Tóm tắt Luận văn Quan điểm tự do trong Triết học hiện sinh: Giá trị và hạn chế

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
-----------------  
PHAN THỊ VÂN TRINH  
QUAN ĐIỂM TỰ DO TRONG TRIẾT HỌC  
HIỆN SINH: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC  
Chuyên ngành: Triết học  
Mã số: 60.22.03.01  
Đà Nẵng – Năm 2017  
Công trình được hoàn thành tại  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN  
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng  
Phản biện 1: TS. Trần Ngọc Ánh  
Phản biện 2: PGS. TS. Hồ Tấn Sáng  
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm  
Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học xã hội và  
nhân văn họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 25  
tháng 3 năm 2017  
Có thể tìm hiểu Luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin – Học liệu: Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Triết học phƣơng Tây hiện đại ngoài mácxít ra đời từ khoảng  
cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX tạo thành một giai đoạn mới trong  
tiến trình lịch sử triết học thế giới. Cho đến nay, không thể phủ nhận  
những đóng góp to lớn của nó vào kho tàng tri thức của nhân loại.  
Do đó, tìm hiểu, nghiên cứu triết học phƣơng Tây hiện đại ngoài  
mác xít là cần thiết, quan trọng nhằm phát triển trình độ tƣ duy lí  
luận và nâng cao năng lực nhận thức của con ngƣời, hơn thế nữa là  
chắt lọc những giá trị văn hoá của nhân loại.  
Tuy nhiên, ở nƣớc ta từ trƣớc đến nay việc nghiên cứu triết  
học phƣơng Tây hiện đại chƣa đƣợc chú ý đúng mức, chính vì vậy,  
Đảng đã đề ra phƣơng hƣớng chỉ đạo: “Đối với những trào lƣu tƣ  
tƣởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiếp tục mở rộng và đi sâu nghiên  
cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng và tiếp thu những giá  
trị tiến bộ”.  
Triết học phƣơng Tây ngoài mác xít phát triển rất đa dạng,  
phong phú và phức tạp với nhiều khuynh hƣớng chủ đạo. Trong  
dòng chảy của triết học phƣơng Tây hiện đại ấy, chủ nghĩa hiện  
sinh là một trong những trào lƣu triết học nhân bản phi lí tính, nổi  
trội, tiêu biểu, cần phải đƣợc nghiên cứu.  
Chủ nghĩa hiện sinh là một trƣờng phái th rất phức tạp. Quan  
điểm của những đại biểu triết học này thƣờng có sự khác nhau rất  
lớn. Tuy nhiên, tất cả những ngƣời theo chủ nghĩa hiện sinh đều  
coi sự hiện sinh của cá nhân là nội dung cơ bản trong triết học của  
mình, đều coi sự hiện sinh của cá nhân là nội dung cơ bản của triết  
học là sự cảm thụ chủ quan, sự thể nghiệm tâm lý có tính chất phi  
lý tính của cá nhân.  
2
Trong sự phát triển của lịch sử loài ngƣời, tự do là điều mà con  
ngƣời khát khao vƣơn tới. Đề tài tự do đƣợc nhắc tới và đặc biệt  
nhấn mạnh trong rất nhiều tác phẩm của các nhà triết học phƣơng  
Tây. Chủ nghĩa hiện sinh là trào lƣu triết học mà trong đó tự do cá  
nhân đƣợc đƣa lên hàng đầu.  
Đối với chủ nghĩa hiện sinh, vấn đề tự do không chỉ là quan  
niệm mà còn là một hệ thống lý luận. Nó nghiên cứu một cách có hệ  
thống nhiều khía cạnh của vấn đề tự do, nhƣ nguồn gốc, bản chất  
của tự do, vai trò của tự do, mối quan hệ giữa tự do cá nhân với  
chính trị, đạo đức, tôn giáo của xã hội, quan hệ giữa tự do của cá  
nhân này với cá nhân khác.  
Nghiên cứu lý luận về tự do của chủ nghĩa hiện sinh để đối  
chiếu với những quan điểm khác về tự do sẽ giúp chúng ta tìm ra  
đƣợc nhiều yếu tố có giá trị để kế thừa và khắc phục những hạn chế  
cực đoan của nó, vì vậy có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định  
quan niệm đúng đắn về tự do cá nhân, góp phần thực hiện tốt hơn  
việc giáo dục quan niệm về tự do cho thế hệ trẻ hiện nay. Chính vì  
những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Quan điểm tự do trong triết học  
hiện sinh: giá trị và hạn chế” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.  
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn  
2.1. Mục đích nghiên cứu  
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách có hệ thống  
những nội dung cơ bản của lý luận về tự do trong triết học hiện  
sinh, từ đó rút ra những giá trị và hạn chế cũng nhƣ ảnh hƣởng của  
quan điểm đó tới giáo dục ý thức về tự do cho thế hệ trẻ hiện nay.  
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để thực hiện đƣợc mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm  
vụ sau đây:  
3
- Nghiên cứu hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa hiện sinh và quan  
điểm về tự do của nó.  
- Phân tích những nội dung cụ thể trong lý luận về tự do của  
triết học hiện sinh.  
- Chỉ ra những đóng góp và hạn chế trong lý luận về tự do của  
triết học hiện sinh, qua đó làm rõ sự cần thiết kế thừa một số yếu  
tố tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế cực đoan của nó  
trong giáo dục quan điểm về tự do cho thế hệ trẻ ở nƣớc ta hiện  
nay.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Luận văn có đối tƣợng nghiên cứu là lý luận về tự do qua một  
số tác phẩm của các đại biểu của triết học hiện sinh, rút những giá  
trị cũng nhƣ hạn chế của quan điểm đó.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong quan  
điểm về tự do của các đại biểu của triết học hiện sinh qua một số tác  
phẩm của họ. Đồng thời luận văn cũng tham khảo tƣ tƣởng về tự do  
trong triết học Mác và của các nhà triết học trong lịch sử; nghiên  
cứu những ý kiến phê phán chủ nghĩa hiện sinh từ nhiều phía; qua  
đó rút ra những giá trị cùng những hạn chế trong quan điểm về tự do  
của chủ nghĩa hiện sinh, chỉ ra những yếu tố tích cực cần đƣợc kế  
thừa và những yếu tố tiêu cực cần phải khắc phục trong việc giáo  
dục ý thức tự do hiện nay.  
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn  
4.1. Cơ sở lý luận  
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận của chủ  
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận  
4
nhận thức duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin.  
4.2. Phương pháp nghiên cứu  
Luận văn sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu khác  
nhau. Nhƣng chủ yếu sử dụng các phƣơng pháp chủ yếu sau:  
phƣơng pháp thống nhất giữa phân tích và tổng hợp, quy nạp và  
diễn dịch, lôgic và lịch sử, đối chiếu, so sánh, trừu tƣợng hóa, khái  
quát hóa ...  
5. Bố cục của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn  
có nội dung chính gồm 3 chƣơng:  
Chƣơng 1. Hoàn cảnh ra đời và các đại biểu chủ yếu của  
chủ nghĩa hiện sinh  
Chƣơng 2. Những nội dung cơ bản trong lý luận về tự do  
của chủ nghĩa hiện sinh  
Chƣơng 3. Những giá trị và hạn chế trong quan điểm về tự  
do của chủ nghĩa hiện sinh  
5
CHƢƠNG I  
HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ CÁC ĐẠI BIỂU CHỦ YẾU CỦA  
CHỦ NGHĨA HIỆN SINH  
1.1. HOÀN CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ  
LUẬN CỦA SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH  
1.1.1. Các điều kiện xã hội phƣơng Tây cuối thế kỉ XIX  
đầu thế kỷ XX  
Trong xã hội phƣơng tây cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,  
phƣơng thức sản xuất Tƣ bản chủ nghĩa chạy theo lợi nhuận tối đa đã  
đẩy con ngƣời vào tình trạng tha hoá cùng cực, lấy đi của họ cái vị trí  
làm ngƣời đích thực. Những tệ nạn xã hội cùng với sự tàn phá khủng  
khiếp từ hai cuộc thế chiến do chủ nghĩa đế quốc gây ra đã đẩy con  
ngƣời vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong đời sống tinh thần.  
Nhiều luận điểm của chủ nghĩa hiện sinh cùng với phong trào hiện  
sinh thể hiện sự nổi loạn trong lòng xã hội tƣ bản nhằm lên án nó,  
chống lại nó, kêu gọi con ngƣời phải tự cứu lấy mình. Nhƣng dựa vào  
cái gì để cứu mình và cứu xã hội thì họ chƣa rõ.  
1.1.2. Sự phản ứng lại triết học truyền thống - điều  
kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh  
Việc các nƣớc phƣơng Tây tuyệt đối hoá vai trò của khoa học,  
sùng bái kỹ thuật đã hạ thấp, bỏ rơi con ngƣời hoặc chỉ quan tâm đến  
mặt vật chất mà xem nhẹ mặt tâm hồn, đời sống tình cảm của họ nên  
họ đã phản ứng lại. Triết học duy lý đã từng có vai trò tích cực nhất  
định trong việc làm cho các nƣớc phƣơng Tây đạt đƣợc những thành  
tựu vƣợt bậc trong chinh phục tự nhiên bằng khoa học, công nghệ  
hiện đại. Đồng thời khoa học kỹ thuật cũng bắt con ngƣời phải gánh  
chịu những hậu quả nặng nề về môi trƣờng, xã hội, sinh thái, sức  
khoẻ. Một xã hội phƣơng Tây giàu có về vật chất lại nghèo nàn về  
6
văn hoá, tinh thần; tăng trƣởng nhanh về kinh tế lại suy thoái nhanh  
về văn hóa, đạo đức. Các nhà triết học hiện sinh hoàn toàn có lý khi  
họ kịch liệt phê phán sự tuyệt đối hoá vai trò của lý trí, của khoa học  
khi họ vạch rõ sự thiếu hụt tinh thần nhân đạo trong chính nền tảng  
của văn minh phƣơng Tây. Nhƣng họ đã mắc sai lầm khi chỉ thừa  
nhận vai trò của cảm giác, của xúc cảm cá nhân, tức là ngả sang phía  
chủ quan phi duy lý.  
1.2. MỘT SỐ ĐẠI BIỂU CHÍNH CỦA CNHS  
1.2.1. Soren Kierkegaard  
Soren Kierkegaard (1813 –1855) là triết gia, nhà thần học, nhà  
thơ, nhà phê bình xã hội, và tác gia ngƣời Đan Mạch thế kỷ 19.  
Kierkegaard là nhà triết học phê phán triết học Hegel trong thời đại  
ông. Phần lớn nội dung các tác phẩm của Kierkegaard tập chú vào  
các vấn đề tôn giáo nhƣ bản chất của đức tin, định chế của giáo hội,  
đạo đức và thần học Cơ Đốc, tình cảm và cảm xúc của mỗi cá nhân  
khi đối diện với những chọn lựa trong cuộc sống. Kierkegaard chọn  
lựa phƣơng cách để độc giả tự khám phá thông điệp và ý nghĩa các  
tác phẩm của ông. Do đó, nhiều ngƣời đã tìm cách giải thích  
Kierkegaard nhƣ là ngƣời có khuynh hƣớng hiện sinh, tân chính  
thống, hậu hiện đại, nhân bản, chủ nghĩa cá nhân..v..v… Vƣợt quá  
Kierkegaard đƣợc nhìn nhận là một nhân vật quan trọng có nhiều ảnh  
hƣởng trên ý thức hệ đƣơng đại.  
1.2.2. Friedrich Wilhelm Nietzsche  
Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844 – 1900) là một nhà triết  
học ngƣời Phổ. Ông bắt đầu sự nghiệp nhƣ là một nhà ngữ văn  
học và viết nhiều bài phê bình về tôn giáo, đạo đức, các vấn đề văn  
hóa đƣơng thời, và triết học. Các tác phẩm của Nietzsche nổi bật với  
7
phong cách viết của ông, thƣờng mang tính ẩn dụ (aphorism) và  
nhiều nghịch lý hơn là mức độ thông thƣờng của các bài luận triết  
học. Nietzsche không đƣợc đánh giá cao bởi những ngƣời đƣơng thời  
trong suốt cuộc đời của ông, nhƣng đầu thế kỉ 20, ông đã đƣợc giới  
trí thức ở Đức, Pháp và Anh công nhận. Ông bắt đầu bị mang tiếng  
xấu tiếng khi Đảng Quốc xã của Đức chọn ông là một tiền bối, mặc  
dù Nietzsche có quan điểm chống chủ nghĩa bài Do Thái và chủ  
Kaufmann bắt đầu một cố gắng bền bỉ nhằm khôi phục lại danh tiếng  
của Nietzsche trong các nƣớc nói tiếng Anh, và vào nửa sau của thế  
kỉ 20 Nietzsche đã đƣợc xem là một nhân vật quan trọng có ảnh  
hƣởng lớn trong triết học hiện đại.  
1.2.3. Martin Heiderger  
Martin Heiderger (1889 – 1976), là một triết gia Đức. Ông chịu  
ảnh hƣởng của triết học Brentano, sau khi nghiên cứu, ông quyết  
định tìm hiểu ý nghĩa của khái niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của  
tồn tại ngƣời. Ông từng là học trò và là trợ giảng cho Huxec, sau đó  
đã kế tục Huxec giảng dạy triết học tại đại học tổng hợp Freiburg.  
Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: "Tồn tại và thời gian" đây là  
tác phẩm đã đƣa ông trở nên nổi tiếng đƣợc xuất bản năm 1927;  
" Kant và vấn đề siêu hình học"; "Nhập môn siêu hình học" (1935); "  
Học thuyết Platon về chân lý" (1942); "Bức thƣ về chủ nghĩa nhân  
đạo" (1947); "Những con đƣờng rừng" (1950); Những bài thuyết  
trình và những bài viết (1952); "Tƣ duy là gì" (1954); "Nietzsche"  
(1961);….  
1.2.4. Albert Camus  
Albert Camus là một nhà triết học hiện sinh, nhà báo, nhà văn,  
tác giả và đạo diễn kịch bản, ngƣời đƣợc giải thƣởng Nobel về văn  
8
học năm 1957. A. Camus sinh ngày 7–11-1913 ở Mondavi, Angiêri,  
tốt nghiệp đại học năm 1935 và cao học năm 1936. Tƣ tƣởng hiện  
sinh của Camus chủ yếu đƣợc trình bày thông qua tƣ tƣởng, hành  
động của những nhân vật trong tiểu thuyết hoặc kịch bản. Đặc điểm  
tƣ tƣởng chủ yếu của Camus là chứng minh sự phi lý (absurdity) của  
sự hiện hữu của con ngƣời và kêu gọi sự nổi loạn (revolt) để chống  
lại cái phi lý.  
1.2.5. Jean-Paul Sartre  
Jean-Paul Sartre (1905 – 1980) là nhà triết học hiện sinh, nhà  
soạn kịch, nhà biên kịch, tiểu thuyết gia và là nhà hoạt động chính  
trị ngƣời Pháp. Ông là một trong những nhân vật nòng cốt trong hệ  
thống triết học của chủ nghĩa hiện sinh, và một trong những nhân vật  
có ảnh hƣởng lớn trong nền triết học Pháp thế kỷ 20 và chủ nghĩa  
Marx. Tác phẩm của ông cũng đã ảnh hƣởng đến xã hội học, lý  
còn tiếp tục ảnh hƣởng đến các ngành này. Sartre cũng có mối quan  
hệ với nhà lý thuyết nữ quyền nổi tiếng là Simone de Beauvoir.  
Satre đƣợc trao giải Nobel Văn học vào năm 1964 nhƣng ông từ  
chối, ông nói rằng ông luôn từ chối những danh hiệu chính thức và  
"một nhà văn không nên cho phép mình trở thành ngƣời của một tổ  
chức".  
1.2.6. Simone de Beauvoir  
Simone de Beauvoir (1908 - 1986) là một nhà văn, nhà triết  
học và một nhà đấu tranh cho nữ quyền ngƣời Pháp. Bà viết các tiểu  
thuyết, chuyên đề về triết học, chính trị và các vấn đề xã hội, các bài  
luận, tiểu sự, tự truyện. Hiện nay bà đƣợc biết đến nhiều nhất với các  
tác phẩm tiểu thuyết trừu tƣợng, bao gồm She Came to Stay và The  
Mandarins, tác phẩm viết năm 1949 Le Deuxième Sexe, một tác  
9
phẩm phân tích về sự áp bức phụ nữ và đề tài bình đẳng giới. Bà  
đƣợc trao Giải Jerusalem năm 1975. Năm 1978, bà đƣợc trao Giải  
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1  
trong chƣơng một của luận văn, tác giả đã đi vào phân tích,  
tóm tắt và làm rõ đƣợc những tiền đề, hoàn cảnh lịch sử của châu Âu  
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và sự ra đời của chủ nghĩa Hiện sinh.  
Cũng trong chƣơng này, tác giả đã thống kê, khái quát căn bản cuộc  
đời, sự nghiệp triết học và một số tác phẩm của một số nhà hiện sinh  
tiêu biểu trong chủ nghĩa hiện sinh, từ đó để ta hiểu hơn những quan  
điểm, tƣ tƣởng cũng nhƣ sự ảnh hƣởng của họ đối với một giai đoạn  
lịch sử trong xã hội.  
10  
CHƢƠNG II  
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LÝ LUẬN VỀ TỰ DO  
CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH  
2.1. VỀ KHÁI NIỆM “TỰ DO”  
2.1.1. Các quan điểm khác nhau về tự do trong triết học  
trƣớc Mác  
Toàn bộ kinh nghiệm lịch sử chỉ rõ rằng, tự do là giá trị thiêng  
liêng và là đặc tính bản chất của con ngƣời, là cơ sở bản thể luận  
của đời sống. Phạm trù “Tự do” dùng để chỉ nhu cầu và khả năng  
của con ngƣời trong những hoạt động phù hợp với những lợi ích và  
mục tiêu của mình, không cần sự can thiệp hay cản trở từ bên ngoài.  
Đó mới chỉ là định nghĩa tƣơng đối và đơn giản về tự do. Trên thực  
tế, tự do là một phạm trù mở, hiểu và thể hiện tự do trong đời sống  
là một quá trình mâu thuẫn và có tính hai mặt. Vì thế trong lịch sử  
nhân loại đã có nhiều nhà triết học bàn về vấn đề này, từ Arixtốt,  
Êpiquya đến C.Mác, từ phái Khắc kỷ đến chủ nghĩa Hiện sinh.  
Tất cả các nhà triết học đều thống nhất với nhau ở một điểm  
cơ bản: tự do cá nhân là sự lựa chọn trong ý thức, tư tưởng của cá  
nhân về điều mình sẽ nói, sẽ làm, cách thức mình sẽ thực hiện cuộc  
sống cá nhân và gia đình. Tuy nhiên, điểm khác nhau là cái gì quy  
định sự lựa chọn đó của cá nhân. Các nhà triết học thƣờng đƣa ra  
một số quan điểm trái ngƣợc nhau.  
Quan điểm duy tâm do không thấy đƣợc mối quan hệ giữa  
đời sống tinh thần với đời sống vật chất nên thƣờng tuyệt đối hóa tự  
do về mặt tinh thần., tách rời những điều kiện xã hội mà cá nhân  
đang sống, và khả năng vật chất và tinh thần của cá nhân để có đƣợc  
một cuộc sống tự do.  
11  
Một số nhà triết học nhƣ Spinoza, Hêghen đƣa ra quan niệm  
về tự do trong việc gắn liền với việc nhận thức đƣợc cái tất yếu.  
2.1.2. Tự do theo quan điểm triết học Mác  
Triết học Mác kế thừa một số yếu tố hợp lý trong quan niệm về  
tự do trong lịch sử và đƣa ra một số luận điểm cơ bản về tự do nhƣ  
sau:  
+ Tự do là sự lựa chọn của cá nhân trên cơ sở nắm đƣợc cái tất  
yếu (quy luật)  
+ Tự do là hành động của con ngƣời trên cơ sở nắm đƣợc và  
vận dụng đƣợc quy luật của tự nhiên, xã hội, làm chủ đƣợc tự nhiên  
và xã hội.  
+ Tự do là một phạm trù xã hội  
Tự do chỉ đƣợc bàn đến trong xã hội, trong hệ thống các quan  
hệ giữa ngƣời với ngƣời. Chẳng hạn, nếu ở phƣơng Tây, ngƣời ta  
thiên về nhấn mạnh tự do cá nhân thì ở phƣơng Đông, quyền và tự  
do tập thể (nhóm, chủng tộc, dân tộc…) là cái thƣờng đƣợc quan tâm.  
Một hoạt động đƣợc chỗ này đánh giá là tự do, chỗ khác lại xem là mất  
tự do, bởi lẽ tự do hay không tự do là một vấn đề nhận thức. Do xã hội là  
một phức hợp của những con ngƣời, những cá nhân sống với những đặc  
tính không hòa lẫn, phong phú và phức tạp, gia nhập vào những quan hệ  
nhất định, nên nhận thức về tự do khó có thể đạt tới sự nhất trí hoàn hảo.  
+ Tự do là một phạm trù lịch sử  
Việc nhận thức và lý giải nó gắn liền với các thời kỳ lịch sử  
khác nhau.  
Ở Hy Lạp, La Mã cổ đại chƣa hình thành lý luận riêng về tự  
do, mà chỉ có những cuộc đấu tranh vì tự do, vì sự tự ý thức của  
ngƣời nô lệ nhƣ Hêgen đã mô tả trong Hiện tượng học tinh thần.  
12  
Trong thời kì chiếm hữu nô lệ, tự do đƣợc giải thích theo  
quan điểm thần trí học (Theosophy), nhận thức và hành động tự do  
gắn liền với nhận thức về sự sáng tạo bởi chúa Trời. Đại diện tiêu  
biểu cho triết học Kitô giáo là Ôâguýtxtanh ở thời kỳ Giáo phụ và  
Tômát Đacanh trong triết học kinh viện.  
Phục hƣng là sự kết thúc đầy ý nghĩa lịch sử trung đại và cũng  
là sự chấm dứt cách hiểu theo lối Kitô giáo về tự do, chỉ còn giữ lại  
tính hình thức của nó, nghĩa là xem tự do nhƣ món quà kỳ diệu mà  
Chúa ban cho con ngƣời. Song, con ngƣời tự do trƣớc hết là tự do  
trong sự lựa chọn phƣơng thức sống và tín ngƣỡng. Thời đại Phục  
hƣng là thời đại chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tƣ  
bản, tính chuyển tiếp này trong tƣ duy đƣợc thể hiện ra ở cuộc đấu  
tranh chống thần quyền và những tín điều bảo thủ, thuyết Thần là  
trung tâm đƣợc thay bằng thuyết Con ngƣời là trung tâm, chủ nghĩa  
thầy tu khổ hạnh đƣợc thay bằng chủ nghĩa hạnh phúc, thuyết định  
mệnh đƣợc thay bằng thuyết tự do cá nhân. Và, chủ nghĩa nhân văn  
đã mở đƣờng cho cuộc đấu tranh thật sự chống lại cả thần quyền lẫn  
thế quyền trong thời Cận đại.  
Quan niệm cận - hiện đại về tự do luôn gắn kết với sự hình  
thành và khẳng định tƣ tƣởng về con ngƣời cá nhân, về xã hội công  
dân và nhà nƣớc pháp quyền. Quá trình chuyển từ thời đại phong  
kiến Trung cổ sang Cận đại là quá trình đánh giá lại vị trí và vai trò  
của con ngƣời trong xã hội, đề cao tự do nhƣ phẩm giá cao nhất,  
nhƣ bản tính cố hữu, cái phú bẩm nơi con ngƣời. Ngƣời ta gọi đó là  
sự hình thành một hệ biến thái mới về thế giới quan.  
2.2. QUAN ĐIỂM VỀ TỰ DO TRONG TRIẾT HỌC  
HIỆN SINH  
13  
2.2.1. Một số tiền đề xuất phát cho lý luận về tự do của  
chủ nghĩa hiện sinh  
Quan điểm chủ nghĩa hiện đại về tự do là tự do tuyệt đối và  
hoàn toàn chủ quan. Điều xuất phát từ một số luận điểm cơ bản sau  
đây chủ nghĩa hiện sinh:  
+ Tồn tại là phi lý  
Chủ nghĩa phi lý (absurdism, đối lập với rationalism - chủ  
nghĩa duy lý) là một đặc trƣng của chủ nghĩa hiện sinh. Các nhà  
hiện sinh coi mọi tồn tại đều là phi lý. Cái phi lý là cái không có  
bản chất, không có tính tất yếu, không có quy luật, không có nguyên  
nhân, mục đích, nói chung là không thể giải thích bằng lý trí. Ngay  
sự hiện diện của con ngƣời đã là điều phi lý. Mỗi ngƣời chúng ta chỉ  
đơn giản bị ném vào thế giới trong lúc này, chỗ này.  
Nhƣ vậy theo chủ nghĩa hiện sinh, tự do cũng là một hiện  
tƣợng phi lý. Đây là một điểm xuất phát của lý luận về tự do của  
chủ nghĩa hiện sinh.  
+ Hiện sinh có trước bản chất  
Theo các nhà hiện sinh chủ nghĩa, con ngƣời không có một  
bản chất vốn có nào cả; không có bản chất của con người nói chung.  
Mỗi cá nhân trở thành cái gì là do ý thức của nó, do sự hiện sinh của  
nó, nghĩa là mỗi cá nhân hiện sinh tự tạo ra cho mình một bản chất  
riêng. Đây cũng là một luận điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh có  
vai trò quyết định đối với quan niệm về tự do cá nhân.  
+ Chân lý là chủ quan  
Trong “Chủ nghĩa hiện sinh và những cảm xúc của người”,  
Sartre nói: chủ nghĩa hiện sinh là một học thuyết “tuyên bố rằng mọi  
chân lý và mọi hành động đòi hỏi phải có một sự sắp đặt của con  
ngƣời và một tính chủ quan của con ngƣời” [28, tr 85]. Chủ quan có  
14  
nghĩa là con ngƣời tự tạo ra chính mình, những giá trị cho mình,  
không phản ánh một cái gì khách quan cả.  
Đây cũng là một tiền đề quan trọng cho lý luận về tự do của  
chủ nghĩa hiện sinh.  
2.2.2. Một số quan điểm cơ bản trong lý luận về tự do của  
chủ nghĩa hiện sinh  
+ Tự do là sự lựa chọn của cá nhân trong cảm xúc và hành  
động của mình một cách hoàn toàn chủ quan  
Tự do theo chủ nghĩa hiện sinh là sự lựa chọn một cách hoàn  
toàn chủ quan, không do bất kỳ sự quy định nào bên ngoài, không có  
bất kỳ tính tất yếu nào, không bị ràng bị bởi bất kỳ cái gì có sẵn, kể  
cả phong tục, tập quán, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, luật pháp,  
tôn giáo, v.v..  
+ Tự do theo chủ nghĩa hiện sinh là hoàn toàn tuyệt đối  
Theo chủ nghĩa hiện sinh, đặc biệt là chủ nghĩa hiện sinh vô  
thần, không có Thƣợng đế nên không có ai quy định bản tính của con  
ngƣời, tiêu chuẩn của hành vi và đạo đức của con ngƣời, vì thế, con  
ngƣời có tự do hoàn toàn trong tất cả mọi hoàn cảnh.  
+ Tự do không cần tính đến hiệu quả thực tiễn  
Tự do là sự lựa chọn thuần túy trong ý thức, không cần đếm  
xỉa đến hiệu quả thực tế của sự lựa chọn đó. Trong “Tồn tại và Hƣ  
vô”, Sartre nói: “Tự do không có nghĩa là „đạt đƣợc một cái gì đó mà  
ngƣời ta mong muốn‟ mà là „tự mình quyết định cái mà mình mong  
muốn‟. Nói cách khác, thành công không quan trọng đối với tự do”.  
[41, tr 631]. Tự do theo kiểu của Sartre không đem lại một hiệu quả  
thực tế nào cả, đó là thứ “tự do không để làm gì cả”!.  
+ Tự do gắn liền với tình trạng lo âu, trăn trở, đau khổ  
15  
Các nhà hiện sinh vô thần cho rằng vì Thƣợng đế không tồn  
tại nên con ngƣời bọi bỏ rơi, sống trong tình trạng cô độc. Sự trăn  
trở, sự đau khổ là trạng thái không thoả mái, lo lắng, đau khổ của  
con ngƣời hiện sinh khi đƣợc hoàn toàn tự do. Các nhà hiện sinh có  
một cái nhìn đen tối, bi quan về cuộc sống, họ phủ nhận tƣ tƣởng về  
hạnh phúc, chủ nghĩa lạc quan của các nhà khai sáng. Họ khai thác  
triệt để khía cạnh bi kịch, đau khổ, tuyệt vọng trong sự hiện hữu của  
con ngƣời.  
+ Tự do của cá nhân đối lập với quy định, ràng buộc của xã  
hội xã hội và với tự do cá nhân khác  
Tự do của cá nhân không bị gò bó bởi ngƣời khác hay bất kỳ lƣc  
lƣợng xã hội nào. Nhƣ vậy, quan điểm tự do của chủ nghĩa hiện sinh là  
quan điểm tự do cá nhân cực đoan. Sartre có câu nói nổi tiếng: “Địa  
ngục là những ngƣời khác”.  
+ Tự do gắn liền với trách nhiệm và sự tham gia của cá  
nhân đối với xã hội.  
J.P. Sartre gắn liền tự do với trách nhiệm cá nhân. Ngƣời hiện  
sinh hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của mình.  
Sự tự do không bị quy định bởi bất kỳ cái gì khác ngoài trách nhiệm  
cá nhân. Tại sao tự do gắn liền với trách nhiệm?  
J.P. Sartre nói “Con ngƣời bị kết án phải tự do mang trên vai  
mình gánh nặng toàn thế giới; anh ta chịu trách nhiệm đối với thế  
giới và đối với bản thân mình nhƣ là một phƣơng cách tồn tại.” [49,  
tr 553]  
TIỂU KẾT CHƢƠNG II  
Toàn bộ kinh nghiệm lịch sử chỉ rõ rằng, tự do là giá trị thiêng  
liêng và là đặc tính bản chất của con ngƣời, là cơ sở bản thể luận của  
đời sống. Trong chƣơng 2 của luận văn, tác giả đã tổng hợp, trình bày  
16  
các quan niệm khác nhau về tự do trongg lịch sử triết học: các quan  
niệm về tự do trong lịch sử triết học trƣớc Mác, quan điểm về tự do  
trong triết học Mác; đồng thời, tác giả đi sâu vào tổng hợp, phân tích  
quan điểm về tự do trong triết học hiện sinh.  
CHƢƠNG III  
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG QUAN ĐIỂM  
VỀ TỰ DO CỦA TRIẾT HỌC HIỆN SINH  
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời và phát triển trong điều kiện tổng  
khủng hoảng của chủ nghĩa tƣ bản. Bên cạnh những đóng góp không  
thể phủ nhận đƣợc, chủ nghĩa hiện sinh không tránh khỏi những hạn  
chế, sai lầm, nhất là trong quan điểm về tự do của nó, đã có ảnh  
hƣởng không nhỏ đến tƣ tƣởng và lối sống của thanh niên trong đó  
có một bộ phận thanh niên ở các thành thị miền Nam trƣớc ngày giải  
phóng. Ngoài ra, tƣ tƣởng về tự do của chủ nghĩa hiện sinh tuy  
không còn ảnh hƣởng trực tiếp đến thế hệ trẻ ở nƣớc ta hiện nay,  
nhƣng do điều kiện kinh tế thị trƣờng, tƣ tƣởng và lối sống tự do chủ  
nghĩa vẫn đang nảy sinh một cách tự phát và chi phối một bộ phận thanh  
thiếu niên ở nƣớc ta. Do vậy, nghiên cứu vạch ra những đóng góp để kế  
thừa và những hạn chế để khắc phục vẫn còn là việc làm cần thiết hiện  
nay.  
3.1. NHỮNG GIÁ TRỊ TRONG QUAN ĐIỂM VỀ TỰ DO  
CỦA TRIẾT HỌC HIỆN SINH  
- Một là, chủ nghĩa hiện sinh vạch ra những hạn chế và  
khuyết tật trong chế độ tư bản và ảnh hưởng của chúng đến cuộc  
sống tự do của con người. Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện từ cuối  
thế kỷ XIX và thịnh hành ở phƣơng Tây trong thế kỷ XX trong điều  
17  
kiện tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tƣ bản, một xã hội giàu có về  
vật chất lại nghèo nàn về văn hoá, tinh thần; tăng trƣởng nhanh về  
kinh tế cũng đồng thời suy thoái nhanh về văn hóa, đạo đức. Khi con  
ngƣời đã trở nên bần cùng và kiệt quệ trong bộ máy kỹ trị khổng lồ  
của xã hội hiện đại, thì sự suy sụp của những cá nhân là điều không  
thể tránh khỏi. Thân phận con ngƣời trong chính xã hội mà con  
ngƣời tạo ra ấy, đã thực sự nuốt chửng con ngƣời. Với những gì  
giành đƣợc, không phải giá trị của loài ngƣời mà lại phải trả giá  
bằng sự băng hoại, suy đồi của đạo đức.  
Các nhà triết học hiện sinh hoàn toàn có lý khi họ kịch liệt  
phê phán sự tuyệt đối hoá vai trò của lý trí, của khoa học khi họ  
vạch rõ sự thiếu hụt tinh thần nhân đạo trong chính nền tảng của văn  
minh phƣơng Tây. Thêm vào đó, phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ  
nghĩa chạy theo lợi nhuận tối đa cùng với những cuộc chiến tranh  
thế giới liên miên đã đẩy con ngƣời vào tình trạng tha hoá cùng cực,  
làm cho họ mất niềm tin vào cuộc sống, đồng thời lấy đi của họ cái  
vị trí làm ngƣời đích thực. Trong hoàn cảnh ấy, triết học hiện sinh  
đề cao tự do tính (tự do là do chính mình). Chính tự do tính giúp ta  
tự tác thành lấy nhân vị của mình và hoàn thành nó mỗi ngày mỗi  
thêm phong phú và giá trị.  
Do vậy, kế thừa quan điểm này của chủ nghĩa hiện sinh,  
chúng ta thấy để xây dựng xã hội mới nhằm phát triển sự tự do chân  
chính của con người. Chúng ta cần phải so sánh được những hạn  
chế và khuyết tật trong xã hội phương Tây lúc đó, tìm ra những điểm  
giống và khác biệt trong xã hội Việt Nam hiện nay, và từ đó đề ra  
biện pháp thiết thực để khắc phục những hạn chế và khuyết tật đó để  
phát triển con người mới.  
Hai là, chủ nghĩa hiện sinh đi sâu vạch ra những hiện  
18  
tượng đa dạng của tình trạng tha hóa của con người trong chế độ  
tư bản.  
Nếu triết học Mác nghiên cứu sự tha hóa của lao động trong  
phƣơng thức sản xuất tƣ bản, thì chủ nghĩa hiện sinh vạch ra những  
biểu hiện đa dạng của tình trạng tha hóa này trong nhiều phƣơng diện  
khác của cuộc sống cá nhân. Đây là một đóng góp có tác dụng chỉ ra  
những hạn chế của cơ chế xã hội đối với sự phát triển tự do của cá  
nhân. Để phát triển tự do của con ngƣời thì cần phải khắc phục  
đƣợc tình trạng tha hóa này.  
- Ba là, chủ nghĩa hiện sinh đề cao vai trò của tự do lựa  
chọn trong việc hình thành nhân cách của cá nhân.  
Mỗi cá nhân tự do lựa chọn và quyết định cho mình cần phải  
sống và hành động nhƣ thế nào. “Chúng ta còn biết tự ta quyết định  
chứ chúng ta không hề lệ thuộc định luật thiên nhiên một cách máy  
móc, nghĩa là ta tự do hơn sinh vật. Nhƣng tự do đó không tự ta mà  
có, vì khi tự do, ta cảm thấy ta là một tặng vật cho chính ta…Nhƣng  
chúng ta tự do quyết định, và do quyết định ấy tất cả cuộc đời ta tràn  
trề ý nghĩa, rồi ta mới sống cuộc sống ấy hoàn toàn. Khi ấy ta mới ý  
thức rằng: hữu của ta không phải do ở ta mà thôi” [29; tr 125]. Có nhƣ  
vậy xã hội mới phát huy đƣợc vai trò sáng tạo của mọi cá nhân. Đây  
là một đóng góp rất lớn trong tƣ tƣởng về tự do mà chủ nghĩa hiện  
sinh đã đƣa ra.  
- Bốn là, một số nhà triết học hiện sinh như Jean Paul  
Sartre, Simone de Beauvoir đã gắn tự do với trách nhiệm và sự  
tham gia (dấn thân) của cá nhân vào các hoạt động xã hội.  
Khi gắn tự do với trách nhiệm và sự tham gia của cá nhân vào  
các hoạt động xã hội, các nhà hiện sinh đã ít nhiều gắn tự do của cá nhân  
trong mối quan hệ với cộng đồng, với xã hội. Nhƣ vậy, bên cạnh việc  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 28 trang yennguyen 12600 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Quan điểm tự do trong Triết học hiện sinh: Giá trị và hạn chế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_quan_diem_tu_do_trong_triet_hoc_hien_sinh_g.pdf