Tóm tắt Luận văn Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức vào việc thực hành đạo đức cho cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam hiện nay

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
VÕ VĂN THƯƠNG  
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC  
VÀO VIỆC THỰC HÀNH ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ  
CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC  
Mã số: 60 22 03 01  
Đà Nẵng – Năm 2017  
Công trình được hoàn thành tại  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN  
Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Anh Hoàng  
Phản biện 1: PGS.TS Ngô Văn Hà  
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa  
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn  
tốt nghiệp thạc sĩ Triết học họp tại trường Đại học Kinh  
tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 20 tháng 08 năm 2017  
Có thể tìm thấy luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, ĐHĐN  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của luận văn  
Hiện nay tình hình kinh tế thế giới diễn biến ngày một phức  
tạp làm cho các hệ giá trị đạo đức ngày càng đi xuống. Chính vì thế  
trong công cuộc đổi mới như hiện nay, việc học tập và làm theo tấm  
gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã và đang có một vị trí  
vai trò quan trọng trong sự phát triển ngày một nhanh của đất nước.  
Không phải ngẫu nhiên mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát  
động rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cuộc vận động  
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Như chúng  
ta đã biết, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đạo đức, lối sống của  
người cộng sản. Đạo đức, lối sống của Người là đạo đức cách mạng:  
“trung với nước, hiếu với dân”, “Yêu thương con người”, “cần, kiệm,  
liêm, chính, chí công, vô tư”, “tinh thần quốc tế trong sáng”. Đó còn  
là tình yêu thương con người, luôn sống có tình nghĩa, nhân hậu,  
thuỷ chung, bao dung, rộng lượng; là tinh thần cao cả trong sáng,  
sống vì mọi người, sống vì nhân loại.  
Từ khi có cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo  
đức Hồ Chí Minh", công tác cán bộ của tỉnh Quảng Nam nói riêng và  
các nước nói chung có nhiều tiến bộ, đi vào chiều sâu. Đảng bộ tỉnh  
Quảng Nam đã từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng có phẩm  
chất chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền  
với chủ nghĩa xã hội. Có năng lực công tác và đạo đức cách mạng  
trong sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, đáp ứng yêu cầu  
đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới nhằm đưa tỉnh Quảng Nam phát triển  
nhanh và bền vững. Tuy nhiên, hiện nay do sự tác động của tình hình  
chính trị - kinh tế thế giới, bên cạnh đó sự tác động tiêu cực của mặt  
2
trái kinh tế thị trường đã làm cho một bộ phận cán bộ công chức của  
tỉnh Quảng Nam suy giảm về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống,  
dẫn tới quan liêu, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền…làm giảm niềm  
tin của quần chúng của nhân dân đối với cán bộ công chức trong tỉnh  
và với sự nghiệp cách mạng của đất nước.  
Trong thời gian gần đây Đảng bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh  
Quảng Nam đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách về vấn đề cán bộ  
công chức nhằm nâng cao chất lượng, cũng như củng cố, đổi mới,  
phát triển đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên  
muốn các chủ trương chính sách đúng đắn đó đi được vào chiều sâu,  
thì cùng với việc tăng cường công tác tổng kết thực tiễn cần nắm  
chắc lý luận, đi sâu vào bản chất khái niệm, thấy được nét đặt thù và  
vai trò của cán bộ công chức đồng thời nhận rõ những thuận lợi cũng  
như khó khăn mà giai đoạn mới hiện nay đặt ra.  
Với mục đích nghiên cứu tìm hiểu thực trạng đạo đức của cán  
bộ công chức tỉnh Quảng Nam từ đó đưa ra phương hướng và các  
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đạo đức của đội ngũ cán bộ  
công chức tỉnh Quảng Nam hiện nay, Tác giả xin chọn luận văn:  
“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức vào việc thực hành  
đạo đức cho cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam hiện nay”. Làm  
luận văn tốt nghiệp của mình.  
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
- Mục tiêu trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về  
đạo đức và thực hành đạo đức của cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam  
hiện nay. Luận văn đưa ra phương hướng và những giải pháp nhằm  
nâng cao hiệu quả thực hành đạo đức cho cán bộ công chức tỉnh  
Quảng Nam.  
Để đạt mục tiêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:  
3
+ Làm rõ một số quan niệm về đạo đức và nêu lên vai trò của  
đạo đức.  
+ Phân tích làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và thực  
hành đạo đức cách mạng.  
+ Phân tích, đánh giá việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức  
của cán bộ công chức ở tỉnh Quảng Nam hiện nay, tìm ra nguyên  
nhân và những hạn chế trong thực tiễn công tác.  
+ Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao  
hiệu quả thực hành đạo đức cho cán bộ công chức của tỉnh Quảng  
Nam trong giai đoạn mới.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Một số tiền đề vấn đề lý luận hình  
thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, thực hành đạo đức và thực  
trạng đạo đức của cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam hiện nay; từ đó  
đưa ra phương hướng và những giải pháp để nâng cao hiệu quả thực  
hành đạo đức cho cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam hiện nay.  
- Phạm vi nghiên cứu: tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức,  
thực hành đạo đức là vấn đề không mới nhưng khi vận dụng để nâng  
cao hiệu quả thực hành đạo đức cho cán bộ công chức tỉnh Quảng  
Nam là một việc vô cùng phức tạp. Trong khuôn khổ giới hạn của  
một luận văn thạc sĩ, luận văn tập trung nghiên cứu trong các phạm  
vi sau:  
Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng  
Nam.  
Phạm vi thời gian: nghiên cứu các thông tin, số liệu, dữ liệu  
về cán bộ công chức trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Thực tiễn công  
tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến  
nay).  
4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Do phạm vi nghiên cứu của luận văn rộng, nhiều nội dung,  
lĩnh vực nên luận văn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, cụ thể  
như sau:  
Phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác –Lênin; tư tưởng Hồ Chí  
Minh; Quan điểm đường lối của Đảng;  
Các phương pháp nghiên cứu khoa học khác: phương pháp  
tổng hợp và phân tích tài liệu, hệ thống dữ liệu; kế thừa và phát triển,  
đánh giá và tổng kết kinh nghiệm; logic và lịch sử, thống kê mô tả,  
quy nạp và diễn dịch, …để làm rõ vấn đề nghiên cứu.  
5. Bố cục của luận văn  
Bố cục của luận văn gồm Phần mở đầu, 3 chương, 7 tiết,  
Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phần phụ lục.  
Chương 1: Lý luận chung về đạo đức  
Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và thực trạng  
thực hành đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam  
hiện nay  
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu  
quả thực hành đạo đức cho cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam  
6. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu.  
Cán bộ công chức là một bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu  
tổ chức cán bộ của hệ thống tổ chức chính trị.  
Chính vì thế khi lựa chọn những cán bộ có đủ đức và tài để  
tham mưu với Đảng bố trí đảm nhận là cán bộ công chức các cấp là  
một vấn đề hết sức quan trọng. Liên quan đến luận văn này đã có  
một số công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung dưới dạng chuyên đề,  
luận văn thạc sỹ, các bài đăng trên các sách, báo, tạp chí, kỷ yếu, hội  
thảo khoa học. Đó là nguồn tài liệu quý báu giúp tôi làm tài liệu, cơ  
5
sở nghiên cứu để hoàn thiện luận văn của mình trong đó phải kể tới  
một số công trình nghiên cứu như:  
Luận án tiến sỹ Triết học, 2011. “Tư tưởng hồ chí minh về  
đánh giá cán bộ và sự vận dụng vào trong công tác đánh giá cán bộ  
ở nước ta hiện nay” của Lê Đình Thảo đã nêu lên những nội dung  
về đánh giá cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư  
tưởng Hồ Chí Minh vào công tác đánh giá cán bộ ở nước ta hiện nay  
và những vấn để đặt ra.  
Luận văn thạc sỹ ngành khoa học quản lý, 2014: “Đạo đức  
công vụ của đội ngũ công chức trong giai đoạn đổi mới ở nước ta  
hiện nay”, của Lê Thị Huyền Trang. Luận văn đã đề cập đến cơ sở lý  
luận về đạo đức công vụ; nêu lên được thực trạng đạo đức công vụ ở  
nước ta hiện nay từ đó tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp nhằm  
nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức nước ta hiện nay.  
Tất cả những nghiên cứu trên đều phản ánh một mặt nào đó  
về vấn đề đạo đức, cán bộ và công tác cán bộ, những nghiên cứu này  
vừa mang tính chất chung cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại  
hóa, vừa nhìn nhận công tác công tác cán bộ mang tính đặc thù.  
Nhưng khi nghiên cứu về đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh Quảng  
Nam nói riêng và các tỉnh, thành phố trong cả nước nói chung còn ít  
được các nhà nghiên cứu đề cập đến, trên cơ sở đó việc thực hiện  
luận văn này là cần thiết nhằm làm sâu sắc hơn một khía cạnh quan  
trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và thực hành đạo đức  
cách mạng cho đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam, chính vì  
vậy tôi chọn luận văn: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức  
vào việc thực hành đạo đức cho cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam  
hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình.  
6
CHƢƠNG 1  
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC  
1.1. KHÁI NIỆM ĐẠO ĐỨC  
1.1.1. Quan niệm về đạo đức trong triết học Phƣơng Đông  
Từ thế kỷ XVI Trước công nguyên, Khổng Tử và các học  
trò của ông đã thấy được sức mạnh và vai trò to lớn của đạo đức đối  
với xã hội. Vì vậy, nội dung quan trọng của Nho giáo là luận bàn về  
đạo đức. Khổng Tử đã khuyên học trò của mình “Tiên học lễ, hậu  
học văn”.  
Tuy không phải là người đầu tiên bàn đến vấn đề đạo đức,  
nhưng Khổng Tử đã có công lao rất lớn trong việc tổng kết kinh  
nghiệm thực tiễn của đời sống xã hội, từ đó Ông đã xây dựng học  
thuyết đạo đức chứa đựng nhiều nội dung: Đó là ý thức với bản thân,  
ý thức với xã hội, đặt các mối quan hệ của con người trong mối  
tương quan xã hội, cách ứng xử và hành vi của con người.  
Đạo đức Phật giáo với tư cách là hình thái ý thức xã hội,  
Phật giáo cũng như mọi tôn giáo, cũng mang trong nó những giá trị  
tư tưởng, như là sự phản ánh khát khao vươn tới chân - thiện - mỹ  
của chính loài người; Đạo đức phật giáo, theo tiến trình lịch sử, tôn  
giáo trở thành một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, văn minh  
nhân loại. Phật giáo là một tôn giáo lớn, đã để lại cho nhân loại nhiều  
tư tưởng về tôn giáo, triết học, chính trị, mỹ học, văn hóa,…trong đó  
nổi bật nhất là tư tưởng đạo đức. Phật giáo về cơ bản không phải là  
một học thuyết về đạo đức, song xuất phát điểm của nó là chỉ dạy  
cho con người biết nguyên nhân của nỗi khổ và con đường giải thoát.  
Từ những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, Phật giáo rút ra hệ quả của  
7
chúng để xây dựng một hệ thống quan niệm đạo đức. Như vậy, đạo  
đức là nền tảng quan trọng trong hệ thống giáo lý của Phật giáo.  
1.1.2. Quan niệm về đạo đức của triết học Phƣơng Tây  
Đối với cuộc sống của con người Phương Tây đạo đức là  
một vấn đề rất quan trọng và luôn được đề cập đến. Đêmôcrít quan  
niệm về “Đạo đức là đi tìm khoái lạc vì sự thiện là khoái lạc, còn sự  
ác là đau khổ. Để mang lại sự thiện thực sự, khoái lạc phải là sự hoan  
hỉ dài và trường tồn.”.  
. Còn đối với Socrate, con người là đối tượng đáng được  
quan tâm hơn cả và bất cứ điều gì ảnh hưởng đến con người đều có  
tầm quan trọng quyết định. Quan niệm đạo đức của con người có thể  
tìm hiểu những điều thuộc đời sống thực tiễn, để tìm thấy những  
chân lý khách quan về một nền đạo đức thực tiễn.  
Theo ý tưởng của Platon, con người phải có khôn ngoan và  
biết sống điều độ, nghĩa là phải biết làm chủ được bản thân mình để  
đạt được hạnh phúc. Đạo đức của Platon là những yếu tố như: hạnh  
phúc, chính trực và chiêm ngưỡng. Sự phát triển đạo đức song song  
với tri thức, vì sự tăng trưởng tri thức làm gia tăng tình yêu đối với  
chân, thiện và mỹ (cái đẹp).  
1.1.3. Quan niệm triết học Mác – Lênin về đạo đức  
Đạo đức nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực  
riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người. Và cũng như các quan  
điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo đều mang tính chất của  
kiến trúc thượng tầng. Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan  
điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó. Ví dụ: Thích ứng với chế  
độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột  
chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô. Thích ứng với chế độ  
tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức  
8
tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức biểu hiện mối  
quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ  
nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc  
lột. Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là  
một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định.  
1.2. VAI TRÒ ĐẠO ĐỨC  
Đạo đức được hình thành như là một hệ thống tương đối độc  
lập của xã hội, trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu  
tố hợp thành đạo đức. Khi phân tích vai trò của đạo đức người ta  
thường xem xét nó dưới nhiều góc độ. Mỗi góc độ cho phép chúng ta  
nhìn ra một vai trò xác định. Chẳng hạn: xét đạo đức theo mối quan  
hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai  
yếu tố ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nếu xét nó trong mối  
quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức.  
Nếu xét theo quan niệm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng,  
cái phổ biến cái đặc thù với cái đơn nhất thì đạo đức được tạo nên từ  
đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.  
1.2.1. Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức.  
Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm, tri thức và các  
trạng thái xúc cảm tâm lý chung của các cộng đồng người về các giá  
trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng... và về  
những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với  
xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội.  
Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con  
người được nảy sinh trên cơ sở của ý thức đạo đức. Thực tiễn đạo  
đức được biểu hiện như sự tương trợ, giúp đỡ, cử chỉ nghĩa hiệp,  
hành động nghĩa vụ…  
9
1.2.2. Quan hệ đạo đức  
Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa  
con người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức.  
Quan hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo  
nên tín hiệu thực của bản chất xã hội của con người.  
Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực nhằm điều chỉnh và  
đánh giá quan hệ ứng xử giữa con người với con người trong xã hội.  
Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức  
mạnh của dư luận xã hội. Đạo đức không chỉ là các giá trị trong quan  
hệ giữa người và người, giữa con người với xã hội, mà còn là tính tự  
trọng, sự tự ý thức về danh dự, nhân phẩm mỗi con người.  
1.2.3. Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.  
Đạo đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của một cộng  
đồng người xác định, và là phương thức điều chỉnh hành vi của các  
cá nhân thuộc cộng đồng nhằm hình thành; phát triển phù hợp với  
tồn tại xã hội ấy.  
Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi  
ích và hoạt động của cá nhân thuộc cộng đồng. Nó tồn tại như là một  
hệ thống kinh nghiệm xã hội mang tính phổ biến của đời sống đạo  
đức của cộng đồng.  
Đạo đức cá nhân là đạo đức của những cá nhân riêng lẻ trong  
cộng đồng, phản ảnh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy  
như là thể hiện riêng lẻ của tồn tại xã hội của cộng đồng về lợi ích và  
hoạt động của các cá nhân.  
Giá trị đạo đức được thể hiện thông qua việc thực hiện các  
chức năng của đạo đức. Song, ở giai đoạn nào của sự phát triển xã  
hội thì đạo đức, cũng có những chức năng cơ bản riêng.  
10  
CHƢƠNG 2  
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ THỰC  
TRẠNG THỰC HÀNH ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN,  
CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY  
2.1. TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC  
2.1.1. Các phẩm chất đạo đức trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh  
* Trung với nước – hiếu với dân  
* Yêu thương con người  
* Cần – Kiệm – Liêm – Chính – Chí công vô tư  
* Tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung  
2.1.2. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới trong tƣ  
tƣởng Hồ Chí Minh  
* Nói đi đôi với làm, nêu gương tốt, làm việc tốt  
* Kết hợp chặc chẽ “xây đi đôi với chống”  
* Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời  
2.2. KHÁI QUÁT NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỈNH QUẢNG NAM  
2.2.1. Các giá trị trị văn hóa và con ngƣời Quảng Nam  
Danh xưng Quảng Nam đã ra đời và tồn tại đến nay hơn 540  
năm. Quảng có nghĩa là mở rộng; Nam là hướng Nam. Quảng Nam  
là mở rộng về hướng Nam, đi về phương Nam.  
Từ năm 1997, do yêu cầu phát triển của khu vực nói chung,  
quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng nói riêng, nên Trung ương đã  
quyết định chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng để thành lập 2 đơn  
vị hành chính trực thuộc Trung ương là tỉnh Quảng Nam và thành  
phố Đà Nẵng.  
Ngày nay, Quảng Nam là một tỉnh duyên hải miền Trung, có  
diện tích tự nhiên là 10.438 km2, dân số trung bình 1.480 triệu người,  
gồm 93,6% là dân tộc Kinh và gần 6,4% là các dân tộc ít người.  
11  
Quảng Nam có 16 huyện và 2 thành phố là Tam Kỳ và Hội An. Phía  
Bắc giáp Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên - Huế. Phía Nam  
giáp tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum. Phía Tây giáp nước CHDCND  
Lào với đường biên giới dài 142km. Phía Đông giáp Biển Đông với  
chiều dài bờ biển 125km.  
Quảng Nam là một trong những vùng đất giàu truyền thống  
yêu nước, cách mạng và là một vùng văn hóa đặc sắc của Tổ quốc ta.  
2.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội  
Khi mới tái lập tỉnh (1997), tổng sản phẩm trên địa bàn  
Quảng Nam chỉ đạt 2.917 tỷ đồng với mức tăng trưởng 8,9%. Đến  
năm 2016 tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước tính đạt  
62.315 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2015 tăng 14,83%. Giai đoạn  
2011-2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh tăng lên  
14,83% (Bảng 2.1) Cụ thể: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản  
(NLTS) đạt 6.466 tỷ đồng, tăng 1,3%; công nghiệp và xây dựng  
(CN-XD) đạt 26.711 tỷ đồng, tăng 13,44% so với cùng kỳ; khu vực  
dịch vụ đạt 16.132 tỷ đồng, tăng 8,58%. Trong tốc độ tăng trưởng  
chung của toàn nền kinh tế, khu vực NLTS đóng góp 0,15%; khu vực  
CN-XD đóng góp 5,83%; khu vực dịch vụ đóng góp 2,35%; Thuế  
sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 6,49%.  
Bảng 2.1. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế và GRDP bình quân đầu  
ngƣời tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2016  
GRDP bình  
GRDP theo giá so sánh  
Tốc độ tăng  
trƣởng (%)  
Năm  
quân/ ngƣời  
(triệu đồng)  
24,34  
năm 2010 (tỷ đồng)  
2011  
2012  
27.708  
30.734  
12,20  
11,20  
26,21  
12  
2013  
2014  
2015  
2016  
34.134  
38.720  
44.283  
62.315  
11,18  
11,51  
11,56  
14.83  
30,70  
35,09  
41,4  
53  
Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Nam 2016  
Cơ cấu kinh tế năm 2016 chuyển dịch theo hướng tích cực.  
Tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm lớn nhất, đạt 40,15%  
(trong đó khu vực công nghiệp chiếm 35,82%); khu vực dịch vụ  
chiếm 27,53%; khu vực Nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm  
12,05%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 20,27% tổng  
sản phẩm trên địa bàn. GRDP bình quân đầu người đạt trên 53 triệu  
đồng/người/năm; tăng 6,7 triệu đồng/người so với năm 2015.  
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2016 tăng  
cao và sớm vượt dự toán năm, đạt 19.450 tỷ đồng, tăng hơn 29,3% so  
với năm 2015, vượt thu 40,5% so với dự toán.  
2.3. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG  
XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG  
CHỨC TỈNH QUẢNG NAM TỪ CÁC NGUYÊN TẮC VÀ  
PHẦM CHẤT ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH  
2.3.1. Những kết quả đạt đƣợc  
Theo thống kê của tỉnh ủy Quảng Nam tính đến ngày  
31/12/2015. Đối với xã, phường, thị trấn: Cán bộ, công chức cấp xã  
4.652 đồng chí, trong đó: Các xã thuộc 9 huyện đồng bằng: 2.522  
đồng chí; Các xã thuộc 9 huyện miền núi: 2.130 đồng chí.  
Đối với huyện, thị, thành phố: Cán bộ, công chức là trưởng  
phòng và tương đương trở lên: 502 đồng chí, cán bộ, công chức là  
phó trưởng phòng và tương đương: 793 đồng chí  
13  
Đối với cấp tỉnh: Cán bộ, công chức là giám đốc, phó giám  
đốc các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và tương đương có 126 đồng  
chí. Cán bộ, công chức là trưởng phòng và tương đương thuộc các  
sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh có 347 đồng chí. Cán bộ, công chức là  
phó trưởng phòng và tương đương thuộc các sở, ban, ngành, đoàn thể  
tỉnh có 451 đồng chí.  
Tính đến ngày 30/9/2015, toàn tỉnh có toàn tỉnh có 1.180 tổ  
chức cơ sở đảng (đảng bộ cơ sở 402; chi bộ cơ sở 778), tăng 72 Tổ  
chức cơ sở đảng so với năm 2010, 02 đảng bộ bộ phận; 3.866 chi bộ  
trực thuộc, với 60.107 đảng viên, tăng 12.575 đảng viên so với năm  
2010.  
Kể từ khi chia tách tỉnh đến nay nhìn chung đội ngũ cán bộ  
công chức tỉnh Quảng Nam không những tăng lên về số lượng, mà  
chất lượng ngày một cao đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ trong  
tình hình mới. Đội ngũ cán bộ công chức tham gia công tác quản lý,  
lãnh đạo các cấp đã phát huy tốt vai trò và khả năng của mình, không  
ngừng nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành, góp phần  
quan trọng vào sự đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị.  
2.3.2. Những mặt hạn chế  
Trong tình hình hiện nay, Quảng Nam đang có nhiều chuyển  
biến mạnh mẽ trong hội nhập nền kinh tế quốc tế, đời sống nhân dân  
từng bước được nâng cao. Xã hội ngày càng phát triển đã ảnh hưởng  
tích cực và tiêu cực về nhiều mặt đến lực lượng cán bộ, công chức,  
tạo sự chuyển biến lớn về tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ công  
chức do vậy đã có một bộ phận cán bộ công chức có biểu hiện suy  
thoái, thiếu gương mẫu về đạo đức và lối sống.  
Có thể thấy những việc liên quan sai phạm về đạo đức của  
cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay xuất  
14  
hiện chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như: đất đai, xây dựng,  
công an, kiểm lâm, y tế, giao thông... Trong đó, có nhiều vụ việc  
cán bộ công chức vi phạm đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp  
gây hậu quả, như một số vụ công chức kiểm lâm làm công tác  
quản lý, bảo vệ rừng lơ là, thiếu trách nhiệm để cho "lâm tặc" phá  
rừng; một số viên chức ngành y tế lợi dụng vị trí việc làm vi phạm  
pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, xâm phạm nhân phẩm,  
danh dự và thể xác của người khác; một số cán bộ dự án "rút ruột"  
công trình xây dựng; một số công chức thanh tra giao thông, công  
an giao thông nhận tiền “mãi lộ” của lái xe và doanh nghiệp; một  
số công chức địa chính cố ý sai phạm để trục lợi cá nhân; có cán  
bộ làm công tác đền bù, giải tỏa thiếu quản lý, tắc trách để cấp  
dưới gây ra những sai phạm gây nhiều dư luận, bức xúc cho người  
dân.  
2.3.3. Những vấn đề đặt ra  
Một là Xây dựng chuẩn mực đạo đức cho cán bộ công chức  
tỉnh Quảng Nam  
Trước tình hình thực tế như hiện nay để xây dựng các chuẩn  
mực đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam. Trong  
đó cần đề cao các tiêu chí về tiếp xúc, xưng hô với nhân dân, giờ  
giấc làm việc, tinh thần, thái độ, sự tận tụy với công việc và có cả  
chế tài đối với các vi phạm quy đinh và xác định rõ cơ quan có chức  
năng xử lý vi phạm…  
Trong đó, đề cao những chuẩn mực đạo đức của từng ngành,  
từng đơn vị, lĩnh vực mà mình công tác; mỗi cán bộ công chức cần  
có phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, có năng lực chuyên  
môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới như nghị quyết  
Trung ương 4 (Khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn đảng;  
15  
ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối  
sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,  
thì việc xây dựng và thực hiện đạo đức có vai trò, ý nghĩa quan  
trọng.  
Hai là, Sự giáo dục, tự rèn luyện, tu dưỡng của mỗi cán bộ  
công chức và cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan, đơn vị và  
nhân dân.  
Đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng tác động đến việc  
hình thành và nâng cao đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức tỉnh  
Quảng Nam hiện nay. Bởi lẽ, những nội dung căn bản của đạo đức  
hầu hết các cán bộ công chức đều hiểu rõ. Tuy nhiên, để có thể thực  
hành những nội dung đó trong thực tế tại tỉnh Quảng Nam thì mỗi  
cán bộ công chức tỉnh cần tự mình rèn luyện, phấn đấu không ngừng  
trong việc nâng cao trình độ nhận thức, năng lực chuyên môn cần  
thiết để thực hiện nhiệm vụ được giao, vượt qua những cám dỗ về  
vật chất, phục vụ Nhân dân và Tổ quốc. Người cán bộ công chức tỉnh  
nếu không chú tâm tới việc tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách  
mạng thì sẽ không thể thực hiện tốt nghĩa vụ của mình trước Đảng,  
Nhà nước và nhân dân, thậm chí còn bị tha hóa, biến chất trước sự  
tác động đa chiều của đời sống xã hội.  
Ba là, sự tác động của pháp luật và cơ chế quản lý, đánh giá  
cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam  
Nếu hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, không có "kẽ hở" thì  
việc "lách luật" sẽ trở nên khó khăn, từ đó sẽ hạn chế được những  
hành vi sai trái trong việc thực hành đạo đức của đội ngũ cán bộ công  
chức tỉnh. Ngược lại, khi còn tồn tại những bất cập trong pháp luật  
thì người cán bộ công chức tỉnh có thể cố ý hoặc vô tình thực hiện  
những hành vi trái với đạo đức, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới  
16  
hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, tới uy tín của nhà nước trước  
nhân dân.  
Bốn là, Mỗi trường công tác lành mạnh, chế độ đãi ngộ,  
chính sách tiền lương hợp lý.  
Các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, như: phòng  
làm việc, biển hiệu cán bộ, công chức, thẻ cán bộ, công chức, bảng  
nội quy, trang phục… luôn hàng ngày tác động trực tiếp tới cán bộ,  
công chức. Nhưng thực tế tại tỉnh Quảng Nam hiện nay do quy định  
và điều kiện kinh tế xã hội mà một số trang thiết bị hỗ trợ người cán  
bộ công chức của tỉnh để hoàn thành nhiệm vụ được giao còn hạn  
chế, việc sắp đặt trang thiết bị còn chưa ngăn nắp, khoa học làm ảnh  
hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ được giao, có một vài cá nhân  
đã hình thành thành tâm lý chán nản, kém nhiệt huyết, ảnh hưởng  
đến đạo đức.  
17  
CHƢƠNG 3  
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU  
QUẢ THỰC HÀNH ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ CÔNG CHỨC  
TỈNH QUẢNG NAM.  
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ  
THỰC HÀNH ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ CÔNG CHỨC TỈNH  
QUẢNG NAM HIỆN NAY  
3.1.1. Nâng cao nhận thức của cán bộ công chức tỉnh Quảng  
Nam về vài trò của đạo đức  
Ngày nay, tình hình kinh tế - chính trị xã hội trong nước và  
trên thế giới đang có những biến động mới, sự tác động của mặt trái  
nền kinh tế thị trường, sự giao lưu, hội nhập quốc tế càng mở rộng.  
Cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch bằng “diễn biến hoà  
bình” với các thủ đoạn tinh vi và quyết liệt hơn, đang đặt ra cho cách  
mạng nước ta những yêu cầu, nhiệm vụ và thách thức mới, đòi hỏi  
đội ngũ cán bộ công chức cả nước nói chung đặc biệt là lực lượng  
cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam nói riêng cần phải có những nhận  
thức mới cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn mới, phải nêu cao ý  
thức tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn, để nâng cao bản  
lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tri thức khoa học cần thiết và phẩm  
chất đạo đức, lối sống, phương pháp và tác phong công tác đáp ứng  
đòi hỏi ngày một cao hơn của tình hình, nhiệm vụ mới.  
Việc nâng cao nhận thức cho cán bộ công chức tỉnh Quảng  
Nam có ý nghĩa quan trọng, nó cần được xây dựng dựa trên các yếu  
tố sau:  
Về mặt lương tâm: Cán bộ công chức phải cam kết bảo vệ  
toàn vẹn nền dân chủ nhằm xây dựng nền công vụ lành mạnh, có  
hiệu lực, hiệu quả. Cán bộ công chức có lương tâm sẽ luôn biết coi  
18  
trọng nguyên tắc, ý thức sâu sắc về bổn phận, trách nhiệm, nhất là ý  
thức rõ rệt về trách nhiệm cá nhân trước những công việc được giao  
phó, ủy thác. Tự bản thân người cán bộ công chức có coi trọng nhân  
cách và phẩm giá, danh dự của mình thì mới biết tôn trọng nhân  
cách, danh dự và nhân phẩm của người khác.  
3.1.2. Luôn bám sát vấn đề thực tiễn, vận dụng lý luận và  
thực tiễn  
Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam hết sức quan tâm  
đến việc bồi dưỡng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức tỉnh,  
nhằm đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu ngày một cao của công việc. Cho đến  
nay đội ngũ cán bộ công chức tỉnh đã đi vào nề nếp, thu được những  
kết quả tích cực trong công việc. Tuy nhiên nó vẫn còn một số hạn  
chế, yếu kém cần được khắc phục. Trong đó có sự yếu kém về lý  
luận, xa rời thực tiễn của một bộ phận cán bộ công chức đã gây bức  
xúc cho người dân. Từ thực tiễn cho thấy thực trạng đạo đức của đội  
ngũ cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam hiện nay chủ yếu thuộc 3  
loại:  
Một là, cán bộ công chức am hiểu lý luận nhưng ít thực tiễn  
Hai là, cán bộ công chức có thực tiễn nhưng yếu lý luận  
Ba là, cán bộ công chức vừa không am hiểu lý luận, vừa xa rời  
thực tiễn (chiếm tỷ lệ thấp).  
Để xây dựng hình thành đạo đức cho đội ngũ cán bộ công  
chức vững về lý luận, sâu sát với thực tế, đáp ứng yêu cầu ngày một  
tăng của tình hình mới tỉnh Quảng Nam cần có những giải pháp đồng  
bộ.  
3.1.3. Thƣờng xuyên tổng kết kinh nghiệm và không ngừng  
nâng cao kỹ năng của ngƣời cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 19800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức vào việc thực hành đạo đức cho cán bộ công chức tỉnh Quảng Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_van_dung_tu_tuong_ho_chi_minh_ve_dao_duc_va.pdf