Vấn đề “tham gia” trong hoạt động xây dựng nông thôn mới Trà Vinh - Thực trạng và hướng đề xuất giải pháp

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
VẤN ĐỀ “THAM GIA” TRONG HOẠT ĐỘNG  
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÀ VINH  
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP  
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Đệ  
NCS. Đoàn Thị Nguyệt Minh  
1. Giới thiệu  
Vấn đề “Tham gia” hiện nay là đề tài phổ biến và là tiêu điểm rất “nóng”  
của tất cả các nhà làm công tác phát triển cộng đồng, các nhà hoạch định chính  
sách. Và một điều không thể phủ nhận nữa là con người với hằng hà các vấn đề  
xoay quanh cuộc sống, tuy nhiên không vấn đề nào có thể được giải quyết mà  
không cần có sự “tham gia”. Cho nên vấn đề này luôn được các nhà làm chính  
sách xem xét và nghiên cứu dưới nhiều góc độ với mong muốn sẽ có hướng cải  
thiện tích cực trong nay mai để mọi vấn đề theo sau cũng nhanh chóng được  
khắc phục, nhằm đạt mục tiêu cuối cùng là Cộng đồng (CĐ) khu vực nông thôn  
sớm được “Đổi mới” về “Lượng-chất” thực sự. Cụ thể trong công tác xây dựng  
nông thôn mới (XDNTM) tại Trà Vinh hiện nay cũng không ngoại lệ, để đạt  
được mục tiêu lớn này thì CĐ cần hiểu được bản chất của mọi vấn đề đang đặt  
ra đúng nghĩa và nỗ lực nâng cao năng lực tham gia nhiều hơn, đồng thời phải  
xem đây là việc làm quan trọng cần đặt lên hàng đầu, song hành cùng các quá  
trình khác trong lúc đi tìm cách chinh phục và đối phó các khó khăn “gói gọn”  
trong vấn đề tham gia này. Thật vậy, kết quả trong hoạt động XDNTM vừa qua  
tỉnh Trà Vinh đã có được một đúc kết với những bài học trãi nghiệm đáng ghi  
nhớ, đặc biệt việc huy động “tham gia” CĐ còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên  
dù đạt được kết quả bước đầu như thế nào thì người dân tỉnh Trà Vinh cũng đã  
không ngừng tự hào về những thành tựu mà họ đã cùng nhau nổ lực phấn đấu.  
Bức tranh Nông thôn mới hôm nay đã tô điểm thêm cho CĐ Trà Vinh những  
con người “kiên cường” không ngại khó khăn và rất “đồng lòng” vực dậy.  
“Đậm đà” bản sắc nhân dân tỉnh Trà Vinh, khắc lên một dấu ấn khó quên trong  
Khoa Phát triển nông thôn, Trường Đại học Cần Thơ.  
  
Nghiên cứu sinh ngành Phát triển nông thôn, Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL, Trường  
Đại học Cần Thơ.  
359  
lòng người dân cả nước nói chung và miền sông nước ĐBSCL nói riêng về một  
quãng đường đi với những khoảnh khắc thời gian nhiều biến đổi, Chương trình  
mục tiêu quốc gia XDNTM đã thật sự đưa Trà Vinh của ngày hôm nay khác  
biệt hoàn toàn so với ngày hôm qua. Điều đó cho thấy toàn tỉnh có sự vận động  
và phát triển không ngừng. Mặc dù xuất phát điểm với nguồn lực hạn hẹp, cơ  
sở hạ tầng thấp kém, trình độ dân trí thấp, không đồng đều, kinh tế tỉnh còn  
nhiều khó khăn, cơ cấu ngành nghề chưa tương xứng, đều dựa vào nông nghiệp  
làm chủ lực, dịch vụ và các hoạt động tiện ích chiếm phần trăm rất thấp, chưa  
mang lại được cho người dân đời sống đảm bảo và sự ổn định về lâu dài cũng  
như một chất lượng đời sống chưa được nâng cao thõa mãn hết các nhu cầu về  
giá trị vật chất lẫn tinh thần như bao tỉnh bạn. Cùng mọi sự quản lý từ trên  
xuống còn nhiều “ắp đặt”, các “ấn định” về thể chế, chính sách chưa linh hoạt  
tháo gỡ, khó khăn lại chồng chất khó khăn vậy mà thời gian trôi qua vẫn đẩy  
đưa con người Trà Vinh “dày dạn” tiến tới và đến thời điểm hiện nay tỉnh đã  
“trở mình” đi lên thấy rõ. Song vẫn chưa là kết quả toàn mĩ phần lớn là vì còn  
tồn tại vấn đề về “rào cản” tham gia chưa được dỡ bỏ, cùng sự nhìn nhận chưa  
“thấu đáo” khái niệm của hai từ “Tham gia” nên CĐ chưa đưa Trà Vinh phát  
triển sánh cùng với các tỉnh lân cận trong vùng. Câu hỏi gợi mở: có phải phần  
đông trong sự vận động toàn cảnh vẫn còn tồn tại nhiều góc “tĩnh tại” nào đó  
chưa được “Đánh thức”? Và mọi tiềm năng, tiềm lực chưa được phát huy? Phải  
chăng sự tham gia của CĐ chưa hoàn toàn là “chủ động” đúng nghĩa, chưa bắt  
nguồn từ phía nhân dân thực sự “tự nguyện”. Liệu chăng con người không cần  
thực “Động” mà vẫn tới “Đích điểm”? Với điểm đích vừa tổng kết giai đoạn 1  
thì khách quan đã khẳng định nhiều về mọi nỗ lực “tham gia” tại Trà Vinh là  
thật sự. Tuy nhiên CĐ đã và đang vận hành tham gia theo bản chất xu hướng  
nào? Trạng thái nào? Thì cần có phản hồi từ khách quan bên ngoài nhìn nhận  
và đóng góp. Chắc chắn Kết quả sẽ chỉ tốt hơn khi CĐ có lĩnh hội về sự tham  
gia trọn vẹn hơn. Đó cũng là lý do hướng nghiên cứu bàn về việc nhìn nhận  
“Vấn đề tham gia trong hoạt động XDNTM Trà Vinh – Thực trạng và hướng đề  
xuất giải pháp” cần được xem xét và thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu xem xét  
lại bản chất các vấn đề đặt ra từ khái niệm tham gia, để đề xuất khái niệm theo  
cách tiếp cận mới và gợi ý hướng đề xuất giải pháp mang tính “căn cơ” nhằm  
sớm giải quyết “triệt để” vấn đề còn tồn tại trong tham gia.  
360  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
2.Nội dung nhận định vấn đề “tham gia” trong hoạt động  
XDNTM Trà Vinh  
2.1. Các vấn đề về “tham gia”  
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên các quan điểm duy vật lịch sử biện  
chứng và quan điểm toàn diện. Thật vậy, thực tiễn trong mọi cách thức phân  
tích và nhìn nhận vấn đề đều phải dựa trên một số quan điểm nòng cốt nhất  
định. Trước khi đi tìm Giải Pháp cải thiện mọi vấn đề đang đặt ra thì việc xác  
định đâu là vấn đề cuối cùng, đồng thời xem xét bản chất của vấn đề này nên  
hiểu và gắn với bối cảnh thực tế phát sinh, vào từng thời điểm cụ thể nào, tính  
cấp thiết quan trọng ra sao? Những đòi hỏi và độ khó đến đâu rồi từ đó tìm  
kiếm đâu mới là nguyên nhân “mấu chốt”, trước khi tìm hướng giải quyết thì  
việc đề xuất giải pháp mới bám sát vào thực tế và đi thẳng được vào trọng tâm  
mục tiêu cần đạt được. Trong tham gia XDNTM tại Trà Vinh theo nghiên cứu  
đặt ra các vấn đề cụ thể cần được bàn bạc như sau:  
Vấn đề đầu tiên hiện nay là xét về bản chất của trạng thái “tham gia” của  
CĐ trong thời gian vừa qua. Tại sao vạn vật thế giới xung quanh luôn biến đổi?  
Vậy thì CĐ Trà Vinh đã thật sự biến đổi chưa và đã biến đổi theo trạng thái  
nào? Giả sử với mối quan tâm tham gia hay không tham gia của CĐ vào tất cả  
các hoạt động nói chung cũng như trong XDNTM nói riêng ứng với mức hiểu  
và nhận thức được ý nghĩa cũng như nhìn nhận được lợi ích từ tham gia sẽ  
mang đến cho CĐ một sự đổi mới về chất lượng đời sống thì mọi biến đổi từ  
trạng thái tham gia “thụ động” sẽ nhanh đến “năng động” là rõ ràng hơn. Nếu  
CĐ hiểu bản chất “tham gia” là vận động cần thiết thì chắc chắn CĐ đã ở trong  
khái niệm biến đổi thật sự. Tuy nhiên tùy mức vận động, tức tham gia đạt mục  
tiêu nào thì sẽ xác định được trạng thái biến đổi tương ứng với kết quả mà CĐ  
đang gặt hái được. Và tùy về nhận thức tham gia cao hay thấp thì thành tích đạt  
được của sự biến đổi từng cá nhân trong CĐ là khác nhau dẫn đến bức tranh  
NTM Trà Vinh “đổi mới” là từ bên trong hay chỉ là cơ sở hạ tầng bên ngoài. Vì  
Nông thôn mới thực chất là nền nông nghiệp mới với những con người mới  
(chủ yếu là tư duy đổi mới). Đúng với quy luật “Dòng chảy” rằng “Không ai có  
thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông” - luận điểm của Hêraclit- nhà triết  
gia vĩ đại thời Hy Lạp cổ đại đã khẳng định rằng tất cả mọi sự vật và hiện  
tượng luôn biến đổi và phát triển không ngừng, cũng như dòng sông kia luôn  
thay nước mới, nước luôn được vận động chảy trôi, thì lẽ nào con người đứng  
yên không thay đổi mà đi đến mục tiêu cuối cùng trong cuộc đời mình. Và tất  
361  
nhiên con người không ai muốn “đứt quãng” ở giữa đường. Và chính quy luật  
này đã chỉ ra một điều là để thích ứng quy luật tự nhiên con người cần uyển  
chuyển biến đổi theo. Nếu CĐ lĩnh hội được quy luật này sẽ đi đến quan tâm  
“tham gia” ngày một cao, và đây là tham gia từ suy nghĩ đến hành động bước  
đầu. Và để thuận theo quy luật vũ trụ tất cả đều không thể nào bất biến, bất  
định mà CĐ nên luôn ứng biến, linh hoạt, linh động thích nghi với mọi điều  
kiện hoàn cảnh để sinh tồn. CĐ nên đón nhận khái niệm tham gia thuộc về bản  
chất tự nhiên là “động” vốn có cùng các yếu tố ảnh hưởng tác động đi kèm  
theo: (1) yếu tố khách quan bên ngoài, bề nổi, hữu hình tức bên ngoài môi  
trường đã tác động vào bên trong con người với hành vi “tham gia” đang thực  
hiện (có thể đo lường và kiểm soát được), (2) yếu tố chủ quan thuộc về bên  
trong con người chủ thể, nhưng con người là thực thể “phức tạp” những gì bên  
trong con người do con người quyết định nhưng vẫn còn tồn tại bề ẩn, vô hình  
bao trùm trong không gian vũ trụ đa chiều không phải con người có thể toàn  
năng kiểm soát, và khống chế được, lại càng khó để đo lường và tận tường cần  
phải lưu tâm thêm. Tức là có tham gia là sẽ có tiếp nhận các phản ứng tác động  
từ ngoài vào hay chính tự bên trong được đánh thức. Với lập luận trên nghiên  
cứu đề xuât Trà Vinh nên tư duy về “Tham gia” với trạng thái “động” theo  
hướng này nhằm đảm bảo sinh tồn cho chính cá nhân từng thành viên CĐ chứ  
không cho ai, và ngược lại. Như vậy thì CĐ sẽ nỗ lực hơn trong thời gian tới  
nhằm đạt mục tiêu của cuộc đời cá nhân con người và cũng là mục tiêu mà các  
chương trình phát triển CĐ nói chung cũng như CTMTQGXDNTM nói riêng là  
cực kỳ cần thiết.  
Vấn đề thứ hai muốn xét đến là nội dung công tác “tham gia” XDNTM  
từng giai đoạn gắn với những mục tiêu cụ thể và quản lý theo mục tiêu đề ra.  
Nâng khái niệm Tham gia làm sao để gắn được mục tiêu đạt về “chất” và  
“lượng” nhằm bảo đảm tính bền vững và nâng chất lượng đời sống CĐ. Nâng  
tham gia như thế nào để mọi nhu cầu con người ngày càng thõa mãn (Giá trị  
thuộc về vật chất, tinh thần). Tức quan tâm đến cái “lõi” của sự tham gia chứ  
không là “võ” bề ngoài hình thức của hai từ này? Đây là mục tiêu lớn xuất phát  
từ các mục tiêu nhỏ của các tiểu thành viên CĐ, tiểu gia đình là tế bào của xã  
hội mà hình thành. Do đó, tất cả mọi hoạt động tham gia nào đó gắn bó với sự  
hình thành và phát triển của con người đều được xem là hoạt động cơ bản cần  
thiết đáp ứng cho nhu cầu sinh tồn của con người. Đúng như Paul (1987) cho  
rằng chỉ là vì một mục đích cụ thể được vạch ra và vì những giá trị CĐ mong  
362  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
đợi mà Sự tham gia ở đây được hiểu là hành động và không ngừng hoạt động,  
tức là con người luôn ở trạng thái “động” để tham gia vì một mục đích cụ thể  
nhất định.  
Vấn đề thay đổi tư duy cải thiện tham gia nên gắn với những đề xuất Giải  
pháp thuộc về “căn cơ” mới hiệu quả. Con người hiện nay đang đối mặt với  
hàng trăm, hàng nghìn vấn đề chưa được giải quyết cứ phát sinh chồng chất  
hằng ngày và cũng chỉ bởi cách giải quyết cũ - giải pháp phần “ngọn”, cho nên  
kết quả là thực trạng xã hội hiện nay chưa có sự biến đổi khác biệt để thõa mãn  
mọi mong đợi của con người. Vì nhiều lý do, trong đó có lý do chưa cùng một  
nhận thức thay đổi tư duy về tham gia. Tuy nhiên không có bất cứ vấn đề nào  
“Mới” phát sinh được giải quyết thõa đáng mà lại không dựa vào các vấn đề  
“Cũ” còn tồn đọng cần phải “dứt điểm”. Các vấn đề tiếp theo của con người dù  
là có mới “nóng bỏng” quan trọng đến đâu thì con người cũng cần song hành  
tìm thấy giải pháp cả “gốc” lẫn “ngọn”. Tuy nhiên đối với vài vấn đề ưu tiên  
trước mắt được ví là khẩn cấp, muốn giải quyết thì Giải pháp phần “ngọn” cũng  
là cần thiết giống như ta điều trị các bệnh cấp tính vậy không thể không cần  
liệu pháp tây y “cấp cứu” để chữa trị kịp thời, nhưng với các bệnh mãn tính lâu  
ngày không khỏi thì chỉ là liệu pháp trị tận gốc thuộc về liệu pháp Đông y, tức  
trị tại “tâm bệnh” mới giúp người bệnh triệt tiêu mầm bệnh và phục hồi trở lại.  
Vậy cho nên tựu trung tất cả vấn đề phần lớn là do con người mà ra, nên một  
ngày nào con người chưa tìm thấy nguyên nhân “gốc rễ” hay là “căn cơ” bản  
chất mọi vấn đề của con người thì rất khó để mà khắc phục. Khi con người hiểu  
vấn đề này thấu đáo, vận dụng quan điểm này vào thực tiễn thì tất nhiên con  
người cũng sẽ tự mình có được các phương thức giải quyết triệt để vấn đề của  
mình. Ngược lại nếu CĐ này lao vào khám phá đề xuất các giải pháp, đề xuất  
chiến lược giải quyết các vấn đề của CĐ khác mà không từ “gốc rễ” tường tận,  
kết quả sẽ hoài công vô ích. Thêm nữa thực tế cho thấy, vì dù là các giải pháp  
“tuyệt vời” ra sao đi chăng nữa thì có hay không có sự tham gia của tất cả các  
bên mới quyết định thành công. Và theo xu thế phát triễn “vũ bão” của thế giới  
nếu xét về “bản chất” thì “tham gia” bây giờ phải hoàn toàn là nghiêng nhiều về  
trạng thái “động”, khác hoàn toàn với bản chất vấn đề nghiên cứu trước với  
nghĩa tham dự “tĩnh tại” thì mới mong đuổi kịp. Nếu ví hành động “tham gia”  
như hoạt động hô hấp, như hơi thở, sự sống của con người thì con người sẽ  
không bao giờ ngừng hô hấp để thở cũng là con người phải cùng đồng hành  
tham gia hướng về cùng mục tiêu mà loài người ai cũng mong đợi. Và quan  
363  
trọng không kém nếu các mục tiêu này đồng nhất, tương thuận, tương sinh,  
không mục tiêu nào làm cản trở mục tiêu nào, tức không có sự tham gia nào  
làm tổn thất ảnh hưởng đến lợi ích chung của nhân loại thì mọi hoạt động tham  
gia con người đều đóng góp lớn vào sự tiến bộ của loài người và của xã hội.  
Cần khẳng định thay đổi tư duy trong “tham gia” là cần thiết và cấp bách trước  
khi đi tìm giải pháp để nâng cao năng lực tham gia  
2.2. Tổng quan kết quả hoạt động tham gia trong XDNTM tại Trà Vinh  
Hòa với sự phát triển và cạnh tranh không ngừng với các tỉnh lân cận khu  
vực ĐBSCL trong công tác XDNTM, CĐ Trà Vinh hiện nay đã kêu gọi không  
ngừng sự đoàn kết gắn bó tập trung mọi nguồn lực cùng tham gia. Thời gian  
vừa qua đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên vẫn chưa hoàn toàn là kết  
quả cuối cùng thõa mãn hết các mục tiêu CĐ, phần lớn được xác định là do nổ  
lực CĐ tham gia chưa cao, và còn những khó khăn khác. Cụ thể với các kết quả  
đạt được trong tham gia XDNTM tại Trà Vinh như đã tổng kết giai đoạn 1 vừa  
qua theo nghiên cứu của (Minh, 2017) nhận định thì bức tranh NTM Trà Vinh  
đã hoàn toàn khởi sắc. Tỉnh đã “lột xác” hơn so với thời điểm mới tách tỉnh từ  
tỉnh Cửu Long (tháng 5/1992). Với nét đặc trưng, nổi bật về các thành phần  
mang tính “Đa”: đa đặc thù, đa dân tộc (321.084 người Khmer, chiếm 31,63%  
và 8.553 người Hoa chiếm 0,85% so với dân số chung của tỉnh, ngoài ra còn có  
dân tộc người Chăm, Ấn nhưng số lượng rất ít); đa tôn giáo, đa tín ngưỡng mà  
hợp thành một trà Vinh đa bản sắc văn hóa, nên gây nhiều khó khăn cho sự  
đồng nhất, đồng bộ trong việc đồng hành trong huy động cùng tham gia. Song  
đến nay toàn cảnh tỉnh đã chuyển biến, khởi sắc không ngừng tăng trưởng và  
phát triển. Trà Vinh đổi mới căn bản toàn diện trên các mặt kinh tế, văn hóa,  
chính trị xã hội ổn định, tất cả được phản ảnh thông qua kết quả đạt được theo  
nhóm tiêu chí lớn với số liệu được minh họa cụ thể như sau:  
364  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
Bảng 1. Tổng kết quả thực hiện bộ tiêu chí xã nông thôn mới theo nhóm  
Nguồn: Ban chỉ đạo NTM Tỉnh TV, 2016  
Với số tiêu chí trung bình/ xã là 13.9 đươc tổng kết trong giai đoạn 1 thì CĐ  
tham gia ở hầu hết các tiêu chí, Theo Đoàn Thị Nguyệt Minh, 2017 trong kết  
luận từ nghiên cứu tổng quan đánh giá các kết quả đạt được từ hoạt động tham  
gia dựa trên điều kiện kinh tế hộ thì mức tham gia của hộ giàu đều cao hơn hai  
nhóm hộ còn lại, hộ nghèo có mức tham gia thấp nhất. Nếu xét về mức tham  
gia theo từng lĩnh vực tiêu chí của cả 3 nhóm hộ, thì nhìn chung việc tham gia  
vào tiêu chí quy hoạch và các tiêu chí hạ tầng kinh tế xã hội khá thấp. Các tiêu  
chí về văn hóa, môi trường, tổ chức sản xuất và an ninh trật tự được nông hộ  
tham gia đóng góp nhiều hơn. Kết quả trên chứng tỏ có sự nỗ lực không nhỏ  
của chính quyền và dân trong đóng góp tham gia dưới mọi hình thức, Kết quả  
trên đã khẳng định CĐ luôn hướng về mục tiêu phía trước. Tuy nhiên còn nhiều  
khó khăn không phải do chủ quan cá nhân hoàn toàn mà bị động bởi khách  
quan, điều kiện ngoại cảnh tác động. Sẽ rất khó để đi tiếp nếu thiếu đi sự trợ  
lực và việc tháo bỏ những rào cản của CĐ từ bên ngoài. Song song việc không  
ngừng củng cố nội lực, động viên về tinh thần, nâng cao động cơ, động lực từ  
bên trong nhằm kịp thời ứng biến khó khăn, thì việc phối hợp linh hoạt tiếp  
nhận những gì từ CĐ bên ngoài là cần tranh thủ cụ thể CĐ nên biểu hiện thái  
độ tích cực trong việc tiếp thu các gợi ý, gợi mở từ các cơ hội, các tương tác,  
trợ lực cùng những cảnh báo, những đánh thức về rủi ro tiềm ẩn. Tìm thấy đâu  
là bờ tường an toàn nhưng đi kèm tính chất 2 mặt của vấn đề là ẩn tích vào  
trong đó nhiều nguy hiểm khó nhìn thấy, khó đối ứng khi đột ngột phát sinh  
365  
gây nhiều tổn hao, lãng phí. Tất cả đều phải được cân nhắc xem xét cẩn thận,  
và nên thuận theo quy luật tự nhiên của vạn vật vũ trụ. Phải thấy là khó khăn  
luôn bao quanh, nhưng thuận lợi và thời cơ luôn tiểm ẩn, cơ hội thì đang ở phía  
trước chờ đón nếu có niềm tin tích cực và tranh thủ đón bắt thì CĐ sẽ vững tin  
đi tiếp. Tất cả được xem là những yếu tố thuộc về giá trị tinh thần, là yếu tố  
cực kỳ quan trọng, được khẳng định trong nghiên cứu của (Minh, 2016). Với  
những khảo sát qua phương pháp phân tích nhân tố khám phá, kiểm định tương  
quan hồi qui các biến đưa vào mô hình tác động đến mức độ tham gia và dựa  
trên thang đo Likert 5 mức độ, đã được tiến hành khảo sát, đo lường thực tế tại  
Trà Vinh khẳng định rõ về điều này. Từ phương trình hồi quy tổng quát sau:  
Ŷ= 1.006 + 0.269VH.XH.TICC (văn hóa xã hội. Tiện ích công cộng) +  
0.240QH.HTCS (Quy hoạch hạ tầng cơ sở) + 0.088DDCNHO.CQ (Đặc điểm  
cá nhân hộ. Chính quyền) + 0.188GIỚI TÍNH + 0.004TUỔI. Nhưng chỉ 3 yếu  
tố được xem là có ảnh hưởng đến sự tham gia: yếu tố con người: chủ thể với  
đặc điểm cá nhân khác nhau, yếu tố cơ sở hạ tầng quy hoạch tổ chức sản xuất  
thực tế tại mỗi thời điểm khác nhau cùng yếu tố văn hóa xã hội điều kiện kinh  
tế thực tế tại địa phương; đã làm ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân.  
Nghiên cứu lý giải tập trung về hướng tác động mạnh. Và yếu tố VH.XH được  
nhìn nhận và xem xét trọng tâm đáp ứng với mục tiêu nghiên cứu đề ra: với ý  
nghĩa của yếu tố có hệ số tác động lớn nhất do biến VHXH.TICC quan hệ cùng  
chiều với biến nức độ tham gia. Khi các yếu tố khác không đổi, nếu CĐ đánh  
giá yếu tố ''Văn hóa - xã hội - tiện ích công cộng'' tăng thêm 1 điểm thì mức độ  
tham gia của hộ dân tăng thêm 0,269 điểm. Tóm lại nghiên cứu khẳng định việc  
tham gia thụ động có ảnh hưởng bởi yếu tố vừa chủ quan nội tại bên trong nỗ  
lực cá nhân từng thành viên CĐ lẫn yếu tố khách quan, điều kiện ngoại cảnh tác  
động, tuy nhiên những gì thuộc về Văn hóa xã hội thì rất trừu tượng, khó nhìn  
vì thế yếu tố này đã ảnh hưởng lớn đến kết quả tham gia của CĐ và đến nay  
vẫn chưa có đề xuất giải pháp nào là khắc phục khả thi. Tác giả phân tích từ  
những giả định nếu có các Giải Pháp từ sự trợ lực về vật chất từ CĐ bên ngoài  
nhưng mọi con người thiếu đi những yếu tố tiền đề về giá trị tinh thần vững  
chắc thì dù cho nguồn lực vật chất có nhiều cỡ nào (đương nhiên là nguồn lực  
vật chất luôn có giới hạn) thì cũng không thể nào đáp ứng được hết nhu cầu vô  
hạn của CĐ. Từ đó thiếu đi động cơ bền vững trong tham gia cũng là kết quả từ  
những nghiên cứu trước đây.  
Vì vậy tìm kiếm giá trị nền tảng làm điểm tựa và chỗ dựa tinh thần làm  
366  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
khích lệ hiệu quả cho mọi hoạt động tham gia nhằm nâng cao các giá trị còn lại  
thì vô cùng cần thiết. Hiện nay với xu thế hội nhập, các hệ lụy xã hội được gây  
bởi sự ảnh hưởng từ nền văn hóa “lai căn” luôn biến động làm thay đổi các hệ  
giá trị. Thực tế đôi khi chưa thấu đáo mọi vấn đề, chỉ là vì lợi ích trước mắt,  
con người thường đặt lợi ích kinh tế, xem yếu tố vật chất là quan trọng và mọi  
thứ thuộc về giá trị tinh thần gần như bị “xem nhẹ” thậm chí bị bỏ qua thì con  
người ngày một mất đi những phẩm chất đạo đức truyền thống, mất đi tinh thần  
tương thân, tương ái, tính cố kết cộng đồng lỏng lẽo, không vì tập thể mà hành  
động, họ chỉ vì lợi ích bản thân theo chủ nghĩa cá nhân mà bỏ qua lợi ích  
chung. Với sự nhìn nhận các giá trị “mờ mắt” của những gì được xem là “vật  
chất đáng giá” thời buổi kinh tế thị trường, thường đưa CĐ đi đến nôn nóng  
trong suy nghĩ và hành động nên kết quả là mọi trợ lực vật chất từ bên ngoài  
dù lớn bao nhiêu cũng không thể đáp ứng tối đa sự thõa mãn nhu cầu vô hạn  
của CĐ, ví như đây là phương thức “gây tác dụng phụ”, dĩ nhiên vấn đề gây ra  
một chuỗi các hệ lụy cho xã hội là tất yếu và khó lường trước, nhiều nhất là sự  
chờ đợi ỷ lại, thiếu đi khả năng tự lực vận hành, “cứu cánh” từ bên ngoài lâu  
dài không phải là giải pháp cho mọi giải pháp mà nhà làm công tác phát triển  
CĐ mong muốn. Bởi tính chất hệ lụy kèm theo là sự chờ đợi, lệ thuộc, sẽ làm  
khó, làm khổ con người, làm cho con người sẽ trở nên yếu đi và thấp kém trong  
mắt CĐ bạn chỉ vì “nội lực” không được củng cố, xét về tính nhân văn đôi khi  
sẽ làm “tổn thương” lòng tự trọng con người nếu như mọi viện trợ là không  
xuất phát từ “lòng thành” và thái độ chia sẽ với sự cảm thông và “thấu hiểu”  
rằng không ai là mong muốn lựa chọn mọi số phận thấp hơn trong cuộc đời  
này. Chỉ khi mọi nguồn lực đều mạnh và “dôi dư” thì con người sẽ có quyền  
chủ động và linh hoạt hơn trong mọi quyết định chia sẽ, cho đi của mình và sẽ  
tự tin hơn trong tham gia vận hành cho đời sống cá nhân hiệu quả cũng là mục  
tiêu mà CTMTQGXDNTM mong đợi. Thay đổi cách làm của CĐ bên ngoài,  
đồng thời thay đổi tư duy tham gia sẽ là giải pháp tiếp theo để khi “cho” thì CĐ  
nên cho “cái gì”, và CĐ hiểu được nên “nhận” những gì đáp ứng được tính bền  
vững chứ không là lợi ích nhất thời mà hiệu quả công tác PTCĐ sẽ không cao,  
chẳng hạn việc hỗ trợ chỉ nên dừng lại ở tiếp tế điều kiện vật chất căn bản duy  
trì sự sống và sự tác động tư duy tự thức tự lực vượt khó vươn lên chính mình  
được xem là tạo cơ hội tham gia bước đầu ví như trợ lực CĐ ngồi dậy “cầm cần  
đi câu” và trình diễn tập huấn cách thức “câu cá” mẫu sao cho thu hoạch được  
“mồi” hiệu quả mới là quan trọng hơn mọi phương cách. Chính vì thế để đảm  
bảo tính bền vững cho sự phát triển theo thang bậc tiến hóa của loài người thì  
367  
giá trị vật chất tinh thần luôn phải tồn tại trong kích hoạt tham gia cần song  
hành thực hiện, được xem là bước tiếp theo đối với các nhóm CĐ bên ngoài có  
điều kiện, nguồn lực tốt hơn. Theo như lý thuyết thang bậc nhu cầu của  
(Maslow, 1943) thì CĐ sẽ tham gia không còn là vì nhu cầu cơ bản nữa, khi  
tham gia họ thõa mãn nhu cầu nâng cao. Và nếu thiếu một trong hai hoặc mất  
đi tác động ảnh hưởng của yếu tố tinh thần làm nền tảng lâu dài chắc chắn động  
cơ tham gia của CĐ sẽ bị kiềm hãm, trì trệ. Để nhằm hạn chế bớt tình trạng xấu  
hay vấn đề “quá muộn” vì sự “bị động” “lệ thuộc” của CĐ yếu kém ngày một  
cao thì việc tìm kiếm, nhìn thấy đâu là vấn đề tiên quyết mấu chốt để có  
phương cách tác động hỗ trợ đến CĐ ngay từ bước đầu một cách đúng đắn  
mang lại hiểu quả cao là quan trọng nếu ngược lại về lâu dài khuynh hướng  
“giúp người không khéo sẽ là hại người” ví như do “sai liệu pháp” trong chữa  
trị cấp cứu bệnh nhân vậy. Điển hình đâu đó trong nông thôn hiện nay, tình  
trạng “tái nghèo”, “không cần thoát nghèo” ngày càng nhiều chỉ vì lý do “sổ hộ  
nghèo” luôn được ưu tiên vì “nhiều chế độ”, cái phương thức giải quyết chỉ  
mang tính “tạm bợ” hay còn được xem là “lợi bất cập hại” tức chưa lường hết  
được hệ quả về lâu dài sẽ “đeo mang” đã đưa đến vấn đề “thụ động” trong tham  
gia và tất nhiên gần như tất cả các vấn đề “kéo theo” cũng chưa được giải quyết  
một cách căn bản hơn, tức là “chuỗi vấn đề” đã hình thành từ trước đến nay  
chưa được giải quyết dựa trên quan điểm cần xem xét theo “tính chất hai mặt  
của vấn đề” vốn dĩ lẽ ra theo quy luật mâu thuẫn: một trong ba quy luật cơ bản  
của phép biện chứng duy vật đã khẳng định “Tất cả vấn đề đều tồn tại ở hai mặt  
của thế cực đối lập” cần đấu tranh và thống nhất các mặt đối lập và cần tìm  
thấy sự ẩn đằng sau mọi vấn đề là mặt ngược lại nhằm có hướng chủ động đối  
phó khi vấn đề đột ngột phát sinh. Đây là mặt hạn chế lớn chưa khắc phục được  
của phương pháp phát triển cộng đồng theo cách cũ. Để cải thiện tình thế nội  
dung tham gia XDNTM giai đoạn tiếp theo các nhà chính sách nên xem xét  
cách tiếp cận vấn đề tham gia theo góc nhìn đa chiều nhằm đề xuất các giải  
pháp đạt mục tiêu thõa mãn tính bền vững nhiều hơn.  
3. Kết luận  
Nghiên cứu đã có kết luận về mối tương quan giữa hai yếu tố “Giá trị  
văn hóa tinh thần” và động cơ “tham gia” là mối tương quan thuận. Vì vậy mọi  
nghiên cứu tiếp theo nhằm khẳng định yếu tố gía trị văn hóa tinh thần là động  
cơ quan trọng và cần thiết trong cải thiện “tham gia” theo chiều hướng tích cực  
368  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
cũng là nâng năng lực tham gia đang được các nhà chính sách chiến lược quan  
tâm hàng đầu. Đồng thời các phân tích sâu hơn nữa về nguyên nhân tại sao vấn  
đề về tham gia thụ động lại liên quan nhiều đến yếu tố Văn hóa Xã hội sẽ trả  
lời cho các câu hỏi đang cần được nghiên cứu khám phá là rất cần thiết. Trong  
đó các giải pháp liên quan đến yếu tố con người là nền tảng chủ thể chính, chủ  
thể trọng tâm của xã hội mà con người đang vận hành, giải pháp củng cố yếu tố  
nội lực, nâng cao năng lực tham gia cá nhân là cũng được xem là quan trọng,  
đây là cách đi sâu vào giải quyết điểm “cốt lõi”, giống như tìm “tâm bệnh” xác  
định cái gọi là “căn nguyên” của mọi vấn đề; là chìa khóa để mở ra mọi cánh  
cửa thành công; cũng là hướng khắc phục được xem xét đề xuất nhằm giải  
quyết tận “gốc” . Năng lực cá nhân chỉ được khẳng định khi cá nhân con người  
đã thay đổi tư duy theo hướng tích cực. Với Trà Vinh điều này là cực kỳ quan  
trọng vì khó khăn, thách thức thì luôn không ngừng phát sinh xung quanh mỗi  
con người lại khó dự đoán nên giải pháp “tăng năng lực thích ứng” là không thể  
thiếu. Nếu con người với tư duy mới đồng thời nội lực được củng cố, các hợp  
lực mạnh mẽ được triệu tập từ bên trong và song song là khả năng kiểm soát  
các ngoại cảnh tác động thì ít hay nhiều lâu dài CĐ sẽ quen dần với phương  
thức “tự bơi” nâng khả năng thích ứng “giãn sức chịu đựng” cho mình, tức “tự  
cứu” được mình trước khi chờ sự can thiệp. Quan trọng là mục tiêu từng con  
người trong CĐ có được cùng đồng hành thiết lập với mọi mục tiêu Chương  
trình hay không. Vì thế CĐ Trà Vinh cần thiết lập lại mục tiêu ngay từ bây giờ,  
cần phân tích lại nội tại CĐ (Điểm mạnh tăng cường phát huy. Điểm yếu cần  
đối diện và khắc phục) và không ngừng tranh thủ tiềm kiếm, tranh thủ tận dụng  
cơ hội từ những gì là trợ lực xung quanh, tất nhiên CĐ phải tăng khả năng dự  
đoán và có giải pháp đối phó với thách thức trong thời gian tới. Tiếp đó là sự  
lựa chọn các bên phối hợp trợ lực lên kế hoạch tham gia hành động cụ thể để  
từng bước chinh phục các mục tiêu mà CĐ đề ra. Với giả định con người tăng  
nội lực, thay đổi tư duy, thái độ, phương pháp tiếp cận khái niệm tham gia theo  
trạng thái “động” thì vấn đề sẽ được giải quyết từ “Gốc”, tức là từ “căn”. Tất  
nhiên mọi hướng đề xuất nhằm kích hoạt, thúc đẩy, nâng động cơ tham gia  
thuộc về sức bật “nội ứng, ngoại hợp”, thuộc cả về nâng giá trị “vật chất” lẫn  
“tinh thần”, những gì thuộc về cái gọi là “hữu vô tương hợp”; những gì là thuộc  
về thay đổi cảm xúc, cảm nhận về các hệ giá trị biến đổi bao hàm trong yếu tố  
văn hóa xã hội thì các nhà hoạch định chính sách, các nhà phát triển cộng đồng  
nên ưu tiên quan tâm cân nhắc hàng đầu.  
369  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. BCĐNTM Tỉnh Trà Vinh, 2016. Báo cáo Số 05 /BC-BCĐNTM-VPĐP  
ngày 11 tháng 01 năm 2016 về Kết quả triển khai thực hiện Chương trình  
MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 và phương hướng,  
nhiệm vụ giai đoạn 2016 – 2020  
2. BCĐTW CTMTQGXDNTM, 2016. Báo cáo kết quả thực hiện Chương  
trình MTQG xây dựng nông thôn mới của cả nước đến hết tháng 2 năm 2016  
và định hướng giai đoạn 2016 – 2020.  
3. Cao Đức Phát, 2015. Báo cáo Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chương  
trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2015 tại Hội nghị  
Hà Nội.  
4. Chính phủ, 2009. Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 của Thủ  
tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn  
mới;  
5. Chính phủ, 2010. Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ  
tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng  
nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;  
6. Đoàn Thị Nguyệt Minh, 2017. Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn  
mới tỉnh Trà Vinh. Tạp chí khoa học và công nghệ. Bộ nông nghiệp và  
phát triển nông thôn, 24: 3 – 11;  
7. Đoàn Thị Nguyệt Minh, 2017. Thực trạng vai trò tham gia của nông hộ  
trong toàn tién trình xây dựng nông thôn mới tại Trà Vinh. Tạp chí khoa  
học kỹ thuật nông lâm nghiệp. Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố  
Hồ Chí Minh, 4: 90 – 98;  
8. Đoàn Thị Nguyệt Minh, 2016. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của  
cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tỉnh Trà Vinh, kỷ yếu hội nghị  
khoa học nông nghiệp và phát triẻn nông thôn thời hội nhập. Khoa phát  
triển nông thôn, Trường Đại Học Cần Thơ, 208- 219  
370  
pdf 12 trang yennguyen 15560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề “tham gia” trong hoạt động xây dựng nông thôn mới Trà Vinh - Thực trạng và hướng đề xuất giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_tham_gia_trong_hoat_dong_xay_dung_nong_thon_moi_tra_v.pdf