Tóm tắt Luận án Nghiên cứu quá trình nhiệt phân biomass sản xuất nhiên liệu sinh học

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
PHẠM DUY VŨ  
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH NHIỆT PHÂN BIOMASS  
SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU SINH HỌC  
Chuyên ngành: Kỹ thuật nhiệt  
Mã ngành: 62.52.01.15  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT  
Đà Nẵng, năm 2018  
Công trình được hoàn thành tại Đại học Đà Nẵng.  
Người hướng dẫn khoa học:  
1. PGS.TS. Hoàng Dương Hùng  
2. PGS.TS. Trần Văn Vang  
Phản biện 1: PGS.TS. Hà Mạnh Thư  
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Bốn  
Phản biện 3: PGS.TS. Trần Gia Mỹ  
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận án Tiến sĩ kỹ  
thuật cấp Đại học Đà Nẵng họp vào 14h ngày 2 tháng 2 năm 2018  
tại Đại học Đà Nẵng.  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Trước thực trạng trữ lượng nguồn năng lượng truyền thống ngày  
cảng giảm, ngày nay con người tập trung nghiên cứu, khai thác, ứng  
dụng các nguồn năng lượng mới. Các nguồn năng lượng này được coi  
là năng lượng sạch, có thể tái tạo được và chúng không gây ô nhiễm  
môi trường. Trong các nguồn năng lượng này, nguồn năng lượng sinh  
khối (biomass) đóng vai trò quan trọng để sản xuất nhiên liệu sinh học  
dần thay thế cho các nhiên liệu truyền thống.  
Việt Nam là nước đang phát triển chủ yếu dựa vào nền nông lâm  
nghiệp, nên tiềm năng về năng lượng từ sinh khối rất đa dạng và có  
trữ lượng khá lớn. Vì vậy, ở Việt Nam việc nghiên cứu sử dụng nguồn  
năng lượng từ sinh khối dần thay thế cho nguồn năng lượng hóa thạch  
đang được các cơ quan Nhà nước và các nhà khoa học quan tâm.  
Nguồn năng lượng từ sinh khối được sử dụng chủ yếu từ quá trình  
đốt cháy, khí hóa và nhiệt phân. Trong đó, quá trình đốt cháy có hiệu  
suất cao nhất, quá trình khí hóa làm việc trong điều kiện nhiệt độ cao.  
Nhược điểm của hai quá trình này là năng lượng sinh ra được sử dụng  
tại chỗ, không thể tồn trữ và vận chuyển. Trong khi đó, quá trình nhiệt  
phân làm việc ở nhiệt độ thấp hơn, sản phẩm mong muốn của quá trình  
nhiệt phân nhanh là lỏng được gọi là dầu sinh học (bio-oil) rất thuận  
tiện cho vấn đề bảo quản và vận chuyển, được sử dụng nhiều trong  
ngành giao thông vận tải, cung cấp nhiệt, sản xuất điện.  
Hiện nay, dầu sinh học đang được nghiên cứu nâng cấp để trở  
thành nguồn nhiên liệu cho quá trình đốt cháy và dần thay thế một  
phần nhiên liệu truyền thống trong nhu cầu phát điện [13]. Vì vậy, việc  
nghiên cứu quá trình nhiệt phân nhanh sinh khối thu hồi dầu sinh học  
sẽ góp phần định hướng việc sử dụng năng lượng từ sinh khối.  
Với những phân tích trên, việc nghiên cứu góp phần hoàn thiện  
cơ sở lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm nhiệt phân nhanh  
2
sinh khối ở Việt Nam sản xuất nhiên liệu sinh học là nhu cầu cấp thiết.  
Do vậy “Nghiên cứu quá trình nhiệt phân biomass sản xuất nhiên liệu  
sinh học” là đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở  
lý thuyết quá trình nhiệt phân nhanh, đồng thời nghiên cứu thực nghiệm  
nhiệt phân nhanh một số loại sinh khối phổ biến ở Việt Nam, bao gồm:  
- Xây dựng được cơ sở lý thuyết để xác định kích cỡ hạt sinh khối  
phù hợp cho quá trình nhiệt phân nhanh;  
- Đánh giá được các yếu tố vận hành ảnh hưởng đến hiệu quả thu  
hồi dầu sinh học cũng như phân tích tính chất vật lý của dầu sinh học;  
- Xây dựng được phương pháp xác định thông số động học cho  
quá trình nhiệt phân nhanh.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Sinh khối nghiên cứu là bột gỗ và bã mía có tại địa phương;  
- Nhiệt phân nhanh sinh khối trong lò tầng sôi.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Hoàn thiện cơ sở lý thuyết về nhiệt phân nhanh và nghiên cứu  
thực nghiệm trên hệ thống thiết bị nhiệt phân nhanh bột gỗ và bã mía  
trong lò tầng sôi sản xuất nhiên liệu sinh học với năng suất 500 g/h.  
4. Nội dung nghiên cứu  
ü Nghiên cứu tổng quan về nhiệt phân sinh khối;  
ü Xây dựng mô hình toán quá trình nhiệt phân nhanh sinh khối;  
ü Xây dựng mô hình thí nghiệm nhiệt phân nhanh sinh khối  
trong lò tầng sôi sản xuất nhiên liệu sinh học;  
ü Nghiên cứu thực nghiệm nhiệt phân nhanh sinh khối sản xuất  
dầu sinh học trong lò tầng sôi;  
ü Nghiên cứu phương pháp xác định thông số động học quá  
trình nhiệt phân nhanh. Qua đó xác định được thông số động học quá  
trình nhiệt phân nhanh bột gỗ và bã mía trong lò tầng sôi.  
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHIỆT PHÂN NHANH  
SINH KHỐI SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU SINH HỌC  
1.1. Sinh khối và tình hình sử dụng năng lượng sinh khối  
1.1.1. Giới thiệu về sinh khối  
Sinh khối được sử dụng sản xuất dầu sinh học là sinh khối thực  
vật, bao gồm: gỗ, cỏ và các loại cây trồng nông nghiệp, được xác định  
như là một nguồn năng lượng tái tạo. Thành phần hóa học chính của  
sinh khối bao gồm cellulose, hemicellulose và lignin. Các thành phần  
nguyên tố chủ yếu của sinh khối là hydro, carbon, oxy; trong khi đó  
các nguyên tố lưu huỳnh và nitơ có thể có mặt với số lượng rất ít.  
1.1.2. Tổng quan tình hình sử dụng năng lượng sinh khối  
1.1.2.1. Tình hình sử dụng năng lượng sinh khối trên thế giới  
Trích ly  
Nhiệt  
phân  
Chất  
r
ắ
n  
Hóa học  
Diesel  
Nâng cấp  
Tuốc bin  
Tổng hợp  
Động cơ  
Lò hơi  
Hóa  
lỏng  
Dầu  
sinh học  
Sinh  
kh
ố
i  
Methanol  
Hóa  
khí  
Chất  
khí  
Điện năng  
Nhiệt  
năng  
Đốt  
cháy  
Amoniac  
Hình 1.1: Các ứng dụng năng lượng từ sinh khối [15]  
Việc sử dụng nguồn nhiên liệu sinh khối phục vụ đời sống, giao  
thông, công nghiệp và sản xuất điện năng được tóm tắt trên hình 1.1.  
Với các ứng dụng đa dạng của dầu sinh học, ngày nay các nhà  
khoa học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu để hoàn thiện cơ sở  
lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm quá trình nhiệt phân sinh khối  
nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dầu sinh học thu hồi.  
1.1.2.2. Tình hình sử dụng năng lượng sinh khối ở Việt Nam  
4
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới gió mùa nên tiềm năng sinh khối  
thực vật được đánh giá đa dạng và phong phú. Nguồn sinh khối chủ  
yếu từ các loại gỗ và phụ phẩm cây trồng (bã mía, trấu, rơm rạ …).  
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam việc sử dụng nguồn năng lượng  
từ sinh khối còn qui mô nhỏ lẻ, chủ yếu sử dụng sinh khối làm chất  
đốt, làm nhiên liệu đốt trong lò hơi và sản xuất điện cục bộ. Trong khi  
đó, việc tạo ra nguồn dầu sinh học từ sinh khối chỉ mới dừng lại việc  
nghiên cứu ban đầu và chưa làm chủ được công nghệ này.  
1.1.3. Các phương pháp sản xuất dầu sinh học từ sinh khối  
Nhiên liệu sinh học sản xuất từ sinh khối được thực hiện bằng 3  
phương pháp: thủy phân sinh học, khí hóa và nhiệt phân. Trong 3  
phương pháp này chỉ có phương pháp nhiệt phân cho sản phẩm là dầu  
sinh học với hiệu quả cao nhất [36], [37].  
1.2. Tổng quan về nhiệt phân sinh khối  
1.2.1. Khái niệm  
Nhiệt phân sinh khối là quá trình phân hủy sinh khối dưới tác  
động nhiệt trong môi trường không có ôxy. Sản phẩm của quá trình  
nhiệt phân là khí không ngưng, rắn và dầu sinh học.  
1.2.2. Phân loại quá trình nhiệt phân  
Tùy thuộc vào tốc độ gia nhiệt mà quá trình nhiệt phân được phân  
thành các loại: nhiệt phân chậm, nhiệt phân trung bình và nhiệt phân  
nhanh. Trong đó, quá trình nhiệt phân nhanh cho sản phẩm là dầu sinh  
học có hiệu quả thu hồi cao nhất [1].  
1.3. Công nghệ nhiệt phân nhanh sinh khối sản xuất dầu sinh học  
Nhiệt phân nhanh sinh khối được phát triển hơn 25 năm qua, đến  
nay đã có nhiều kiểu lò khác nhau được nghiên cứu thí nghiệm và  
thương mại như: côn quay, trục vít, ma sát, tầng sôi, tầng sôi tuần hoàn.  
Qua phân tích các ưu nhược điểm của các kiểu lò, tác giả lựa chọn  
kiểu lò tầng sôi để nhiệt phân nhanh sinh khối sản xuất dầu sinh học.  
1.4. Các yếu tố vận hành ảnh hưởng quá trình nhiệt phân nhanh  
1.4.1. Ảnh hưởng của thành phần hóa học trong sinh khối  
5
Thành phần hóa học chính của sinh khối bao gồm: hemicellulose,  
cellulose và lignin. Tính chất của mỗi loại sinh khối phụ thuộc chủ yếu  
vào tỉ lệ khối lượng của 3 thành phần này. Do đó, tỉ lệ của các thành  
phần hóa học này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thu hồi dầu sinh  
học và chất lượng các sản phẩm của quá trình nhiệt phân nhanh.  
1.4.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hiệu quả thu hồi dầu sinh học  
Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ phản  
ứng đến hiệu quả thu hồi sản phẩm từ quá trình nhiệt phân nhanh [79],  
[80], [99]. Các nghiên cứu đều cho thấy rằng khoảng nhiệt độ phản  
ứng phù hợp cho quá trình nhiệt phân nhanh từ 450 đến 525 °C. Nếu  
tăng nhiệt độ phản ứng lên quá cao thì sẽ xuất hiện các phản ứng thứ  
cấp làm phân hủy các hợp chất hữu cơ ở thể khí, dẫn đến sự giảm hàm  
lượng dầu sinh học.  
1.4.3. Ảnh hưởng của thời gian lưu sản phẩm phản ứng và lưu  
lượng khí cấp nhiệt  
Đối với quá trình nhiệt phân nhanh trong lò tầng sôi, thời gian  
lưu sản phẩm phản ứng trong lò đóng vai trò rất quan trọng trong việc  
nâng cao khối lượng cũng như chất lượng của dầu sinh học thu hồi.  
Các nghiên cứu thực nghiệm và mô phỏng đều chỉ ra rằng để hiệu quả  
thu hồi dầu cao nhất thì thời gian lưu sản phẩm phản ứng trong lò nhiệt  
phân nhanh không được quá 2s [9], [14]. Trong thực tế, chiều cao lò  
phản ứng không thay đổi nên việc điều khiển thời gian lưu sản phẩm  
phản ứng bằng cách điều chỉnh lưu lượng khí cấp vào lò. Vì vậy hàm  
lượng dầu sinh học thu hồi phụ thuộc vào lưu lượng (vận tốc) khí nitơ.  
1.4.4. Ảnh hưởng của kích cỡ hạt sinh khối  
Trong quá trình nhiệt phân nhanh, tốc độ truyền nhiệt giữa lớp  
sôi với sinh khối ảnh hưởng lớn đến sự phân hủy các phân tử để tạo  
thành dầu sinh học. Một trong những yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp  
đến tốc độ truyền nhiệt là kích cỡ hạt sinh khối. Tuy nhiên, đến nay  
việc xác định kích cỡ phù hợp cho quá trình nhiệt phân nhanh của từng  
loại sinh khối chủ yếu được nghiên cứu bằng thực nghiệm, chưa có cơ  
6
sở lý thuyết để thực hiện công việc này [9], [44], [79].  
Ngoài ra, độ ẩm trong sinh khối và áp suất trong buồng phản ứng cũng  
ảnh hưởng đến chất lượng và khối lượng dầu sinh học. Độ ẩm thích  
hợp cho quá trình nhiệt phân nhanh là < 12% [57]. Áp suất trong buồng  
phản ứng càng thấp thì hiệu quả thu hồi dầu sinh học càng cao [60].  
1.5. Thông số động học quá trình nhiệt phân nhanh  
Khi nghiên cứu động học quá trình nhiệt phân nhanh, mô hình hai  
giai đoạn trên hình 1.15 được sử dụng khá phổ biến [51], [54].  
k1  
Khí không ngưng tụ  
Khí ngưng tụ thành dầu  
C
ố
c  
Khí không ngưng  
tụ  
k4  
k5  
k2  
k3  
Sinh khối  
Cốc  
Hình 1.15: Mô hình phản ứng hai giai đoạn nhiệt phân sinh khối  
Từ mô hình phản ứng trên hình 1.15 cho thấy các sản phẩm thu  
được phụ thuộc vào hằng số tốc độ phản ứng ki. Hằng số ki được tuân  
theo định luật Arrhenius: ki = Aiexp(-Ea,i/RT) [51]. Trong đó, các thông  
số năng lượng hoạt hóa Ea,i và hằng số trước hàm số mũ Ai của quá  
trình nhiệt phân nhanh thường được sử dụng từ kết quả nghiên cứu  
thông số động học từ quá trình nhiệt phân chậm [19], [25], [81].  
Các thông số động học đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình  
điều khiển thành phần sản phẩm của quá trình nhiệt phân nhanh. Tuy  
nhiên, đến nay các thông số động học tương ứng cho mỗi loại sinh khối  
thực hiện trong mỗi công nghệ nhiệt phân nhanh chưa được xác định  
đầy đủ. Do đó, dẫn đến kết quả xác định các sản phẩm từ quá trình nhiệt  
phân nhanh giữa tính toán mô phỏng và thực nghiệm còn nhiều sai khác.  
1.6. Kết luận chương 1  
Từ các kết quả nghiên cứu tổng quan về nhiệt phân nhanh sản  
xuất dầu sinh học cho phép rút ra các kết luận như sau:  
1. Sản xuất dầu sinh học từ sinh khối bằng công nghệ nhiệt phân  
nhanh nhằm thay thế dần nhiên liệu truyền thống là hướng nghiên cứu  
khả thi, được nhiều nhà khoa học trong nước và thế giới quan tâm.  
7
2. Sử dụng công nghệ nhiệt phân nhanh trong lò tầng sôi để  
nghiên cứu sản xuất dầu sinh học từ sinh khối là phương pháp đạt hiệu  
quả cao. Tuy nhiên, đến nay cơ sở lý thuyết nghiên cứu quá trình nhiệt  
phân nhanh chưa được hoàn thiện, cụ thể là:  
- Việc xác định thời gian và kích cỡ hạt sinh khối cho quá trình  
nhiệt phân nhanh chủ yếu từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, chưa có  
cơ sở lý thuyết để tính toán vấn đề này. Đồng thời cũng chưa có cơ sở  
lý thuyết để nghiên cứu ảnh hưởng hệ số trao đổi nhiệt phức hợp trong  
lò tầng sôi đến thời gian phản ứng.  
- Đến nay, các thông số động học của quá trình nhiệt phân nhanh  
trong lò tầng sôi chưa được xác định cụ thể cho từng loại sinh khối.  
- Nghiên cứu thực nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc  
nghiên cứu sản xuất dầu sinh học từ sinh khối phổ biến ở Việt Nam.  
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam thiết bị nghiên cứu thực nghiệm còn  
mới mẻ, chưa có cơ sở nào thực hiện việc tính toán thiết kế và chế tạo.  
Do vậy, định hướng nghiên cứu của luận án là:  
1. Xây dựng cơ sở lý thuyết tính toán nhằm xác định kích cỡ hạt  
sinh khối phù hợp cho quá trình nhiệt phân nhanh và nghiên cứu ảnh  
hưởng hệ số trao đổi nhiệt trong lò tầng sôi tới thời gian phản ứng.  
2. Xây dựng phương pháp xác định thông số động học cho quá  
trình nhiệt phân nhanh, từ đó áp dụng cho một số sinh khối phổ biến  
ở Việt Nam khi nhiệt phân nhanh trong lò tầng sôi.  
3. Xây dựng mô hình thực nghiệm nhằm tính toán thiết kế các  
thiết bị trong hệ thống nhiệt phân nhanh lò tầng sôi, qua đó chế tạo hệ  
thống có năng suất 500 g/h. Trên cơ sở thiết bị này, thực hiện các  
nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định các thông số vận hành thích  
hợp để nâng cao hiệu quả thu hồi dầu sinh học tương ứng với mỗi loại  
sinh khối ở Việt Nam. Đồng thời, từ nguồn dầu sinh học thu hồi được  
từ các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả phân tích đánh giá các đặc tính  
của nó. Kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở cho việc định hướng nghiên  
cứu nâng cấp dầu sinh học để dần thay thế nhiên liệu truyền thống.  
8
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH  
TOÁN CHO QUÁ TRÌNH NHIỆT PHÂN NHANH  
BỘT GỖ VÀ BÃ MÍA  
Tác giả sử dụng phương pháp giải tích để giải phương trình vi  
phân dẫn nhiệt của hạt sinh khối nằm trong môi trường khí nitơ nóng  
nhằm xác định trường nhiệt độ bên trong hạt sinh khối phụ thuộc vào  
thời gian và bán kính t(r, t). Qua đó, xác định được kích cỡ hạt sinh  
khối phù hợp cho quá trình nhiệt phân nhanh và khảo sát sự phụ thuộc  
thời gian nhiệt phân nhanh vào hệ số trao đổi nhiệt phức hợp a.  
2.1. Xác định trường nhiệt độ t(r, t) trong hạt sinh khối khi nhiệt  
phân nhanh  
2.1.1. Phát biểu bài toán xác định t(r, t)  
Khảo sát một hạt sinh khối  
được xem như là hình cầu đồng  
chất với bán kính tương đương  
R=3V/Fs, trong đó V là thể tích và  
Fs là diện tích toàn phần của hạt.  
Các thông số vật lý được giả thiết  
là phân bố đều trong thể tích V và  
không đổi trong thời gian khảo sát,  
gồm: nhiệt dung riêng Cp, hệ số  
dẫn nhiệt l, khối lượng riêng r và  
hệ số khuếch tán nhiệt a. Nhiệt độ  
ban đầu của hạt là t0 (°C), thực hiện  
quá trình nhiệt phân nhanh trong  
môi trường khí nitơ có nhiệt độ tf  
t
l/a  
tf, t=λ  
t(r, t)  
t0, t=Ͳ  
0
r
R
r
V, Fs, ρ, Cp, l, a  
v N2, tf a  
Hình 2.1: Mô hình bài toán t(r,t)  
> t0 và hệ số trao đổi nhiệt phức hợp α (W/m2.K). Xác định hàm nhiệt  
độ t = f(r, t, R, r, Cp, l, t0, tf, α).  
2.1.2. Mô tả toán học  
Từ các phát biểu vật lý và mô hình hình học của bài toán mô tả  
sự phụ thuộc t(r, t) trên hình 2.1, trường nhiệt độ t(r, t) được mô tả  
9
bởi hệ phương trình như sau:  
2
æ
ç
ö
÷
ø
t  
l
t 2 t  
=
+
,"rÎ(0,R),"t > 0  
¶t rCp r2 r r  
è
t(r, t = 0) = t0 (điều kiện ban đầu)  
(
t
)  
t(r, t) = t(-r, t) (điều kiện đối xứng qua tâm)  
t  
r  
-l (r = R, t) = α[t(R, t) - tf] (điều kiện biên loại 3 tại r = R)  
2.1.3. Xác định phương trình mô tả trường nhiệt độ t(r, t)  
Giải hệ phương trình (t) bằng cách đổi sang các biến không thứ  
nguyên, sử dụng phương pháp tách biến Fourier kết hợp với các điều  
kiện biên nêu trong (t) ta tìm được phương trình mô tả trường nhiệt độ  
t(r, t) "r Î (0, R), "t > 0 khi nhiệt phân hạt sinh khối là:  
r
æ
è
ö
sin ni  
ç
÷
ø
3
at  
R
æ
è
ö
exp -ni2  
(2.10)  
t(r,t) = t -(t - t ) c  
å
f
f
0
i
ç
÷
ø
R2  
r
i=1  
ni  
R
Trong đó: ni là nghiệm của phương trình tgn = n/(1-Bi), Bi = aR/l  
ci = 2(sinni - nicosni)/(ni - sinnicosni)  
2.1.4. Xác định thời gian nhiệt phân sinh khối bán kính R  
Trong thực tế, quá trình nhiệt phân  
nhanh còn lượng nhỏ sinh khối chưa kịp  
tham gia phản ứng (mkpu) bay ra khỏi lò  
và được thu hồi cùng với hàm lượng cốc.  
Giả thiết lượng sinh khối này tập trung  
vào tâm hạt sinh khối có bán kính rp tương  
ứng với khối lượng là mkpu (hình 2.4).  
Từ kết qủa nghiên cứu của De Wild  
t
tf  
t
rp  
r
R
PJ (2011) [29] cho thấy hạt sinh khối  
nhiệt phân đến bán kính rp khi nhiệt độ tại  
rp đạt giá trị là tp, với tp là giá trị nhiệt độ  
Hình 2.4: Mô hình  
nhiệt phân sinh khối  
bắt đầu nhiệt phân của mỗi loại sinh khối và được xác định bằng thiết  
bị phân tích nhiệt khối lượng TGA. Lúc đó thay r = rp vào phương  
trình (2.10), ta được:  
(2.11)  
10  
Với y = mkpu/ms0  
Giải phương trình (2.11) bằng phương pháp gần đúng Newton tìm  
được nghiệm thời gian thực hiện phản ứng nhiệt phân tp.  
2.2. Kết quả mô phỏng trường nhiệt độ và xác định kích cỡ hạt  
phù hợp cho quá trình nhiệt phân nhanh bột gỗ và bã mía  
2.2.1. Mô phỏng trường nhiệt độ khi nhiệt phân nhanh bột gỗ  
Sử dụng phương trình (2.10) với các thông số vật lý của bột gỗ,  
và khí nitơ ta mô phỏng được trường nhiệt độ của bột gỗ (hình 2.5).  
350  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
400  
350  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
500  
400  
300  
200  
100  
0
450  
400  
300  
200  
100  
0
0,5  
0,4  
1
0,4  
1
0,8  
0,8  
0,3  
0,3  
0,6  
0,6  
0,2  
0,4  
0,4  
0,2  
0,2  
0,2  
0,1  
0,1  
0
0
b)  
a)  
a
c
400  
350  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
350  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
500  
400  
300  
200  
100  
450  
400  
300  
200  
100  
0
1
1
0,8  
0,8  
2
2
0,6  
1,5  
0,6  
1,5  
0,4  
1
0,4  
1
0,2  
0,5  
0,2  
0,5  
0
0
d)  
c)  
0
0
Hình 2.5: Trường nhiệt độ t(r,t) của gỗ  
a) R = 0,5 mm và tf = 450 oC; b) R = 0,5 mm và tf = 500 oC;  
c) R = 1 mm và tf = 450 oC; d) R = 1 mm và tf = 500 oC.  
Nhận xét:  
- Tốc độ tăng nhiệt độ của bề mặt vỏ hạt sinh khối nhỏ hơn tốc  
độ tăng nhiệt độ lò phản ứng. Kết quả này được ứng dụng trong quá  
trình vận hành điều khiển khoảng gia tăng nhiệt độ lò phản ứng tương  
ứng với khoảng gia tăng nhiệt độ bề mặt hạt sinh khối mong muốn.  
- Kết hợp với kết quả phân tích xác định giá trị nhiệt độ bắt đầu  
thực hiện nhiệt phân trên thiết bị TGA cho thấy thời gian bắt đầu thực  
11  
hiện quá trình nhiệt phân phụ thuộc vào kích cỡ hạt sinh khối và nhiệt  
độ lò phản ứng.  
- Ngoài ra, so sánh kết quả mô phỏng trường nhiệt độ bằng  
phương pháp giải tích và phương pháp số của K. Papadikis [54] khi  
cùng các điều kiện mô phỏng cho thấy sai số giữa hai phương pháp từ  
3,8 đến 7,1 %. Kết quả này là cơ sở cho việc đánh giá mức độ chính  
xác khi sử dụng phương trình trường nhiệt độ t(r, t) (2.10) để phân  
tích quá trình nhiệt phân nhanh sinh khối.  
Tương tự ta cũng mô phỏng được trường nhiệt độ của bã mía.  
2.2.2. Xác định kích cỡ hạt sinh khối phù hợp cho nhiệt phân nhanh  
Giá trị nhiệt độ bắt đầu thực hiện quá trình nhiệt phân tp của gỗ  
và bã mía được xác định bằng kết quả phân tích nhiệt khối lượng TGA  
trên thiết bị Perkin Elmer STA6000. Kết quả phân tích cho thấy tp của  
gỗ là 290 °C, của bã mía là 245 °C.  
Từ công thức (2.11), sử dụng phương pháp xác định nghiệm theo  
phương pháp Newton ta tính được thời gian nhiệt phân cho các hạt gỗ  
và bã mía theo các giá trị R khác nhau, kết quả thể hiện trên hình 2.9.  
Bột gỗ  
Bã mía  
2,2  
1,8  
1,4  
1
3,5  
3
2,5  
2
1,5  
1
0,6  
0,2  
0,5  
0
0,3  
0,4  
0,5  
0,6  
0,7  
0,8  
0,9  
1
0,2 0,4 0,6  
0,8  
1
1,2  
1,4  
1,6  
1,9  
2
Bán kính, mm  
Bán kính, mm  
Hình 2.9: Mối quan hệ giữa bán kính và thời gian nhiệt phân nhanh  
Nhận xét:  
- Từ đồ thị trên hình 2.9 ta chọn được bán kính hạt sinh khối theo  
thời gian nhiệt phân nhanh.  
- Từ hình 2.9 ta lựa chọn bán kính phù hợp cho quá trình nhiệt  
phân nhanh bột gỗ là nhỏ hơn 0,95 mm; bã mía là nhỏ hơn 1,6 mm.  
12  
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu thực nghiệm của  
Zhongyang Luo [104], K. Papadikis [54] và Binh M.Q. Phan [9].  
2.2.3. Khảo sát ảnh hưởng hệ số trao đổi nhiệt phức hợp a trong  
lớp sôi đến thời gian phản ứng nhiệt phân nhanh  
Sử dụng phương trình 2.11 ta khảo sát được hệ số tỏa nhiệt phức  
hợp a trong lớp sôi ảnh hưởng đến thời gian nhiệt phân, kết quả thể  
hiện trên hình 2.11.  
R = 0,5 mm  
t = 475 °C  
f
R = 1 mm  
t = 450 °C  
f
t = 500 °C  
f
tf = 450 °C  
tf = 475 °C  
tf = 500 °C  
1.10  
0.95  
0.80  
0.65  
0.50  
3.00  
2.60  
2.20  
1.80  
1.40  
200 220 240 260 280 300 320 340 360 380 400 420  
200 220 240 260 280 300 320 340 360 380 400 42
Hệ số a, W/m2°C  
Hệ số a, W/m2°C  
Hình 2.11: Thời gian nhiệt phân nhanh phụ thuộc vào hệ số a  
Từ kết quả mô phỏng cho thấy thời gian quá trình nhiệt phân  
nhanh phụ thuộc vào hệ số trao đổi nhiệt phức hợp a. Khi nhiệt độ  
phản ứng từ 450 đến 500 °C, hạt gỗ có bán kính 0,5 mm thì thời gian  
nhiệt phân đều nhỏ hơn 2 s, tức là đều thực hiện được phản ứng nhiệt  
phân nhanh. Nếu tăng kích cỡ hạt thì phải tăng giá trị hệ số a.  
Ngoài ra, kết quả khảo sát còn cho thấy ở điều kiện nhiệt độ từ  
450 đến 500 °C, khi hệ số a càng lớn thì thời gian nhiệt phân nhanh  
có xu hướng gần bằng nhau.  
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM NHIỆT  
PHÂN NHANH SINH KHỐI TRONG LÒ TẦNG SÔI SẢN  
XUẤT NHIÊN LIỆU SINH HỌC  
Chương này trình bày kết quả mô phỏng khí động lực học nhằm  
xác định lưu lượng khí nitơ cấp, trở lực lớp sôi và vị trí cấp liệu cho lò  
tầng sôi. Đồng thời thiết lập được các bước tính toán thiết kế các thiết  
bị trong hệ thống nhiệt phân nhanh trong lò tầng sôi và áp dụng để xây  
dựng mô hình thí nghiệm có năng suất nguyên liệu cấp là 500 g/h.  
13  
3.1. Mô hình thực nghiệm  
5
3
2
4
1
6
1
1
Hình 3.1: Sơ đồ nguyên lý hệ thống nhiệt phân nhanh sinh khối trong  
lò tầng sôi sản suất dầu sinh học  
1: Bộ gia nhiệt; 2: Vít tải liệu; 3: Bình chứa liệu;  
4: Lò phản ứng; 5: Cyclone, 6: Bình ngưng.  
Từ nguyên lý làm việc của hệ thống cho  
thấy để xây dựng được mô hình thực nghiệm  
cần phải xác định các thông số khí động lực  
học của khí nitơ cấp cho lò phản ứng để tạo  
được lớp sôi, tính toán thiết kế lò phản ứng  
đảm bảo điều kiện thời gian lưu các sản phẩm  
trong lò phải nhỏ hơn 2s, tính toán công suất  
nhiệt và tính toán thiết kế các thiết bị như  
cyclone, bình ngưng phù hợp cho các sản  
phẩm của quá trình nhiệt phân nhanh.  
Sinh kh
ố
i  
3.2. Mô phỏng khí động lực học  
- Mô tả mô hình: Mô hình lò tầng sôi nhiệt  
phân nhanh bột gỗ thể hiện trên hình 3.3.  
N2  
- Thiết lập mô hình mô phỏng: Trong nghiên  
cứu này, sử dụng phần mềm Ansa để chia lưới  
và phần mềm Ansys Fluent 14 thực hiện mô  
Hình 3.3: Lò nhi
ệ
t phân  
1. Ống phun, 2. Cấp liệu,  
3. Thân lò, 4. Sản phẩm.  
14  
phỏng. Mô hình toán khí động lực học trong lò được tích hợp trong  
phần mềm này.  
3.3. Kết quả mô phỏng và bình luận  
3.3.1. Mô phỏng xác định vận tốc tạo lớp sôi và trở lực lớp sôi  
ws= 0,1 m/s  
ws = 0,2 m/s  
7000  
7000  
6000  
6000  
5000  
5000  
4000  
4000  
3000  
3000  
2000  
2000  
1000  
1000  
0
0
0
50  
100  
150  
200  
250  
300  
0
50  
100  
150  
200  
250  
300  
Thời gian, s  
Thời gian, s  
ws = 0,3 m/s  
ws = 0,4 m/s  
7000  
7000  
6000  
6000  
5000  
5000  
4000  
4000  
3000  
3000  
2000  
2000  
1000  
1000  
0
0
0
50  
100  
150  
200  
250  
300  
0
50  
100  
150  
200  
250  
300  
Thời gian, s  
Thời gian, s  
Hình 3.6: Trở lực lớp sôi phụ thuộc vào vận tốc khí  
Để duy trì trạng thái lớp sôi trong lò thì vận tốc dòng khí ωsmin<ωs  
<ωsmax, khi đó trở lực lớp sôi đồng thời lớn nhất và ổn định nhất [5],  
[76]. Kết hợp với kết quả mô phỏng (hình 3.6) cho thấy để duy trì lớp  
sôi trong lò nhiệt phân, vận tốc khí nitơ cấp vào lò có giá trị khoảng  
ωs = 0,3 m/s tương ứng với trở lực lớp sôi từ 1.900 đến 2.200 Pa.  
3.3.2. Mô phỏng xác định vị trí cấp sinh khối vào lò tầng sôi  
Kết quả mô phỏng mật độ thể tích hạt cát và hạt gỗ thể hiện trên  
hình 3.7 và 3.8. Theo đó cho thấy mật độ thể tích hạt cát lớn nhất từ  
40 đến 60 % tại vùng cách đáy lò từ 70 đến 95 mm. Trên hình 3.8, tại  
vùng cách đáy lò từ 70 đến 95 mm mật độ thể tích bột gỗ từ 20 đến  
30%, đây cũng là vùng có mật độ bột gỗ lớn nhất. Như vậy, kết hợp  
kết quả mô phỏng này với kết quả nghiên cứu của Y. C. Yan [98] ta  
chọn vùng cấp nguyên liệu sinh khối vào lò nhiệt phân cách đáy lò từ  
70 đến 95 mm. Nguyên liệu cấp vào lò bằng vít tải, nên để hiệu quả  
thu hồi dầu sinh học cao nhất thì khoảng cách đường trục của vít tải  
đến đáy là 82 mm.  
15  
0,75s  
1,25s  
1,75s  
t =0,25s  
0,5s  
1s
1,5s
2s
2,25s 2,5s  
Hình 3.7: Mật độ thể tích hạt cát trong lò nhiệt phân  
t = 0,25 s 0,5 s  
0,75 s  
1 s  
1,25 s  
1,5 s  
1,75 s  
2 s  
2,25 s  
2,5 s  
Hình 3.8: Mật độ thể tích hạt gỗ trong lò nhiệt phân  
3.4. Các bước tính toán thiết kế hệ thống thiết bị nhiệt phân nhanh  
sinh khối trong lò tầng sôi sản xuất dầu sinh học  
3.4.1. Xác định nhiệt lượng cung cấp cho quá trình nhiệt phân  
- Xác định nhiệt lượng cung cấp cho quá trình nhiệt phân:  
Qnp = Qs + Qr + Qtt,W  
(3.1)  
(3.2)  
Trong đó: Qs = Ggỗ.Cpgỗ.(tp1 – tp0), W  
Qr: Nhiệt lượng cung cấp cho phản ứng nhiệt phân và xác định  
theo công thức thực nghiệm [58]: Qr = Ggỗ(553 – 3142zcốc), W (3.3)  
Ggỗ: Lượng gỗ nhiệt phân được tính theo đơn vị kg/s.  
zcốc = mc/ms0  
16  
Qtt: Nhiệt lượng tổn thất ra môi trường.  
- Xác định lưu lượng khí nitơ cấp cho quá trình nhiệt phân nhanh:  
Dòng khí nitơ có nhiệt độ t1 = 525 °C dẫn vào lò phản ứng cung  
cấp nhiệt QN2 cho quá trình nhiệt phân nhanh, nhiệt độ hỗn hợp khí ra  
khỏi lò giảm xuống đến t2 = 420 °C. Do đó ta có phương trình cân  
bằng nhiệt: Qnp = QN2, từ đây ta tính được lượng khí nitơ VN2 cung cấp  
cho quá trình nhiệt phân.  
3.4.2. Tính thiết kế lò phản ứng  
Từ mô hình lò tầng sôi nhiệt phân nhanh sinh khối mô tả trên hình  
3.3, các thông số chính để thiết kế lò phản ứng là:  
F = 4VN2 / wsp  
- Đường kính lò phản ứng:  
(3.8)  
- Chiều cao phần phản ứng trong lò được xác định: hfu = ωs.t  
- Chiều cao của lò phản ứng: hlò = hcát + hfu  
Trong đó: hcát là chiều cao lớp cát tĩnh.  
(3.9)  
(3.10)  
Ngoài ra, luận án này cũng thiết lập được các bước tính toán thiết  
kế các thiết bị cyclone, bình ngưng tụ phù hợp với quá trình nhiệt phân  
nhanh trong lò tầng sôi.  
3.5. Tính toán thiết kế hệ thống thiết bị nhiệt phân nhanh sinh  
khối sản xuất dầu sinh học năng suất 500 g/h  
Áp dụng các bước tính toán thiết kế hệ thống nhiệt phân nhanh  
sinh khối trong lò tầng sôi trong mục 3.4 ta thiết kế được các thiết bị  
cho hệ thống có năng suất nguyên liệu bột gỗ cấp là 500 g/h.  
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM NHIỆT PHÂN  
NHANH SINH KHỐI SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU SINH HỌC  
Trong chương này tác giả thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm  
nhằm đánh giá các yếu tố vận hành ảnh hưởng đến hiệu quả thu hồi  
dầu sinh học. Qua đó xác định được khoảng giá trị các thông số vận  
hành thích hợp để khối lượng dầu sinh học thu hồi đạt được giá trị lớn  
nhất. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn đánh giá được tính chất vật lý,  
thành phần hóa học của sinh khối, dầu sinh học và khả năng ứng dụng  
dầu sinh học được tạo ra từ bột gỗ và bã mía ở Việt Nam.  
17  
4.1. Nguyên liệu và các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm  
4.1.1. Nguyên liệu sinh khối sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm  
Sinh khối được sử dụng nghiên cứu thực nghiệm là các phế phẩm  
phổ biến tại địa phương. Đó là bột gỗ từ cây cao su giống PB260 trồng  
tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam và bã mía từ giống mía QĐ93-  
159 trồng tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.  
4.1.2. Xác định thành phần hóa học và nguyên tố của sinh khối  
- Thành phần hóa học hemicellulose, cellulose, lignin trong sinh  
khối được xác định theo phương pháp Van Soest [42].  
- Thành phần nguyên tố trong sinh khối được xác định theo các  
tiêu chuẩn ASTM D5373-08, AOAC 993.13 (2012), TCVN 175:1995.  
4.1.3. Phương pháp phân tích nhiệt khối lượng TGA  
Việc xác định giá trị nhiệt độ bắt đầu thực hiện nhiệt phân của  
mỗi loại sinh khối được dựa trên kết quả phân tích mức độ phân hủy  
khối lượng TGA từ thiết bị Perkin Elmer STA6000.  
4.1.4. Phương pháp xác định thành phần và tính chất của các sản  
phẩm từ quá trình nhiệt phân  
Các thành phần nguyên tố và tính chất của dầu sinh học được  
phân tích theo tiêu chuẩn ASTM D4809, ASTM D445, ASTM 4815.  
Các cấu tử có trong dầu sinh học được thực hiện trên máy sắc ký  
khí phối phổ GCMS ISQ – GC Trace 1300. Ngoài ra, luận án còn sử  
dụng máy GA 2000 Plus để phân tích thành phần khí CO2, O2; máy  
Rasi 900-1 để phân tích các khí hydro cacbon có trong sản phẩm khí.  
4.2. Kết quả xác định đặc điểm của sinh khối  
4.2.1. Kết quả xác định thành phần hóa học và nguyên tố sinh khối  
Bảng 4.5: Thành phần hóa học và nguyên tố của sinh khối  
Loại  
sinh  
Thành phần hóa học  
Hemice- Cell- Ligin  
llulose ulose  
Thành phần nguyên tố  
C
H
N
O
S
Tro  
khối  
Bột gỗ  
Bã mía  
20,5  
41,5  
27  
47,5 6,8 0,1 44,8 0,1 0,6  
24,44  
44,5 18,6 45,1 6,2 0,46 41,5  
-
2
18  
Sử dụng các phương pháp phân tích nêu ở mục 4.1 xác định được  
thành phần hóa học và nguyên tố của sinh khối thể hiện trên bảng 4.5.  
4.2.2. Kết quả phân tích nhiệt khối lượng TGA bột gỗ và bã mía  
Đặc điểm quá trình nhiệt phân phụ thuộc vào nhiệt độ của bột gỗ  
và bã mía thể hiện trên hình 4.1.  
a)  
b)  
Hình 4.1: Độ chuyển hóa và vi phân độ chuyển hóa của sinh khối  
a): Bột gỗ, b) bã mía  
Kết quả phân tích cho thấy quá trình nhiệt phân được chia thành  
ba giai đoạn. Giai đoạn 1 là quá trình thoát toàn bộ lượng ẩm tự do và  
ẩm liên kết có trong vật liệu. Giai đoạn 2 là quá trình phân hủy các  
thành phần hemicellulose và cellulose [29]. Giai đoạn 3 là quá trình  
phân hủy lignin và các thành phần vô cơ có trong sinh khối [83], [100].  
4.3. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm một số yếu tố vận hành chính  
ảnh hưởng đến hiệu quả thu hồi sản phẩm nhiệt phân nhanh  
4.3.1. Ảnh hưởng nhiệt độ phản ứng đến khối lượng các sản phẩm  
Khí  
Khí  
Dầu  
Rắn  
Dầu  
Rắn  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
425  
450  
475  
Nhiệt độ, oC  
500  
525  
550  
425  
450  
475  
Nhiệt độ, oC  
500  
525  
55
b)  
a)  
Hình 4.4: Lượng sản phẩm nhiệt phân nhanh phụ thuộc vào nhiệt độ  
a) Bột gỗ, b) Bã mía  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 28 trang yennguyen 17860 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu quá trình nhiệt phân biomass sản xuất nhiên liệu sinh học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_qua_trinh_nhiet_phan_biomass_san.pdf