cũng cho thấy tính bao quát của  
luật pháp lên các mặt của đời sống xã hội  
trong luật Nguyễn ít nhiều sẽ kém hơn so với  
luật Thanh và tất nhiên mức độ nghiêm khắc  
của các hình phạt trong luật Thanh (mở rộng  
đối tượng phạm tội, đối tượng bị liên đới,  
mức hình phạt…) chắc chắn cũng giảm đi ít  
nhiều trong luật Nguyễn.  
Lấy điều luật liên quan đến tội Mưu phản  
làm ví dụ. “Hoàng Việt luật lệ” và “Đại  
Thanh luật lệ” đều có các điều luật: “Mưu  
phản đại nghịch”, “Mưu phản”, “Tạo yêu  
thư yêu ngôn”. Luật Thanh có 13 điều lệ đi  
kèm 3 điều luật này, thì luật Nguyễn chỉ có 6  
điều. Theo đó, đối tượng phạm tội mưu  
phản, đối tượng liên đới không mở rộng  
Việt trong các điều luật của “Hoàng Việt luật  
lệ” nhưng nó thể hiện sự cố gắng, nỗ lực của  
các nhà làm luật thời Nguyễn trong quá trình  
sao chép một bộ luật của một vương triều  
khác ở một quốc gia khác, để bớt đi sự khập  
khiễng khi áp dụng vào xã hội Việt Nam thời  
Nguyễn.  
3. Số lượng và nội dung các điều lệ  
Trong “Đại Thanh luật lệ”, ngoại trừ việc  
sao chép gần như nguyên xi các điều luật  
của luật Minh thì những điều lệ đi kèm các  
điều luật được coi là một trong những nét  
đặc sắc mang tính thời đại của bộ luật nhà  
Thanh. Vì, ngoài việc giữ lại gần 300 điều lệ  
của luật Minh thì trong quá trình phát triển  
triều đại, “Đại Thanh luật lệ” cũng đã thêm  
vào rất nhiều điều lệ cho phù hợp với đòi hỏi  
của hiện thực xã hội thời Thanh. Những điều  
lệ này là sự bổ sung và hoàn thiện hơn các  
điều luật, đủ sức điều chỉnh những quan hệ  
xã hội mới phát sinh trong quá trình phát  
triển của triều đại, giúp cho người thi hành nhiều như luật Thanh, mức độ hình phạt  
luật và người thực hiện luật đều thuận tiện.  
cũng nhẹ hơn so với luật Thanh [30].  
So với “Đại Thanh luật lệ” thì số lượng  
điều lệ của “Hoàng Việt luật lệ” ít hơn rất  
nhiều. “Hoàng Việt luật lệ” chỉ có 593 điều  
lệ, trong khi “Đại Thanh luật lệ” có đến  
1765 điều lệ [29]. Trong số gần 600 điều lệ  
này, chỉ có khoảng trên dưới 50 điều lệ là  
của riêng nhà Nguyễn, một số điều lệ có thay  
đổi chút ít về mặt nội dung hay mức hình  
phạt. Còn lại, khoảng hơn 300 điều lệ là sao  
chép nguyên xi từ “Đại Thanh luật lệ”.  
Trong những điều luật về kinh tế, “Hoàng  
Việt luật lệ” lược bỏ hoàn toàn những điều  
luật liên quan đến chính sách độc quyền đối  
với muối, phèn, chè... Do đó, hơn 30 điều lệ  
của các điều luật này trong luật Thanh cũng  
bị lược bỏ trong luật Nguyễn [31].  
Về chính sách “hải cấm”, luật Nguyễn chỉ  
sao chép lại điều luật thứ 225 “Tư xuất ngoại  
cảnh cập vi cấm hạ hải” (Lén xuất ngoại và  
phạm cấm xuống biển) của luật Thanh, lược  
bỏ toàn bộ 36 điều lệ kèm theo điều luật này.  
Điều luật của nhà Nguyễn chỉ có 1 điều lệ  
Sự giảm bớt của số lượng các điều lệ  
trong “Hoàng Việt luật lệ” so với “Đại  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
78  
VÕ mèi quan hÖ gi÷a...  
kèm theo và không phải sao chép từ luật định về hôn nhân của các dân tộc thiểu số:  
Thanh [32]. Vì thế, chính sách “hải cấm” Mông Cổ, Hồi…). Trong số những điều lệ  
trong luật Nguyễn không có những quy định này có những điều đã tước bỏ hoàn toàn  
cụ thể liên quan đến việc đi biển, đóng quyền tự do hôn nhân. Việc hôn nhân đều  
thuyền, buôn bán, giao lưu với người nước bắt buộc phải tuân theo sự sắp xếp của ông  
ngoài… như luật Thanh. Và đương nhiên, bà, cha mẹ hoặc những người thân.  
điều đó cũng chứng tỏ, cấp độ của chính sách  
*
“hải cấm” của nhà Nguyễn cũng không mạnh  
mẽ và nghiêm ngặt như nhà Thanh, ít nhất là  
ở phương diện luật pháp.  
Trên đây là những khảo cứu bước đầu  
về mối quan hệ giữa hai bộ luật của nhà  
Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng nhà Nguyễn và nhà Thanh (chủ yếu dưới góc độ  
Nguyễn và nhà Thanh đều tồn tại trong bối văn bản). Kết quả này hi vọng sẽ là nguồn  
cảnh lịch sử có nhiều nét tương đồng: cùng tham khảo để các nhà luật học, nhà sử học  
là triều đại của một quốc gia theo hình thái thêm một góc nhìn về bộ luật “Hoàng Việt  
chế độ quân chủ phương Đông ở giai đoạn luật lệ”. Ở những bài viết sau, chúng tôi sẽ  
cuối, cùng phải đối mặt với những thách đối chiếu kỹ lưỡng hơn bộ luật “Hoàng Việt  
thức lịch sử trước cơ hội phát triển của quốc luật lệ”, nhất là phần lệ và đặt nó trong mối  
gia.... Điều đó quy định những điểm tương tương quan với các bộ luật khác của Trung  
đồng nhất định trong chính sách quản lý xã Hoa phong kiến (như luật nhà Minh) để có  
hội và những chế định pháp luật của nhà thể làm rõ thêm một số điểm về đặc điểm và  
Nguyễn và nhà Thanh.  
tính chất của bộ luật “Hoàng Việt luật lệ”.  
“Hoàng Việt luật lệ” thực tế đã bảo lưu  
rất nhiều điều lệ (hơn 300 điều) của “Đại  
Thanh luật lệ”, trong số đó, những điều lệ  
bảo vệ hạt nhân của chế độ quân chủ là  
CHÚ THÍCH:  
[1] Chúng tôi đã trình bày vấn đề này ở một  
hoàng quyền và chế độ gia trưởng phụ quyền công trình nghiên cứu khác có tên gọi là: “Đại  
gần như được giữ lại nguyên vẹn.  
Thanh luật lệ” đã kế thừa và phát triển luật nhà  
Minh như thế nào, Tạp chí Nghiên cứu Trung  
Quốc, số 10 (110), tháng 10/2010, tr.77 – 86.  
Chẳng hạn, về tội Mưu phản, luật Nguyễn  
có 6 điều lệ đi kèm các điều luật, trong đó  
3/6 điều lệ là của “Đại Thanh luật lệ”. Hoặc  
[2], [3], [9], [10] Số liệu tổng hợp từ: 皇越律例  
như điều luật “Biệt tịch dị tài” (Chia gia tài (Hoàng Việt luật lệ - Bản chữ Hán lưu tại Viện Sử  
gia đình khác danh hộ), luật Nguyễn cũng học Việt Nam, KH: HV497); 大 清律例 (Đại  
giữ lại nguyên vẹn những điều lệ bảo vệ chế Thanh luật lệ - Bản chữ Hán điện tử).  
độ gia trưởng phụ quyền của điều luật này.  
[4] Xin xem thêm: 皇越律例,卷二,名律例  
Về luật Hôn nhân, “Hoàng Việt luật lệ” 上 (Hoàng Việt luật lệ, Quyển 3, Danh luật lệ hạ,  
giữ lại 12/23 điều lệ của luật Thanh (những Sđd); 大清律例,卷五,名律例上 (Đại Thanh  
điều lệ còn lại của luật Thanh là những quy luật lệ, Quyển 5, Danh luật lệ hạ, Sđd).  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
79  
NguyÔn thu thuû  
[5] Xin xem thêm: 皇越律例,卷 6,户律,田  
宅 (Hoàng Việt luật lệ, Quyển 6, Hộ luật, Điền  
trạch, Sđd); 大清律例,卷九,户律,田宅 (Đại  
Thanh luật lệ, Quyển 9, Hộ luật, Điền trạch, Sđd).  
[19] 大清律例,卷十七,禮律,祭祀 (Đại  
Thanh luật lệ, Quyển 17, Lễ luật, Tế tự, Sđd).  
[20] 皇越律例,卷九,禮律,祭祀(Hoàng Việt  
luật lệ, Quyển 9, Lễ luật, Tế tự, Sđd).  
[6] Xin xem thêm: 皇越律例,卷十五,刑律,  
闘毆 (Hoàng Việt luật lệ, Quyển 15, Hình luật,  
Đấu ẩu, Sđd); 大清律例,卷二十五,刑律,闘毆  
(Đại Thanh luật lệ, Quyển 27, Hình luật, Đấu ẩu,  
Sđd).  
[21] 大清律例,卷二十四,刑律,贼盗中 (Đại  
Thanh luật lệ, Quyển 24, Hình luật, Đạo tặc trung,  
Sđd).  
[22] 皇越律例,卷十二,刑律,贼盗中 (Hoàng  
Việt luật lệ, Quyển 12, Hình luật, Đạo tặc trung,  
Sđd).  
[7] 大清律例,卷五,名律例下 (Đại Thanh  
luật lệ, Quyển 5, Danh luật lệ hạ, Sđd).  
[23] 大清律例,卷二十一,禮律,儀制 (Đại  
Thanh luật lệ, Quyển 21, Lễ luật, Nghi chế, Sđd).  
[8] 皇越律例,卷三,名律例下 (Hoàng Việt  
luật lệ, Quyển 3, Danh luật lệ hạ, Sđd).  
[24] 皇越律例,卷九,禮律,儀制 (Hoàng Việt  
luật lệ, Quyển 9, Lễ luật, Nghi chế, Sđd).  
[11] Chế thư là chép lại lời của vua, như các  
loại chiếu xá, dụ, sắc.  
[25] 大清律例,卷八,戶律,戶役 (Đại Thanh  
luật lệ, Quyển 8, Hộ luật, Hộ dịch, Sđd).  
[12] 大清律例,卷七,史律,公式 (Đại Thanh  
luật lệ, Quyển 7, Lại luật, Công thức, Sđd).  
[26] 皇越律例,卷六,戶律,戶役 (Hoàng Việt  
luật lệ, Quyển 6, Hộ luật, Hộ dịch, Sđd).  
[13] 皇越律例,卷五,史律,公式 (Hoàng Việt  
luật lệ, Quyển 5, Lại luật, Công thức, Sđd).  
[27] 大清律例,卷二十二,兵律,郵驛 (Đại  
Thanh luật lệ, Quyển 22, Binh luật, Bưu dịch, Sđd).  
[14] 大清律例,卷七,史律,公式 (Đại Thanh  
luật lệ, Quyển 7, Lại luật, Công thức, Sđd).  
[28] 皇越律例,卷十一,兵律,郵驛 (Hoàng  
Việt luật lệ, Quyển 11, Binh luật, Bưu dịch, Sđd).  
[15] 皇越律例,卷五,史律,公式 (Hoàng Việt  
luật lệ, Quyển 5, Lại luật, Công thức, Sđd).  
[29] Số liệu tổng hợp từ: 皇越律例 (Hoàng  
Việt luật lệ), Sđd; 大清律例 (Đại Thanh luật lệ),  
Sđd.  
[16] 皇越律例,卷十一,兵律,郵驛 (Hoàng  
Việt luật lệ, Quyển 11, Binh luật, Bưu dịch, Sđd);  
大清律例,卷二十二,兵律,郵驛 (Đại Thanh luật  
lệ, Quyển 22, Binh luật, Bưu dịch, Sđd).  
[30] 皇越律例,卷十二,刑律,贼盗上 (Hoàng  
Việt luật lệ, Quyển 12, Hình luật, Đạo tặc thượng,  
Sđd); 大清律例,卷二十三,刑律,贼盗上 (Đại  
Thanh luật lệ, Quyển 23, Hình luật, Đạo tặc  
thượng, Sđd).  
[17] 皇越律例,卷十一,兵律,廄牧 (Hoàng  
Việt luật lệ, Quyển 11, Binh luật, Cứu mục, Sđd);  
大清律例,卷二十一,兵律,廄牧 (Đại Thanh luật  
lệ, Quyển 21, Binh luật, Cứu mục, Sđd).  
[31] 大清律例,卷十三,戶律,課程 (Đại  
Thanh luật lệ, Quyển 13, Hộ luật, Khóa trình, Sđd).  
[18] 皇越律例,卷十一,兵律,廄牧 (Hoàng  
Việt luật lệ, Quyển 11, Binh luật, Cứu mục, Sđd);  
清律例,卷二十一,兵律,廄牧 (Đại Thanh luật  
lệ, Quyển 21, Binh luật, Cứu mục, Sđd).  
[32] 皇越律例,卷十一,兵律,關津 (Hoàng  
Việt luật lệ, Quyển 11, Binh luật, Quan tấn, Sđd);  
大清律例,卷二十,兵律,關津 (Đại Thanh luật  
lệ, Quyển 20, Binh luật, Quan tấn, Sđd).  
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 7(119) – 2011  
80  
pdf 12 trang yennguyen 22040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Về mối quan hệ giữa "Hoàng Việt luật lệ" và "Đại Thanh luật lệ"", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfve_moi_quan_he_giua_hoang_viet_luat_le_va_dai_thanh_luat_le.pdf