Tư tưởng của Phan Bội Châu về giáo dục ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Tư tưởng của Phan Bội Châu  
về giáo dục ở Việt Nam đầu thế kỷ XX  
Nguyễn Văn Hoà1  
1 Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.  
Nhận ngày 5 tháng 8 năm 2018. Chấp nhận đăng ngày 15 tháng 9 năm 2018.  
Tóm tắt: Phan Bội Châu được biết tới không chỉ là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc  
lập dân tộc”, mà còn là một người am hiểu về giáo dục nước nhà những năm đầu thế kỷ XX. Theo  
Phan Bội Châu, nền giáo dục mà thực dân Pháp áp đặt ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã bộc lộ tất cả  
những bất cập của nó. Những bất cập đó là hệ luỵ tất yếu của nền giáo dục nô lệ. Do đó, phải xây  
dựng một nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập.  
Từ khoá: Phan Bội Châu, giáo dục, Việt Nam, đầu thế kỷ XX.  
Phân loại ngành: Triết học  
Abstract: Phan Boi Chau is known not only as a hero, an angel, and a person who sacrificed his  
life for national independence, but also as one with erudite knowledge of his home country’s  
education in the early 20th century. He deemed that the education imposed by the French  
colonialists then in Vietnam had revealed all the inadequacies, which were the inevitable  
consequences of an education of a society where the Vietnamese were just like slaves. He spoke  
out, therefore, about the must to build a new education for an independent Vietnam.  
Keywords: Phan Boi Chau, education, Vietnam, early 20th century.  
Subject classification: Philosophy  
1. Đặt vấn đề  
phong kiến ở Việt Nam. Trong xã hội đó,  
theo Phan Bội Châu, thực dân Pháp đã tiến  
Trước yêu cầu giải phóng dân tộc và phát hành nền giáo dục phong kiến, nền giáo dục  
triển đất nước cùng với ảnh hưởng của Pháp - Việt và nền giáo dục mới (nền giáo  
“Tân thư” và “Tân văn”, đặc biệt, được dục thực dân). Cả ba nền giáo dục đó đã trở  
chứng kiến sự phát triển rực rỡ của Nhật nên bất cập trước yêu cầu của thời đại và có  
Bản nhờ canh tân đất nước mà có, Phan Bội chung một mục đích nô dịch nhân dân Việt  
Châu sớm nhận thức được những bất cập Nam. Năm 1884, triều đình nhà Nguyễn  
của nền giáo dục trong xã hội thuộc địa nửa đầu hàng thực dân Pháp, xã hội Việt Nam  
46  
Nguyễn Văn Hòa  
Nam, người Pháp rất khuyến khích cái học  
từ chương khoa cử như văn bát cổ, thơ phú,  
huấn hỗ, từ chương. Trẻ em sáu tuổi đã bắt  
đầu vào cái học ấy cho đến chết” [3, tr.256].  
Trong các tác phẩm Việt Nam quốc sử khảo  
(1908), Ngục trung thư (1914), Phan Bội  
Châu đã vạch rõ dã tâm của thực dân Pháp  
trong việc lợi dụng những mặt tiêu cực của  
chế độ khoa cử của nền giáo dục phong  
kiến để giam hãm, để giăng bẫy, để ràng  
buộc anh hùng hào kiệt; để làm đui điếc tai  
mắt của nhiều người, để làm lụn bại trí lực  
của người Việt Nam trong cuộc tranh đua  
với người da trắng. Nền giáo dục đó đề cao  
lối học khoa cử, tầm chương, trích cú, phi  
thực tiễn; coi khinh thực nghiệp; chủ yếu  
giới hạn nội dung, chương trình học tập và  
thi cử trong Tứ thư, Ngũ kinh và Bắc sử;  
còn những nội dung thiết thực khác không  
được đề cập, đặc biệt là khoa học tự nhiên.  
Người học chỉ biết vùi đầu vào kinh sử, lo  
học thuộc các kinh điển và sử sách của  
Trung Quốc; nhắm tới là học để đi thi, thi  
đỗ để làm quan. Chính nội dung, chương  
trình và cách học đó đã làm cho sản phẩm  
của giáo dục không thích ứng với yêu cầu  
phát triển của xã hội trong thời buổi “mưa  
Âu”, “gió Mỹ”; làm cho trí tuệ và năng lực  
sáng tạo của con người bị kìm hãm và thui  
chột. Cái học từ chương khoa cử vào giai  
đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ngày  
càng tỏ rõ những bất cập và gây nên những  
hệ luỵ tiêu cực làm cản trở sự phát triển của  
đất nước. Ông viết: “Gọi rằng giáo dục,  
chẳng qua là một đường khoa cử văn từ đó  
thôi. Không có thương học nên công nghiệp  
hỏng; không có nông học nên nhân dân  
không biết đường khai khẩn; không có pháp  
luật học, nên nhân dân không giữ lấy quyền  
lợi” [4, tr.44]. Nội dung của nền giáo dục  
phong kiến thủ cựu, không chịu đổi mới;  
không đề cập đến lĩnh vực khoa học tự  
nhiên và pháp luật; không thiết thực và  
không gắn với thực tế sản xuất. Do đó, theo  
từ tính chất thuần phong kiến trở thành xã  
hội thuộc địa nửa phong kiến. Thực dân  
Pháp thực thi hàng loạt các chính sách về  
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và giáo  
dục. Đối với giáo dục, theo Phan Bội Châu,  
thực dân Pháp tiến hành nền giáo dục ngầm  
tiêu diệt giống nòi nước Việt Nam. Đó là  
nền giáo dục hủ bại, nô dịch. Mục đích của  
nền giáo dục đó là biến con người Việt  
Nam thành những con trâu, con ngựa,  
những nô lệ tăm tối về trí tuệ chỉ biết thừa  
hành một cách mù quáng mệnh lệnh của  
thực dân Pháp, để chúng dễ bề cai trị và bóc  
lột. Đấy chính là thủ đoạn thâm độc của  
thực dân Pháp. Cái gọi là giáo dục ở nước  
Việt Nam lúc bấy giờ thực chất là: “Học  
đường nô lệ, giáo dục nô lệ là cái đặc sắc  
riêng của nước ta” [4, tr.46]. Bài viết này  
phân tích tư tưởng của Phan Bội Châu về  
những bất cập của nền giáo dục phong kiến,  
nền giáo dục Pháp - Việt, nền giáo dục thực  
dân trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở  
Việt Nam.  
2. Tư tưởng của Phan Bội Châu về những  
bất cập của nền giáo dục phong kiến  
Để thực hiện mục đích cai trị, thực dân  
Pháp tìm mọi cách loại bỏ những ảnh  
hưởng tích cực của văn hóa dân tộc; lợi  
dụng những mặt hạn chế của nền giáo dục  
phong kiến đã trở nên quá lạc lậu so với xu  
thế phát triển chung của thời đại; khuyến  
khích lối học khoa cử để kìm hãm nhân dân  
trong vòng tối tăm, dốt nát và phục vụ cho  
công cuộc thực dân hóa. Đề cập đến vấn đề  
này, Phan Bội Châu đã viết: “Từ sau khi  
nước mất, cố nhiên người Pháp chẳng  
những không đem lại cho người Việt một  
nền giáo dục tốt đẹp mà họ càng ngày càng  
cưỡng bức người Việt Nam theo nền giáo  
dục nô lệ, trâu ngựa. Khi mới chiếm Việt  
47  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
Phan Bội Châu, muốn mở mang dân trí  
phải thay đổi cách học và thay đổi nội dung  
giáo dục.  
kỷ hà, đại số, tích phân, vi phân? Hỏi đến lý  
học thì nước bốc thành hơi cũng không hay,  
còn nói gì đến địa lý thiên văn, lực học,  
quang học nữa? Hỏi đến văn học thì 26 chữ  
cái La Mã ta đã cho là nút thần vạch quỷ  
không gì sánh kịp huống chi là chữ của các  
nước Nga, Anh, Đức” [3, tr. 441].  
Là một nhà nho tân tiến, Phan Bội Châu  
thấu hiểu sự lỗi thời và bất cập của nền giáo  
dục phong kiến. Ông ngậm ngùi, cay đắng  
viết: “Nhưng cũng tiếc rằng trí lực thông  
minh của họ đã bị những thủ đoạn “thả  
phù”, “nhược viết” và thơ “bát vận”, “ngụ  
ngôn”... đẽo gọt đến già, đui mù nửa kiếp,  
làm cho có tranh luận với người da trắng thì  
tránh sao khỏi ngơ ngác vì những kiến thức  
sách vở mơ hồ đâu đâu” [2, tr.439-440].  
Nền giáo dục phong kiến đã không còn phù  
hợp nữa, không thiết thực và đã thành trở  
ngại trên con đường đi đến văn minh. Thế  
nhưng, thực dân Pháp vẫn cố tìm cách duy  
trì lối học cũ, lối thi cũ, phương pháp cũ  
nhằm mê hoặc và giam hãm nhân dân Việt  
Nam trong vòng tăm tối, u mê.  
Chương trình, nội dung, cơ cấu và hệ  
thống tổ chức, cơ chế quản lý giáo dục đương  
thời ở Việt Nam xét về thực chất đã trở nên  
thủ cựu, xa lạ và không giúp ích được gì cho  
cuộc sống của người dân. Ông viết: “Tuy ở  
tỉnh có quan đốc học, giáo thụ nhưng chẳng  
qua huấn luyện mấy ông thí sinh, khóa sinh,  
mà những đồ huấn luyện đó, thời chỉ mấy  
chữ; “chi, hồ, giả, dã, nhược viết, thả phù”  
đêm ngày cổ vũ cho người ta, chẳng qua  
võng lọng cân đai, đầu bò sỏ lợn, ngoài ra có  
một tý gì lợi ích cho quốc dân đâu” [4,  
tr.225]. Theo Phan Bội Châu, giáo dục là  
khuôn đúc người, giáo dục là sinh mệnh của  
dân. Nhưng khi giáo dục hết thảy là hư văn  
thì sinh mệnh của dân đâu có còn gì nữa? Có  
chăng chỉ là những kẻ tai điếc, mắt mù, óc  
khô, lòng chết. Ngay trong Dư ngu sám (lời  
sám hối “ta ngu”), Phan Bội Châu đã nghiêm  
túc, thẳng thắn, chua chát tự chỉ trích mình.  
Ông nói: “Ta lớn lên 38 tuổi ngoài những chữ  
“chi, hồ dã, giả” ra hỏi đến số học thì chín  
chín tám mốt cũng không biết còn nói gì đến  
Trước yêu cầu giải phóng dân tộc và  
phát triển đất nước, Phan Bội Châu đã soát  
xét lại vốn kiến thức của chính bản thân  
mình, vốn kiến thức này được đào tạo trong  
nền giáo dục phong kiến; giờ đây, đã trở  
nên bảo thủ lạc hậu, yếu kém và bất cập  
trước yêu cầu phát triển của thời đại mới. Ở  
đây, cũng cần nói thêm rằng, vào cuối thế  
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, không phải nhà nho  
nào ở Việt Nam cũng có những nhận thức  
thức thời như Phan Bội Châu. Một số nhà  
nho vẫn theo nếp cũ “nội hạ, ngoại di”,  
“hậu cổ, bạc kim”, “xưa hơn nay”, “trọng  
nông, ức thương”, không chịu đổi mới,  
không chịu tiếp nhận những yếu tố tích cực,  
những yếu tố tiến bộ của văn minh phương  
Tây nói chung và của nền giáo dục phương  
Tây nói riêng; khư khư giữ lấy những  
nguyên lý, mệnh đề của hệ tư tưởng phong  
kiến đã trở nên lạc hậu và bất lực trước yêu  
cầu bảo vệ đất nước và giải phóng dân tộc.  
Trong bài Kính quốc dân, Phan Bội Châu  
viết: “Nhà nho hủ vẫn cậy mình khôn khéo/  
Đem văn chương mà vênh váo với đời/  
Năm ba câu bát cổ dông dài/Trừ cử nghiệp,  
chuyện ngoài chi nỏ biết!/Ai cạnh tranh? Ai  
sinh tồn?/Ai ưu thắng mà ai bại liệt?/Trên  
địa cầu nào biết những ai ai?/Chữ duy tân  
gác để ngoài tai” [2, tr. 65].  
Theo Phan Bội Châu, sự bảo thủ, khép  
kín, tách biệt với thực tế sinh động của  
cuộc sống, khước từ học tập văn minh  
phương Tây, bất chấp sự thay đổi của thời  
cuộc, bám lấy hủ tục, đó là một trong  
những bất cập của nền giáo dục cũ. Ông  
viết: “Mù mịt tối tăm, ngu si xuẩn độn,  
48  
Nguyễn Văn Hòa  
đường hô hấp bị gai chích, bể tinh thần bị Phan Bội Châu, cách học cũ làm cho người  
tắc nghẽn. Anh mù em đui, giữa ban ngày Việt Nam không chịu đổi mới; nhu nhược  
mà như đêm tối, tự cao tự đại, như ếch và ngu hèn; chỉ có học theo tập thượng, coi  
ngồi đáy giếng, để khiến cho đất nước gấm sửa đổi cho hợp thời là trái cổ, thoát khỏi  
vóc rộng 37 dặm vuông Anh trở nên đồng những kiến thức cũ thì cho là hiếu kỳ, chỉ  
bệnh mà mất cho người ngoài” [2, tr.45]. biết khư khư thói bảo thủ lạc hậu. Những  
Bảo thủ, vùi đầu và chôn chân trong cái cũ, bất cập này chẳng những là nguyên nhân  
cách li thực tế; tự cao tự đại cho rằng xưa dẫn đến mất nước, mà còn là trở ngại trên  
đúng nay sai, lấy kiến thức của tiền nhân con đường phát triển đất nước.  
làm khuôn vàng thước ngọc, nên không  
Theo Phan Bội Châu, trong cạnh tranh thì  
chịu học cái hay, cái mới của người khác, mạnh được yếu thua, ngu dại bao giờ cũng  
khiến cho “tinh thần bị tắc nghẽn”. Dạy đi liền với hèn yếu. Do đó, một trong những  
học thì nặng về “tầm chương, trích cú”, nguyên nhân làm cho Việt Nam dẫn đến  
“coi hư văn như thánh thần, khinh thực chúng ta mất nước là do người Việt Nam  
nghiệp như cỏ rác”. Học tập thì thiên về tri bảo thủ, không chịu đổi mới, mãi đắm chìm  
thức tái hiện hơn là tri thức sáng tạo”. Với trong giấc ngủ ngu dại cuồng si; trong khi  
cách học đó, người học chỉ tiếp thu kiến thực dân Pháp chẳng những không đem “văn  
thức một chiều, không sắp xếp, phân tích, minh Tây học” để tưới tắm cho giống nòi  
chọn lọc gì, mà chỉ ghi nhớ thuộc lòng mặc Việt Nam, mà trái lại tìm mọi cách giam  
dù không hiểu, gây tình trạng nhồi nhét hãm giống nòi Việt Nam trong vòng dốt nát.  
kiến thức, không thúc đẩy động não. Công  
việc làm bài thi cũng là dày công trích dẫn  
3. Tư tưởng của Phan Bội Châu về những  
bất cập của nền giáo dục Pháp - Việt  
các đoạn trong sách cũ, nói theo và ca ngợi  
lý luận kinh điển chứ không được có ý  
kiến ngược lại [7, tr.164-165].  
Theo Phan Bội Châu, sự trì trệ, bảo thủ,  
tính ỷ lại vốn ăn sâu trong cách dạy và học  
của người Việt Nam, bóp chết sự sáng tạo  
và làm nhụt ý chí của người Việt Nam, làm  
suy giảm dân khí của nước Việt Nam; khiến  
cho người Việt Nam có mắt mà như mù, có  
tai mà như điếc, có chân tay mà không biết  
làm, có máy móc mà không biết sử dụng,  
người trên chỉ biết noi theo cái cũ, người  
dưới chỉ biết tuân theo người trên. Ông viết:  
“Người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ  
hủ lậu cho yên thân, dẫu có người thông  
minh cũng phải chiều theo tập thượng.  
Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ  
như sấm sét, thấy một người làm khác mình  
“Năm 1906, thực dân Pháp tiến hành “cải  
cách” giáo dục, bằng cách tạo ra một nền  
giáo dục lai căng què quặt, gọi là nền giáo  
dục Pháp - Việt. Đây là nền giáo dục nhằm  
mục tiêu: tuyên truyền cho chính sách xâm  
lược bóc lột của Pháp; truyền bá tiếng Pháp  
và tạo ảnh hưởng của văn hóa Pháp đối với  
trí thức văn thân; tiếp tục đào tạo một số  
người làm tay sai cho Pháp” [5, tr.14]. Đề  
cập đến vấn đề này, Phan Bội Châu viết:  
“Nó mở trường Pháp Việt, nhưng cái gọi là  
trường Pháp Việt này, nó cũng chỉ dạy cho  
biết sơ sơ chữ Pháp, dịch được qua loa  
tiếng Pháp, đã coi là đủ rồi. Còn như điện  
học, hóa học, binh học, thương học người  
thì cho là quái lạ như thấy tuyết và mặt trời. Pháp có đặt một khoa nào đâu. Giẫm đạp cả  
cố cung, cày bừa cả cấm địa để làm trường  
canh nông, trường bách nghệ, người Pháp  
Cái tệ ấy buổi đầu là do tính nhu nhược,  
theo mãi hóa ngu hèn” [1, tr.145]. Theo  
49  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
chỉ khoái trá về chỗ làm mất chí khí người tiến sĩ, cử nhân của nước Việt Nam ta  
nước ta mà thôi. Còn nói nông học có không có kỹ xảo như người Tây, mà chỉ là  
những ông thầy thông sở Toàn quyền, thầy  
phán tòa Công sứ, kiến thức luận bàn chỉ có  
thế, thì làm sao có thể biết được văn minh  
là gì? Vả chăng, đồ đạc khéo không phải tự  
đất nổi lên, cũng như sự nghiệp văn minh,  
không học hành được thì làm sao có được?  
Người ta có máy móc mình phải ra sức học  
mà làm. Người ta biết đổi mới, sao mình lại  
vụng về cổ hủ” [2, tr.272]. Lối học tầm  
chương trích cú mà không phải là thực học  
thì làm sao nắm bắt được văn minh. Bảo  
thủ lạc hậu và yếu kém thì làm sao đáp ứng  
được những đòi hỏi của cuộc sống và yêu  
cầu tiếp nhận khoa học, kỹ thuật của  
phương Tây. Chất lượng đào tạo như vậy đã  
làm cho con người lúc lâm sự thì chậm  
chạp, xử lý công việc thì dùng dà dùng  
dằng, lúng ta lúng túng; ù ù, cạc cạc, mơ  
màng, ngơ ngác trước những văn minh của  
phương Tây.  
nghiên cứu gì, công nghệ có bày vẽ gì thì  
đối với sự tinh vi của dương học kia, người  
Pháp cứ để cho người nước ta đui điếc mà  
thôi. Cách làm cho ta ngu, ta yếu, nó chỉ sợ  
ta không càng ngày ngu hơn, càng ngày yếu  
hơn mà thôi” [2, tr.192]. Theo Phan Bội  
Châu, mục đích của thực dân Pháp là đào  
tạo ra một lớp người vừa phục vụ cho cho  
bộ máy của triều đình phong kiến, vừa phục  
vụ cho chính quyền của thực dân Pháp, chứ  
không phải nhằm khai dân trí. Trước phiên  
tòa đề hình, Phan Bội Châu tiếp tục vạch rõ  
chính sách giáo dục của thực dân Pháp.  
Ông viết: “Đã đến năm 1904 rồi mà Trung  
Bắc Kỳ vẫn chỉ có hai trường: trường Hà  
Nội và trường Huế, và cả hai chỉ đều dạy  
làm thông ngôn! Người du học không cho,  
lối thi cử vẫn để, luật lệ không chịu thi hành  
luật chính quốc, tham nhũng hối lộ công  
hành” [4, tr.9].  
Theo Phan Bội Châu, với mục đích tăng  
cường nô dịch nhân dân Việt Nam về mọi  
mặt, nên trong giáo dục, thực dân Pháp chỉ  
dạy một số kiến thức rất ít ỏi về văn hóa  
Pháp; còn những kiến thức khác, những  
việc hữu dụng khác cần thiết cho việc nâng  
cao dân trí, chấn hưng dân khí, bồi dưỡng  
nhân tài thì không được đưa vào nội dung  
giáo dục. Trái lại, thực dân Pháp thực thi  
một nội dung giáo dục phiến diện, không  
hợp lý, không xuất phát từ thực tế, không  
đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội,  
không tiếp cận được văn minh của phương  
Tây. Chúng cố tìm mọi cách ngăn chặn việc  
du nhập tư tưởng tiến bộ của văn hóa  
phương Tây vào nước Việt Nam, cố tình  
làm cho nền giáo dục Việt Nam tụt hậu so  
với các nước trong khu vực và trên thế giới,  
để cho chúng dễ bề cai trị. Đó là những bất  
cập của nền giáo dục đương thời ở nước ta.  
Nền giáo dục Pháp - Việt tạo ra sản phẩm  
yếu kém. Phan Bội Châu viết: “Các ông  
Phan Bội Châu tiếp tục lên án thực dân  
Pháp giam cầm người Việt Nam trong ngục  
tối dã man, bởi xiềng xích khoa cử. Ông  
viết: “Nhân dân chúng tôi từ tuổi thành đinh  
trở lên có đến hai mươi lăm triệu, mà những  
người tay ném được quả cầu sắt, mắt nhìn  
được con số toán học, tai nghe hiểu được  
tiếng Tây, miệng đọc được chữ Tây, đại khái  
cả nước chỉ trên dưới trăm người thôi, thế thì  
còn mong gì có người có những kiến thức  
cao hơn, dù ở bậc nào đi nữa! Đó đều là nọc  
độc khuyến khích lối học khoa cử của người  
Pháp sau khi chiếm Việt Nam mà ra cả” [3,  
tr.528]. Do đó, chúng ta phải duy tân. Điều  
này cũng giải thích vì sao trong bối cảnh  
lúc bấy giờ, Phan Bội Châu lại dành nhiều  
thời gian để viết các tác phẩm khuyến khích  
cải cách duy tân theo gương Nhật Bản và  
các nước Tây Âu, khuyến khích và tổ chức  
học sinh du học ở Nhật Bản.  
50  
Nguyễn Văn Hòa  
Trước tinh thần phản kháng quyết liệt mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết thư  
của nhân dân Việt Nam cùng với các phong gửi học sinh. Trong thư, Người đã chỉ rõ  
trào yêu nước như Duy Tân, Đông Du đang mục đích của nền giáo dục thực dân là đào  
nhanh chóng lan rộng và ảnh hưởng lớn tạo những kẻ làm tay sai, tôi tớ cho thực  
trong quần chúng nhân dân, thực dân Pháp dân Pháp; còn nền giáo dục cách mạng  
thấy rằng, không thể níu kéo và lạm dụng Việt Nam là đào tạo ra những công dân  
sự lạc hậu của nền giáo dục phong kiến - hữu ích cho nước nước nhà. Hồ Chí Minh  
nền giáo dục khoa cử nho học, được nữa, viết: “Trước đây cha anh các em, và mới  
nên đành buộc phải ra quyết định bãi bỏ năm ngoái cả các em nữa, đã phải chịu  
nền giáo dục đó vào năm 1919. “Con quái nhận một nền học vấn nô lệ nghĩa là nó chỉ  
vật từ chương khoa cử” chấm dứt phun nọc đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi  
độc ở Việt Nam. Nhưng ảnh hưởng và di tớ cho bọn thực dân người Pháp. Ngày nay  
chứng mà nó để lại còn tồn tại dai dẳng, các em được cái may mắn hơn cha anh là  
buộc chúng ta phải tiếp tục giải quyết; thậm được hấp thụ một nền giáo dục của một  
chí cho đến nay, vẫn chưa thể kết thúc.  
nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo  
các em nên những người công dân hữu ích  
cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm  
phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có  
của các em” [6, tr.32].  
4. Tư tưởng của Phan Bội Châu về  
những bất cập của nền giáo dục thực dân  
Do xuất phát từ mục đích đào tạo con  
người Việt Nam thành những kẻ nô lệ, nên  
nội dung giáo dục và đào tạo của nền giáo  
dục thực dân rất phiến diện, bỏ qua những  
giá trị cơ bản của truyền thống và đạo lý  
của dân tộc. Nội dung giáo dục được thể  
hiện thông qua sách giáo khoa. Phan Bội  
Châu đã lên án một cách mạnh mẽ nội dung  
sách giáo khoa mà thực dân Pháp áp đặt ở  
nước ta. Ông viết: “Sách giáo khoa chỉ ca  
tụng công đức người Pháp, khoe khoang  
sức mạnh quân đội Pháp, ngoài ra chẳng có  
gì hay ho cả. Còn như tổ tiên người Việt  
Nam dựng nước ra làm sao, những bậc anh  
hùng nghĩa sĩ Việt Nam báo đền ơn nước ra  
làm sao, đều cấm không cho dạy. Trẻ em  
“Nền giáo dục mới” về thực chất là nền  
giáo dục thực dân. Điều này đã được Phan  
Bội Châu vạch rõ như sau: “Từ năm 1920,  
sau khi bỏ lối khoa cử rồi, những người hơi  
hiểu biết trong chúng tôi đều nghển cổ chờ  
xem nền giáo dục mới mình mong mỏi thế  
nào. Không ngờ, nền giáo dục mới mà  
người Pháp đem ra thi hành, làm cho chúng  
tôi thất vọng vô cùng. Bởi vì cái gọi là nền  
giáo dục mới chỉ làm cho người Việt Nam  
trở thành những con trâu, con ngựa cực kỳ  
ngoan ngoãn, những tên nô lệ mắt mù, tai  
điếc, chân tay tê liệt mà thôi. Đáng thương  
biết chừng nào” [3, tr.528]. Đó là một nền  
giáo dục tha hóa, hủ bại, nô dịch, nhằm  
phục vụ cho ý đồ tăng thêm ảnh hưởng của sáu tuổi mới cho vào trường học, đọc sách  
thực dân Pháp đối với nhân dân ta, đi đến  
thu phục dân tộc Việt Nam, biến người Việt  
Nam thành những kẻ làm tay sai, tôi tớ cho  
thực dân Pháp.  
Khi đề cập đến mục đích của nền giáo  
dục, tháng 9 năm 1945, nhân ngày khai  
trường đầu tiên của nền giáo dục cách  
giáo khoa đã quên khuấy mình là người  
Việt Nam rồi” [3, tr.529].  
Trên cơ sở vạch ra bất cập của nền giáo  
dục thực dân, Phan Bội Châu yêu cầu cần  
phải thực hiện nội dung giáo dục mới, mà  
nội dung ấy vừa phải đảm bảo tính cơ bản  
thiết thực, hiện đại và phù hợp với yêu cầu  
51  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
của xã hội; vừa phải chú trọng bồi dưỡng dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân đối  
lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết. Ông viết, với nhân dân Việt Nam. Chúng hạn chế mở  
nội dung giáo dục “thời trước hết phải bồi trường học, kìm hãm nhân dân trong ngục  
dưỡng cái giáo dục thuần khiết như lòng ái tối dã man, ngăn cản nhân dân ta tiếp nhận  
quốc, như lòng hợp quần, như lòng công '“văn minh trong tuỷ”. Vì thế, dưới ách  
ích, ... thứ nữa phải cầu cho được trí thức thống trị của thực dân Pháp, 95% dân số  
mở mang, như thế nào là lợi dụng được, nước Việt Nam mù chữ (năm 1945, chỉ có  
như thế nào là rộng đường kinh tế mà lợi 5% dân số biết chữ). Theo Phan Bội Châu,  
ích cho nhân quần, tất phải mỗi việc mỗi “chết bằng óc đói” thảm họa gấp bội lần so  
theo đường khoa học mà cầu cho tri thức với “chết bằng bụng đói”.  
mỗi ngày mỗi phát đạt để cho vừa yêu cầu  
trong xã hội ” [4, tr.47].  
Giáo viên là nhân tố quyết định chất  
lượng giáo dục và có ảnh hưởng lớn đến  
Phan Bội Châu cho rằng, cần phải đưa việc hình thành nhân cách của học sinh. Có  
vào giảng dạy thêm nhiều môn học như: thầy tốt thì mới có trò tốt. Thế nhưng, theo  
triết học, văn học, sử học, chính trị, kinh tế, đánh giá của Phan Bội Châu, giáo viên  
quân sự, luật pháp, công nghiệp, thương trong nhà trường của thực dân Pháp về tư  
nghiệp, nông nghiệp, nữ công, y thuật, cách đạo đức không thể chấp nhận được.  
ngoại ngữ, quang học, lý học, hóa học, cơ Ông viết: “Nói về tư cách giáo viên lại càng  
học, thể dục, âm nhạc,... Phan Bội Châu, khiến người ta đau xót. Một nửa là người  
một mặt, đòi hỏi phải lấy Tây học để tưới Pháp dâm ô vô loại, một nửa là người Việt  
tắm, nhưng mặt khác, ông nhắc nhở, cảnh Nam đê hèn tồi tệ. Học sinh thi lên lớp mà  
tỉnh mọi người trong cách tiếp nhận văn thầy giáo ăn tiền mỗi em trên mười đồng;  
minh của phương Tây, để làm sao khỏi tự nữ sinh thì bắt nhân tình với giáo viên, một  
đánh mất mình, để làm sao khỏi tổn hại đến trường mà có hơn mười em như thế! Thậm  
những giá trị tốt đẹp của dân tộc mình; tiếp chí có giáo viên người Pháp còn bắt ép học  
nhận văn minh của phương Tây để nâng sinh làm trò gian dâm đồi trụy. Giáo viên  
cao những giá trị tích cực của văn hóa dân mà tư cách như thế còn dạy dỗ cái gì” [3,  
tộc, để loại bỏ những cái gì không còn phù tr.529]. Giáo viên là tấm gương của học  
hợp, để bổ sung những nhận thức mới đáp sinh. Tư cách giáo viên thấp kém và tha hóa  
ứng yêu cầu của cuộc sống; không được đến như vậy thì giáo dục chỉ có hủ bại mà  
tiếp nhận một cách thụ động, sùng tín, lai thôi. Nền giáo dục mà thực dân Pháp áp đặt  
căng mất gốc. Ông viết: “Tôi thấy người ở Việt Nam là một nền giáo dục ngầm tiêu  
nước ta ngày nay, mặc đồ Tây, đi xe Tây, diệt nòi giống Việt Nam.  
uống rượu Tây, ngủ giường Tây, soi gương  
Qua phân tích và vạch rõ những bất cập  
Tây. Ngạo nghễ tự cho mình là văn minh, của nền giáo dục đương thời mà thực dân  
song đi sâu tìm hiểu thì chẳng khác chi Pháp đang áp đặt, Phan Bội Châu yêu cầu:  
những kẻ cam tâm làm nô lệ cho giặc; phải thay đổi nội dung chương trình giáo  
chẳng khác chi những kẻ chứa chấp của dục theo xu hướng kết hợp cái hay của “ lý  
riêng, ham chuộng giả dối, chẳng khác chi học” (đạo của thánh hiền) với “khí học”  
những kẻ ỷ lại nặng, chí tự cường bạc (khoa học kỹ thuật của phương Tây); phải  
nhược. Đem tư tưởng tinh thần như vậy mà đả phá cách nghĩ “quý đạo vương, khinh  
học đòi văn minh, thì chỉ có văn minh ngoài đạo bá”, “nội hạ ngoại di”; phải tích cực  
da, mà dã man trong tủy” [2, tr.317]. Thực học hỏi kỹ xảo, cái hữu dụng, cái mới, cái  
52  
Nguyễn Văn Hòa  
hay của các nước phương Tây; khi tiếp  
nhận các giá trị của phương Tây thì không  
được quên những giá trị tinh hoa của  
phương Đông nói chung và Việt Nam nói  
riêng; phải tạo được khả năng thích ứng cho  
con người trong hoàn cảnh mới. Theo Phan  
Bội Châu, giáo dục phải là giáo dục quốc  
dân, chứ không phải giáo dục nô lệ; “giáo  
dục là cái khuôn đúc người, là cái gốc để  
gây dựng nền chính trị”; giáo dục phải phù  
hợp với xu hướng phát triển của thời đại.  
Tư tưởng đó là định hướng cho các giải  
pháp tích cực đối với sự phát triển giáo dục  
và đào tạo, nhằm thâu tóm cái tinh túy của  
hai nền văn hóa Đông - Tây. Tư tưởng đó  
cũng chính là sự đánh dấu cho một quan  
điểm giáo dục mới tiến bộ hơn và khác với  
quan điểm giáo dục của Nho giáo. Tư tưởng  
đó đến nay, không phải không còn ý nghĩa  
của nó.  
Những bất cập của nền giáo dục trong xã  
hội thuộc địa nửa phong kiến, được Phan  
Bội Châu vạch ra, đã có tác dụng thổi bùng  
lên ngọn lửa đấu tranh của nhân dân Việt  
Nam chống lại chính sách ngu dân của thực  
dân Pháp, khuyến khích “tân học” và tạo  
nên chuyển biến tích cực về nhận thức và  
hành động trong việc xóa bỏ nền giáo dục  
nô lệ để xây dựng một nền giáo dục mới.  
Không những thế, những bất cập trên còn  
đặt ra những yêu cầu cấp bách mà nền giáo  
dục mới phải giải quyết.  
Pháp đang áp đặt ở Việt Nam, nhằm thức  
tỉnh nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh  
thoát khỏi nền giáo dục nô lệ và xây dựng  
một nền giáo dục mới. Theo Phan Bội  
Châu, “canh tân nghĩa là đổi thay theo cách  
mới... Vậy nên, canh tân về đường học vấn  
tri thức thì sự nghiệp càng đổi mới mà dân  
càng mạnh, nước càng giàu” [4, tr.59]; phải  
xây dựng nền giáo dục mới thì dân trí mới  
mở mang, dân khí mới lớn mạnh, dân  
quyền mới phát đạt, văn minh mới thông  
suốt, tự do mới mở rộng, báo chí mới đầy  
đường, tân thư mới đầy ngõ. Nền giáo dục  
mới phải là một nền giáo dục loại bỏ được  
những bất cập của nền giáo dục cũ. Sự thay  
thế nền giáo dục cũ bằng nền giáo dục cách  
mạng là một tất yếu. Cách mạng là sự duy  
tân lớn nhất. Năm 1945, nền giáo dục cách  
mạng Việt Nam ra đời. Đây là một nền giáo  
dục mới của nước Việt Nam độc lập, nền  
giáo dục này khác về chất so với các nền  
giáo dục trước đây.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Phan Bội Châu (1990), Toàn tập, t.1, Nxb  
Thuận Hóa, Huế.  
[2] Phan Bội Châu (1990), Toàn tập, t.2, Nxb  
Thuận Hóa, Huế.  
[3] Phan Bội Châu (1990), Toàn tập, t.3, Nxb  
Thuận Hóa, Huế.  
[4] Phan Bội Châu (1990), Toàn tập, t.4, Nxb  
Thuận Hóa, Huế.  
5. Kết luận  
[5] Nguyễn Văn Hòa (2006), Tư tưởng triết học và  
chính trị của Phan Bội Châu, Nxb Chính trị  
quốc gia, Hà Nội.  
Đứng trước vận mệnh sống còn của dân tộc  
và tương lai của đất nước, bằng ý thức trách  
nhiệm cùng với lòng yêu nước thiết tha của  
mình, Phan Bội Châu đã tố cáo và vạch rõ  
những bất cập của nền giáo dục trong xã  
hội thực dân nửa phong kiến mà thực dân  
[6] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, t.4, Nxb Chính  
trị quốc gia, Hà Nội.  
[7] Nguyễn Ngọc Quỳnh (2011), Hệ thống  
giáo dục và khoa cử Nho giáo triều  
Nguyễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
53  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2019  
54  
pdf 9 trang yennguyen 20940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng của Phan Bội Châu về giáo dục ở Việt Nam đầu thế kỷ XX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_tuong_cua_phan_boi_chau_ve_giao_duc_o_viet_nam_dau_the_ky.pdf